1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tìm hiểu về công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

18 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 26,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOATRUNG TÂM TÊN ĐỀ TÀI Tìm hiểu về Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Luật Thương mại quốc tế Mở đầu 1 Lý do chọn đề tài Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong việc nỗ lực hướng tới thống nhất nguồn luật áp dụng chung cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước này đã trở thành công ước đ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA/TRUNG TÂM………

TÊN ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Luật Thương mại quốc tế

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong việc nỗ lực hướng tới thống nhất nguồn luật áp dụng chung cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước này đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế đối với các quốc gia thành viên Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn

Trang 2

chủ đề: "Tìm hiểu về Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế" làm đề tài kết thúc học phần

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích làm rõ những nội dung của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Công ước Viên 1980 về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế được soạn thảo bởi Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) và những tài liệu khác có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác —Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bài tập lớn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài, những phương pháp khoa học như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

5 Kết cấu của bài tập lớn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài tập lớn gồm 3 phần:

Phần 1: Công ước Viên 1980 và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Phần 2: Nội dung của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và những khác biệt với Luật Thương mại của Việt Nam

Trang 3

Nội dung.

Phần 1 Công ước Viên 1980 và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

1 Công ước Viên 1980

1.1 Định nghĩa

Công ước viên Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế là một hiệp ước hay bản hợp đồng

có tính chất ràng buộc giữa các quốc gia Công ước thiết lập những quy tắc điều chỉnh những mặt cụ thể trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại giữa người bán và người mua

mà trụ sở thương mại của họ ở các nước khác nhau Bằng việc thừa nhận công ước, một nước sẽ cam kết với các nước khác cũng thừa nhận công ước này việc thừa nhận các quy tắc của Công ước như một phần của pháp luật nước đó

1.2 Mục đích

Mục đích của CISG là tạo điều kiện thuận lợi và hiệu quả cho việc mua bán nguyên liệu thô, các mặt hàng tiêu dung, mặt hàng chế tạo trong thương mại quốc tế Nếu không có Công ước sẽ có nguy cơ dẫn đến các tranh chấp Luật mua bán hàng hóa ở các nước khác nhau thì thường là khác nhau Trong giao dịch quốc tế, thường xảy ra vấn đề luật nước nào sẽ phải điều chỉnh Khi vướng mắc này xảy ra, các bên sẽ không chắc chắn về quyền và nghĩa vụ của mình Sự không chắc chắn này tạo nên sự không hiệu quả và ý chí không tốt CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quá trình tạo lập và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và cung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục của các bên trong giao dịch CISG không hạn chế sự tự do của người bán và người mua trong việc soạn thảo hợp đồng cho phù hợp với điều kiện của họ Nhìn chung, các chủ thể được tự do sửa đổi các quy tắc của Công ước hoặc chấp nhận có áp dụng Công ước hay không

1.3 Sơ lược về lịch sử Công ước Viên 1980

Trong nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20, Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Haye năm

Trang 4

1964: một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình”, Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình” Công ước thứ nhất điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng) Công ước thứ hai đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi một/các bên vi phạm hợp đồng Tuy nhiêm, Công ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng

Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc về một khuôn khổ mới với “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế chính trị khác nhau”, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964 Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye, song Công ước Viên 1980 có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm

1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 (khi

có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước)

2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

2.1 Định nghĩa

Là các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiên nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay nói chính xác hơn là chưa

có một cách xác định thống nhất tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà chỉ nêu lên một số khái niệm hay một số cách xác định yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này Định nghĩa cô đọng nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là: “hợp đồng được kí kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.”

Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ sẽ gặp khó khăn trong trường hợp khi các bên có nhiều trụ sở thương mại Trong trường hợp này, giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra là hoàn toàn phù hợp, Điều 10 của Công ước quy định: nếu một bên có nhiều hơn một địa điểm kinh doanh thì sẽ

Trang 5

chọn điểm kinh doanh nào có liên hệ gần nhất với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng, có quan tâm đến những tình huống mà hai bên đã biết hoặc đã nghĩ đến tại thời điểm trước hay ngay khi kí hợp đồng Nếu một đương sự không có địa điểm kinh doanh thì chọn nơi thường trú của người này làm chuẩn

Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế trong đó có Việt Nam chúng ta đã tham gia công ước Viên từ năm 2017, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ của các bên kí kết hợp đồng

2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận có ý chí giữa các bên giao kết Đây là đặc trưng rất cơ bản của một hợp đồng nói chung

- Chủ thể của hợp đồng là bên bán và bên mua là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú của họ

- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá phải qua biên giới quốc gia (biên giới hải quan) hay giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau; hoặc hàng hoá không phải qua biên giới nhưng hàng được các tổ chức quốc tế dùng ở lãnh thổ Việt Nam

- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu của hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau

- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanh toán thông qua hệ thông ngân hàng

- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp Không chỉ còn luật quốc gia mà còn bao gồm các điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài và các tập quán thương mại quốc tế

Trang 6

- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án, hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể

Trang 7

Phần 2 Nội dung của Công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và

những khác biệt với Luật Thương mại của Việt Nam

1 Nội dung của công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

1.1 Cấu trúc của Công ước

Công ước Viên 1980 được trình bày gồm 101 điều, chia làm 4 phần với các nội dung chính sau đây:

Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13): quy định các trường hợp Công ước Viên được áp dụng, các nguyên tắc trong việc áp dụng Công ước Viên, nhấn mạnh đến giá trị của các tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế

Phần 2: Xác lập hợp đồng (Điều 14 - 24): quy định các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88): quy định các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 - 101): quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước Viên, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước Viên có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước Viên 1.2 Phạm vi áp dụng của Công ước

Công ước Viên được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau Căn cứ Điều 1, Công ước Viên chỉ coi trọng nơi đặt trụ sở thương mại chứ không chú ý tới quốc tịch của các bên tham gia hợp đồng Công ước được áp dụng khi các bên tham gia hợp đồng có trụ sở ở các quốc gia là thành viên của Công ước Công ước cũng được áp dụng nếu chỉ có một bền có trụ sở tại nước phê chuẩn Công ước, nhưng quy định xung đột về luật điều chỉnh đã dẫn tới việc áp dụng luật của nước này ví dụ như khi các bên thoả thuận áp dụng luật của nước bên bán, mà nước bên bán là thành viên của Công ước; hoặc

Trang 8

trường hợp các bên thoả thuận áp dụng luật của nước thứ ba, mà nước này là thành viên của Công ước Ngoài ra, Công ước cũng có thể được áp dụng khi hai bên không có trụ sở thương mại tại nước thành viên Công ước nhưng lại thoả thuận áp dụng Công ước Trường hợp này, Công ước cũng cho phép các bên có thể thoả thuận không áp dụng hoặc không áp dụng hoàn toàn một điều khoản nào đó của Công ước trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng

1.3 Về xác lập hợp đồng trong Công ước

Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14 - 24) Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước Viên đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Tại điều 14 của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các "lời mời chào hàng”

+ Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều bên xác định được xem là một chào hàng nếu nó đầy đủ và thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của người đề nghị trong trường hợp chào hàng được chấp nhận Một đề nghị được coi là đầy đủ nếu có nêu rõ hàng hóa và - ngằm định hoặc rõ ràng - xác định hoặc quy định cách thức xác định giá cả và số lượng hàng hóa của hợp đồng

+ Một đề nghị không gửi tới một hoặc nhiều bên xác định thì chỉ được xem là lời mời chào hàng trừ trường hợp bên đưa ra đẻ nghị đó tuyên bồ rõ ràng sẽ chịu rang buộc trách nhiệm

Chào hàng thể hiện các yếu tố cơ bản cần thiết để các bên dựa vào đó thực hiện các nghĩa vụ của mình và qua đó đáp ứng quyền của bên kia Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà yêu cầu

về điều kiện cơ bản của hợp đồng có thể khác nhau Với hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 14 quy định nội dung chào hàng phải thể hiện tối thiểu ba điều kiện Đó là: hàng hóa mua bán, số lượng và giá cả Về giá cả, có thể là giá cả cụ thể hoặc phương thức xác định giá cả, được nêu ra

rõ ràng hoặc ngầm định trong chào hàng

- Các vấn đề hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng được quy định tại các điều 15,

16 và 17: Hiệu lực chào hàng chỉ phát sinh khi chào hàng tới nơi người được chào hàng (khoản 1

Trang 9

Điều 15) Chào hàng cũng có thể bị huỷ nếu thông báo của người chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi đến tới nơi người được chào trước hoặc cùng lúc với chào hàng (khoản 2 Điều 15 ) Một chào hàng có thể bị thu hồi nếu như thông báo về việc thu hồi đó tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chào hàng, tuy nhiên chào hàng cũng không thể bị thu hồi khi nếu nó chỉ rõ bằng cách ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay bằng cách khác rằng nó không thể bị thu hồi hoặc nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng là không thể bị thu hồi và đã hành động theo chiều hướng đó (Điều 16); Một chào hàng sẽ mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều 17)

- Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, Công ước Viên 1980 thừa nhận quy tắc Chào hàng - Chấp nhận chào hàng: Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ

sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác thì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận (Điều 18) Khoản 1 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng

"Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá"

Tuy nhiên, khoản 2 điều 19 của CISG lại là ngoại lệ của quy tắc “hình ảnh trong gương ” và làm dịu bớt “sự khe khắt” của quy tắc này, theo đó, yêu cầu một sự chấp nhận toàn bộ của khoản 1 điều 19 Theo quy định tại khoản 2 điều 19 Công ước Viên thì không phải mọi sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đều được coi là sửa đổi hoặc bổ sung chào hàng Tuy nhiên, những sửa đổi hoặc bổ sung “không làm biến đổi một cách cơ bản nội dụng chào hàng ” và người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện sự phản đối “ngay lập tức ” với những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì hợp đồng xem như được giao kết 1.4 Về mua bán hàng hoá

- Những quy định chung (Điều 25 - 29)

Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó: Một sự

vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự

Trang 10

Công ước Viên không đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc thực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng

Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đáng kể cho bên bị

vi phạm Công ước Viên cho rằng thiệt hại đáng kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạm mất đi cái mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng Công ước Viên không giải thích rõ cái mà người này chờ đợi là gì Vì vậy, việc xác định mức độ thiệt hại là đáng kể hay không đáng

kể sẽ do tòa án (hoặc cơ quan có thầm quyền giải quyết tranh chấp) quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể

Tuy nhiên, mặc dù hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm nhưng hành

vi vi phạm hợp đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng nếu bên vi phạm “không thể nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm đó và người ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bán

+ Công ước nêu rõ, bên bán có quyền được thanh toán theo những quy định trong hợp đồng Trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ pháp lý cũng theo quy định của Công ước như sau: Yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó (Điều 62); Có thể chấp nhận cho người mua một thời gian bỏ sung hợp lý đề thực hiện nghĩa vụ của họ (khoản 1 Điều 63); Tuyên bố hủy hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều 64; Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 74 Ngoài ra, bên bán có thể yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán theo quy định Điều 78 của Công ước

+ Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá Công ước Viên quy định

về giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 34 của Công ước Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua đúng thời gian Thời gian này là thời điểm mà các bên đã thoả thuận, nếu không thoả thuận

Ngày đăng: 22/04/2022, 14:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w