Bài kiểm tra điều kiện môn quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo Câu hỏi 1 Nêu các chính sách đối với dân tộc thiểu số và miền núi nước ta theo nghị định 052011NĐ – Cp với vấn đề phát triển bền vững Nêu nội dung chính của các chính sách Câu hỏi 2 Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số và giải pháp khắc phục Câu hỏi 3 Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tín ngưỡng và giải pháp khắc phục Bài làm Câu hỏ.
Trang 1Bài kiểm tra điều kiện môn quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo
Câu hỏi 1: Nêu các chính sách đối với dân tộc thiểu số và miền núi nước ta theo nghị định 05/2011/NĐ – Cp với vấn đề phát triển bền vững Nêu nội dung chính của các chính sách
Câu hỏi 2: Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số và giải pháp khắc phục
Câu hỏi 3: Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tín ngưỡng và giải pháp khắc phục
Bài làm
Câu hỏi 1: Nêu các chính sách đối với dân tộc thiểu số và miền núi nước ta theo nghị định 05/2011/NĐ – CP với vấn đề phát triển bền vững
Một số chính sách đối với dân tộc thiểu số với vấn đề phát triển bền vững:
_ Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2017-2020 Quyết định 2085/QĐ-TTG
Nội dung chính: tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất về đời sống, sản xuất; từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn; góp phần giảm nghèo bền vững, giảm dần chênh lệch trong phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong cả nước Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở vùng DTTS và miền núi từ 3% đến 4% năm Giải quyết đất sản xuất, chuyển đồi nghề cho trên 80% số hộ đồng bào DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn thiếu đất sản xuất; cơ bản giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho hộ DTTS nghèo và hộ nghèo sống phân tán ở vùng đặc biệt khó khăn Hoàn thành các dự án định cạnh định cư tập trung theo kế hoạch được duyệt để tiếp tục bố trí sắp xếp dân cư nhằm ổn định đời sống, phát triển sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số du canh, du cư còn lại theo Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Tạo điều kiện thuận lợi để hộ DTTS
Trang 2nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất Chính sách này được thực hiện ở vùng DTTS và miền núi
- Nghị quyết số 88/2019/QH14:
Khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu; thực hiện bình đẳng giới
và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ
sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước
_ Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa:
1.Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, trước hết phải dựa trên cơ sở phát huy nội lực của từng hộ gia đình và sự giúp đỡ của cộng đồng, đồng thời
có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước để khai thác nguồn lực tại chỗ về đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong vùng, tạo ra bước chuyển biến mới về sản xuất và đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
2 Nhà nước tạo môi trường pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên đầu tư vốn ngân sách, nguồn vốn thuộc các chương trình, dự án trên địa bàn và nguồn vốn viện trợ của các nước, các tổ chức quốc tế đầu tư cho vùng các xã đặc biệt khó khăn
Trang 33 Việc thực hiện chương trình phải có giải pháp toàn diện, trước hết là tập trung phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời thúc đẩy phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội trong vùng
4 Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Bộ, ngành có trách nhiệm giúp các xã thuộc phạm vi chương trình; khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân trong cả nước, đồng bào Việt nam ở nước ngoài tích cực đóng góp, ủng hộ thực hiện chương trình
- Quyết định 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016: Duy trì, phát triển và nâng cao vị thế của các dân tộc thiểu số rất ít người; xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào một cách bền vững nhằm giảm dần sự chênh lệch về khoảng cách phát triển với các dân tộc khác trong vùng; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các thôn, bản nơi sinh sống tập trung của đồng bào dân tộc rất ít người; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Câu hỏi 2: Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số và giải pháp khắc phục
Một số thành tựu trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số:
- Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, thực hiện các điều luật của Hiến pháp, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc
- Đến nay, cộng đồng các dân tộc thiểu số nước ta đã bình đẳng về chính trị Số lượng đại biểu là dân tộc thiểu số trong các khóa Quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng dân số cả nước
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc đã được cải thiện rõ rệt 98,6% số xã có đường ô
tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã, có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện lưới quốc gia
- Trong lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm, tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số có việc làm cao
Trang 4- Tất cả người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế, được khám chữa bệnh miễn phí Một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc và miền núi được ngăn chặn
và đẩy lùi
- Các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số như: “Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên", "Thánh địa Mỹ Sơn", “Cao nguyên đá Đồng Văn” được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là di sản văn hoá thế giới
Một số hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số
- Chúng ta vẫn chưa có một đạo luật riêng về công tác dân tộc, để cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, các điều luật ghi trong Hiến pháp làm căn cứ pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân tộc, luật hóa các chính sách dân tộc, đầu tư cho vùng dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc Một số điều luật đã ban hành, nhưng thực thi ở vùng dân tộc hiệu quả còn rất thấp, nhất là Luật Hôn nhân và gia đình Cần khẩn trương tiến hành xác định thành phần dân tộc, tên gọi của một số dân tộc, xây dựng Bảng Danh mục thành phần các dân tộc ở nước ta, để thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của đồng bào
- Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc đạt hiệu quả chưa cao Một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc còn thiếu hiểu biết pháp luật, chính sách dân tộc, còn tồn tại nhiều tập quán lạc hậu, luật tục trái với Luật pháp Nhà nước Hoạt động tuyên truyền đối ngoại còn hạn chế, chưa tạo ra những diễn đàn đối thoại, phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch về công tác dân tộc
- Giữa các tỉnh, các địa phương chưa có nhiều hình thức kết nghĩa, giúp nhau phát triển kinh tế -
xã hội, giảm nghèo, tháo gỡ khó khăn Các hoạt động giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc còn ít
- Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số bị thu hẹp không gian sinh tồn, thiếu đất sản xuất, có xu hướng lùi sâu vào vùng sâu, vùng xa
- Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số còn chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới Tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan quản lý nhà nước còn thấp
Trang 5- Công tác dân tộc chưa kết hợp chặt chẽ với công tác tôn giáo, tín ngưỡng Trong thực tế, vấn đề tôn giáo ở các địa phương vùng dân tộc trong thời gian gần đây có nhiều diễn biến phức tạp Nhiều tôn giáo mới phát triển nhanh đã gây ra những mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, cộng đồng, tác động không nhỏ đến đoàn kết dân tộc
Một số giải pháp khắc phục các hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc thiểu số
- Tiếp tục đổi mới hệ thống chính sách dân tộc theo hướng cơ bản, đồng bộ, lâu dài, gắn chính sách phát triển kinh tế - xã hội với giải quyết mối quan hệ dân tộc
- Cần thay đổi quan điểm tiếp cận giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số theo hướng đầu tư phát triển để xóa đói giảm nghèo Từng bước giảm dần chính sách bao cấp, hỗ trợ trực tiếp chuyển sang chính sách đầu tư cho cộng đồng, nâng cao năng lực nội sinh và thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình Để đồng bào có ý thức tự lực tự cường, phấn đấu vươn lên hòa nhập với cộng đồng, xã hội, tạo bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các đối tượng được thụ hưởng
và không được thụ hưởng chính sách
- Trong xây dựng, thực hiện chính sách cần chú ý đến những tác động tích cực, tiêu cực đến quan
hệ dân tộc khi chính sách được ban hành Đặt mục tiêu công bằng, bình đẳng, đảm bảo lợi ích của đồng bào các dân tộc
- Tăng cường các chính sách tuyên truyền, đối thoại, phản bác lại các luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch xuyên tạc các quan điểm của Đảng, chính sách dân tộc của Nhà nước ta
Câu 3: Trình bày những thành tựu, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tín ngưỡng và giải pháp khắc phục
Những thành tựu trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tín ngưỡng:
- Quan hệ giữa chính quyền với tôn giáo ngày càng cởi mở, gắn bó hơn; khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, lãnh đạo của 43 tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống đại dịch COVID-19 và hướng dẫn của các cơ quan chức năng về phòng, chống dịch
Trang 6- Quan hệ quốc tế của các tôn giáo đã góp phần thúc đẩy ngoại giao nhân dân Các tổ chức tôn giáo ở trong nước ngày càng có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tôn giáo ở nước ngoài Quan hệ Việt Nam - Vatican có tiến triển, hai bên đã thống nhất chủ trương nâng cấp quan hệ lên Đặc phái viên thường trú theo lộ trình chặt chẽ, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các thông lệ ngoại giao quốc tế
- Công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối của Đảng và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được đổi mới, đẩy mạnh thông qua Trang thông tin điện tử và Tạp chí Công tác tôn giáo; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự, chương trình tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo; vai trò của các tổ chức tôn giáo tham gia phòng, chống dịch COVID-19
- Chính quyền các cấp đã quan tâm hướng dẫn, giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của Giáo hội, tạo sự đồng thuận trong chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước
Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tín ngưỡng:
- Hệ thống các văn bản pháp luật, pháp quy về tín ngưỡng, tôn giáo chưa đồng bộ, thiếu các quy định và điều khoản thi hành trong việc giải quyết về đất đai liên quan đến tôn giáo; về quản lý hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam; chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng ; thiếu các chính sách cụ thể để đưa vào quản lý các tôn giáo chưa được công nhận về tổ chức hay các tổ chức tín ngưỡng mang màu sắc tôn giáo, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Một bộ luật về tôn giáo, tín ngưỡng đến nay vẫn đang trong giai đoạn dự thảo, xin ý kiến góp ý
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp có nhiều điểm chưa phù hợp với nhiệm
vụ được giao Còn tồn tại nhận thức cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo chỉ là Ban tôn giáo các cấp, dẫn đến việc thực hiện quản lý nhà nước về tôn giáo bị bó hẹp, hạn chế, yếu kém
- Công tác quản lý nhà nước hiện tập trung nhiều vào các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận Việc ngăn chặn, đấu tranh với các tôn giáo không hợp pháp và những hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật còn bị động, tại nhiều thời điểm chưa khôn khéo, kịp thời
Trang 7- Tiến độ giải quyết các thủ tục hành chính về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng liên quan đến nhiều cấp, ngành còn chậm Việc phối hợp các cấp, các ngành xử lý các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo, liên quan đến các hoạt động đối nội, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội còn thiếu đồng bộ
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo còn nhiều hạn chế, giảm dần theo từng cấp; xuống đến cấp cơ sở về cơ bản năng lực chuyên môn chưa bảo đảm Công tác đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo cũng chưa được chú trọng đúng mức
- Thiếu một chiến lược mang tính tổng thể của ngành quản lý nhà nước về tôn giáo từ công tác tổ chức, con người, nguyên tắc xử lý công việc Hoạt động hiện tại vẫn nặng về giải quyết sự vụ, sự việc
Một số giải pháp khắc phục hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo:
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về tôn giáo, tín ngưỡng theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và các văn bản chỉ đạo về công tác tôn giáo, tín ngưỡng của Trung ương
- Nhanh chóng xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần của Hiến pháp 2013 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng
- Làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp, bắt đầu từ cơ sở
- Xây dựng kế hoạch, tạo nguồn tuyển dụng, ưu tiên tuyển dụng cán bộ, công chức cho ngành quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp từ đội ngũ được đào tạo đúng và gần với ngành tôn giáo học; từ cán bộ, công chức đã công tác lâu năm trong các cơ quan dân vận, mặt trận
- Xây dựng và hoàn thiện một chiến lược tổng thể phát triển ngành quản lý nhà nước về tôn giáo trong cơ cấu tổ chức đa ngành, đa lĩnh vực Đổi mới chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo