Microsoft Word CVHon tom tat luan an VN 280222 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ o0o TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên Ngành TÀI CHÍNH–NGÂN HÀNG Mã Ngành 62340201 CAO VĂN HƠN ẢNH HƯỞNG CỦA HẠ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-o0o -
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên Ngành: TÀI CHÍNH–NGÂN HÀNG
Mã Ngành: 62340201
CAO VĂN HƠN
ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cần Thơ, 2022
Trang 2CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: PGS.TS Lê Khương Ninh
Người hướng dẫn phụ:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại: Phòng Bảo vệ Luận án Tiến sĩ (Lầu 2, Nhà Điều hành, Trường Đại học Cần Thơ) Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
Tạp chí trong nước
1 Cao Văn Hơn và Lê Khương Ninh (2019) Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ở đồng bằng Sông Cửu Long Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng Châu Á số
160, trang 44-56
2 Cao Van Hon and Le Khuong Ninh (2020) Impact of credit rationing on capital allocated
to inputs used by rice farmers in the Mekong River Delta, Vietnam Journal of Economics of Development, Vol.22 No.1, pp 47-60
Kỷ yếu hội nghị quốc tế
1 Cao Văn Hơn và Lê Khương Ninh (2019) Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL Hội thảo khoa học tổ chức tại Trường Đại học Cần Thơ, 12/2019
2 Cao Van Hon and Le Khuong Ninh (2020) Geographical distance and access to bank credit of rice farmers in Vietnam” Hội thảo khoa học tổ chức tại Trường Đại học Cần Thơ, 12/2020
Trang 4
Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa trọng điểm của Việt Nam, mỗi năm đóng góp trên 50% tổng sản lượng lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và cung cấp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu (Niên giám thống kê, 2018) Thành tựu đó là kết quả của việc ĐBSCL được bồi đắp bởi một lượng lớn phù sa từ sông Mê-kông khi đổ vào Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu ĐBSCL còn được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu với mưa nắng thuận hòa, giúp tưới tiêu và xả rửa mầm bệnh gây hại trên cây trồng Nhìn chung, ĐBSCL hội tụ đủ các điều kiện tự nhiên để tăng năng suất và sản lượng lúa Song, thực tế cho thấy phần lớn nông hộ nơi đây chỉ tập trung vào khâu sản xuất (bố trí thời vụ, xuống giống, chăm sóc và phòng chống dịch bệnh) mà chưa chú trọng đến việc chuẩn bị đủ vốn để mua yếu tố đầu vào (vật
tư nông nghiệp) và phát triển thị trường đầu ra nhằm đảm bảo giá tốt cho sản phẩm trong khi các thị trường này biến động rất khó lường Vì vậy, nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL phải đối mặt với nhiều thách thức bởi quy mô sản xuất nhỏ và bị động trong khâu tiêu thụ nên thường phải đối mặt với hiện tượng được mùa – mất giá, trong khi liên kết bốn nhà (nhà khoa học, nhà quản
lý, doanh nghiệp và nhà nông) rất yếu Hệ quả là nông hộ trồng lúa vẫn còn nghèo bởi thu nhập thấp và bấp bênh, đặc biệt là khi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu hiện diện ngày một rõ nét Thu nhập thấp nên nông hộ không đủ tiền để mua yếu tố đầu vào theo đúng yêu cầu của sản xuất về số lượng, chất lượng và thời điểm, dẫn đến năng suất và thu nhập của nông hộ thấp Do
đó, nông hộ tìm vay ở các tổ chức tín dụng để bù đắp nhưng thường bị từ chối do rủi ro cao và thiếu tài sản thế chấp Kết quả là, có nhiều người xin vay nhưng một số vay được một phần nhu cầu và một số bị khước từ hoàn toàn, mặc dù sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao hơn Khi đó, xuất hiện hiện tượng hạn chế tín dụng như được phân tích bởi Stiglitz và Weiss (1981) và nhiều nghiên cứu khác sau đó
Do hạn chế tín dụng nên nông hộ không đủ vốn để mua yếu tố đầu vào tối ưu cho sản xuất nhằm đảm bảo năng suất tối đa Khi đó, nông hộ có hai phương án lựa chọn là giảm lượng
sử dụng đối với tất cả yếu tố đầu vào (hiệu ứng quy mô) hay giảm lượng sử dụng đối với các loại yếu tố đầu vào ít quan trọng đối với năng suất lúa (hiệu ứng thay thế) Giảm số lượng yếu
tố đầu vào sẽ không kịp phòng trị bệnh và đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu cho cây lúa nên năng suất thấp Nói cách khác, hiện tượng trên làm cho năng suất sản xuất của nông hộ và chất lượng sản phẩm đều thấp so với trường hợp không bị hạn chế tín dụng như được chứng minh thông qua mô hình kinh tế học ứng dụng trong tài chính – tín dụng (Feder, 1985; Lee và Chambers, 1986; Carter, 1988; Fare và cộng sự, 1990; Carter và Niebe, 1990; Blancard và cộng
sự, 2006; Ciaian và cộng sự, 2012)
Luận điểm trên cho thấy, vốn rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nhưng nông hộ lại bị hạn chế tín dụng do thông tin bất đối xứng và chi phí giao dịch nên ảnh hưởng vấn đề này đến kết quả sản xuất của nông hộ là chủ đề cần được tìm hiểu để làm cơ sở khoa học và thực
Trang 5tiễn cho các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững Tuy nhiên, theo hiểu biết hạn chế của tác giả, chưa có nghiên cứu đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa hạn chế tín dụng với lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở nước ta nói chung và ở ĐBSCL nói riêng Do đó, chủ đề “Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long” được tác giả lựa chọn để thực hiện luận án tiến sĩ của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận án là ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL nhằm đề xuất các hàm ý chính sách giúp giảm hạn chế tín dụng và hợp lý hóa việc phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào và cải thiện năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đáp ứng mục tiêu chung như trên, luận án có các mục tiêu cụ thể như sau:
(i) Đánh giá thực trạng hạn chế tín dụng, thực trạng sử dụng yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL
(ii) Ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL
(iii) Ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL (iv) Đề xuất hàm ý chính sách giúp nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL giảm thiểu hạn chế tín dụng thông qua kết quả nghiên cứu nhằm hợp lý hóa phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào và cải thiện năng suất lúa
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL dưới ảnh hưởng của hạn chế tín dụng bởi các tổ chức tín dụng 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL, gồm các tỉnh/thành An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Vĩnh Long tại hai mốc thời gian là năm 2015 và năm 2018 nhằm kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu mà luận án quan tâm
Trang 61.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1.4.1 Về lý thuyết
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân
bổ cho yếu tố đầu vào và ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ Cơ sở
lý thuyết này được xây dựng chủ yếu dựa trên các nguyên lý của Kinh tế học vi mô và Tài chính
vi mô với trọng tâm ứng dụng vào lĩnh vực tín dụng, đặc biệt là tín dụng nông nghiệp và nông thôn
1.4.2 Về thực tiễn
Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL là cơ sở khoa học có giá trị thực tiễn giúp nhà khoa học và các nhà lập chính sách tham khảo để hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp
và nông thôn bền vững
Ngoài ra, tính phi tuyến trong ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL cũng là một đóng góp mới có giá trị khoa học cao để các nhà khoa học cũng như các nhà lập chính sách sử dụng để hướng dẫn nông
hộ sử dụng lượng đầu vào tối ưu nhằm nâng cao năng suất, thu nhập và bảo vệ môi trường tự nhiên
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 7vi phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa của nông hộ, luận án dựa trên cơ sở các luận điểm được phát triển bởi Debertin (2012) Trước tiên, hãy phân tích một nông hộ trồng lúa muốn tối thiểu hóa chi phí do bị hạn chế tín dụng Hàm sản xuất của nông hộ nói trên có dạng
0 ) , (
0 0
f P N
f P
N
f P M
f P
M
N N N
M M M
N
M N
M
P
f P
f (3.6)
Trong Biểu thức (3.6), do f là năng suất biên của yếu tố đầu vào M M nên f /M PM là năng suất lúa tăng thêm khi đầu tư thêm 1 đơn vị tiền cho yếu tố đầu vàoM Tương tự, f /N PN là năng suất lúa tăng thêm khi đầu tư thêm 1 đơn vị tiền cho yếu tố đầu vào N Rõ ràng, khi
N N
M
f / / thì chi phí sản xuất là tối thiểu tương ứng với sản lượng y0 nên nông hộ sẽ tối ưu hóa sản xuất Nếu thị trường tín dụng nông thôn là hoàn hảo, nguồn vay là không quan trọng đối với nông hộ hay nông hộ có thể vay đủ số tiền cần thiết (Foltz, 2004) Nói cách khác, nông hộ sẽ có đủ vốn để mua lượng yếu tố đầu vào cần thiết để tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận theo biểu thức (3.6) Song, thị trường tín dụng nông thôn không hoàn hảo do thông tin
Trang 8bất đối xứng và chi phí giao dịch nên xuất hiện hiện tượng lựa chọn sai lầm và động cơ lệch lạc dẫn đến hạn chế tín dụng xuất hiện (Stiglitz và Weiss, 1981) Hệ quả là do bị hạn chế tín dụng nên nông hộ không đủ vốn để mua yếu tố đầu vào thỏa biểu thức (3.6) Khi đó, xuất hiện hiệu ứng quy mô, làm ảnh hưởng đến lượng vốn sử dụng nhưng không làm thay đổi tỷ lệ tương đối giữa số lượng các yếu tố đầu vào – hiện tượng mà các nhà kinh tế gọi là hạn chế tín dụng đối xứng Cụ thể, hiệu ứng quy mô tương ứng với trường hợp nông hộ giảm sử dụng đồng thời cả hai yếu tố đầu vào M và N nên chắc chắn sản lượng giảm, gây ra bất lợi trên phương diện thu nhập cho nông hộ
Điều này khiến nông hộ – bằng kinh nghiệm trong sản xuất, thực tế thị trường yếu tố đầu vào (đặc biệt là giá) và năng lực tài chính thực tế của bản thân – sẽ điều chỉnh giảm sử dụng loại yếu tố đầu vào ít quan trọng hơn nhằm tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực của hạn chế tín dụng đến sản lượng biên của cây lúa (đó là, fM hay fN ) và giữ nguyên (hay tăng) yếu tố đầu vào còn lại với kỳ vọng tạo ra ảnh hưởng tích cực đến sản lượng (biên) của cây lúa Hiện tượng này được gọi
là hạn chế tín dụng bất đối xứng Giả sử trong trường hợp này nông hộ chỉ bị hạn chế tín dụng đối với yếu tố đầu vào M trong khi yếu tố đầu vào Nkhông bị hạn chế, nông hộ có thể tăng sử dụng yếu tố đầu vào N để giảm ảnh hưởng tiêu cực của hạn chế tín dụng, nhưng không thể vì không đủ nguồn lực Lúc này, với năng lực và kinh nghiệm của bản thân nông hộ có thể đánh đổi việc sử dụng yếu tố đầu vàoM cho yếu tố đầu vào N , nghĩa là nông hộ muốn tăng sử dụng yếu tố N thì phải giảm sử dụng yếu tốM
Trong cả hai trường hợp, hạn chế tín dụng đối xứng và hạn chế tín dụng bất đối xứng thì lượng yếu tố đầu vào được sử dụng khác biệt so với lượng yếu tố đầu vào tối ưu được mô tả bởi biểu thức (3.6) Như vậy, hạn chế tín dụng là nguyên nhân của việc thiếu vốn khiến nông hộ phải thay đổi cách thức phân bổ vốn sản xuất cho yếu tố đầu vào để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của nó Hơn nữa, theo Briggeman và cộng sự (2009), Ciaian và cộng sự (2012), ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đối với lượng vốn phân bổ cho từng loại yếu tố đầu vào là phi tuyến bởi sản lượng biên của các yếu tố đầu vào là khác biệt đối với từng mức sử dụng Do đó, để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng, bên cạnh việc xác định hiệu ứng can thiệp (treatment effect) sử dụng điểm xu hướng, luận án còn ước lượng hiệu ứng can thiệp đối với từng mức độ hạn chế tín dụng mà nông hộ trồng lúa gặp phải Một trong những mục tiêu của luận án là ước lượng khác biệt này
3.1.4 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông
hộ
Để xây dựng mô hình lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ, luận án dựa trên cơ sở các luận điểm được phát triển bởi Blancard và cộng sự (2006), Ciaian và cộng sự (2012) Để làm điều đó, hãy phân tích một nông hộ với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện bị HCTD Khi đó, hàm sản xuất của nông hộ là y f ( M , N ) với M và
N lần lượt là các yếu tố đầu vào và hàm lợi nhuận của nông hộ sẽ là:
NPMPNM
Trang 9Do bị hạn chế tín dụng, nông hộ chỉ có thể sử dụng lượng tiền C để mua yếu tố đầu vào Trị số C ràng buộc lượng đầu vào nông hộ có thể sử dụng cho sản xuất thông qua bất đẳng thức:
C N P M
Nông hộ tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện bị hạn chế tín dụng cần có biểu thức Lagrange như sau:
)(
),
M
M
P M
f p
N
N
P N
f p
có đủ vốn sản xuất (không bị giới hạn bởi lượng tiền C ) và giá trị năng suất biên của hai yếu tố đầu vào M và N bằng với giá đầu vào chính nó (pfM PM và pfN PN) Kết quả này cho thấy, nếu không bị hạn chế tín dụng, nông hộ sẽ tối đa hóa lợi nhuận theo nguyên tắc phổ biến trong kinh tế học vi mô là doanh thu biên bằng chi phí biên ( MR MC ) Song, do bị hạn chế tín dụng nên nông hộ không đủ vốn để sản xuất đạt mức tối ưu như trên nên năng suất lúa sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực
Nếu nông hộ bị HCTD đối với cả hai yếu tố đầu vào ( 1 , 1và0) thì theo biểu thức (3.10) và (3.11), ta có: pfM PM và pfNPN Nếu hạn chế tín dụng chỉ ảnh hưởng đến yếu tố đầu vào M ( 1 , 0 ) và 0 thì giá trị năng suất biên của M lớn hơn giá chính nó ( pfM PM)
và giá trị năng suất biên của yếu tố đầu vào N bằng với giá chính nó (pfNPN) Tương tự, nếu hạn chế tín dụng chỉ ảnh hưởng đến đầu vào N ( 0 ; 1 ) và 0 thì pfM PMvà pfNPN Như vậy, nếu bị hạn chế tín dụng, giá trị năng suất biên luôn lớn hơn chi phí biên trong mọi trường
Trang 10hợp Khi đó, nông hộ có thể làm tăng năng suất bằng cách tăng chi phí sử dụng đầu vào, nhưng không thể làm như vậy do bị hạn chế tín dụng
Nguồn: Ciaian và cộng sự, 2012 Hình 3.1 Tối ưu hóa của nông hộ bị hạn chế tín dụng
Trên cơ sở lý thuyết vừa trình bày, để dễ hình dung hãy xem Hình 3.1, với trục tung đo lường số lượng yếu tố đầu vào N và trục hoành thể hiện số lượng yếu tố đầu vào M sử dụng trong sản xuất Nếu không bị hạn chế tín dụng ( 0 ),nông hộ có đủ lượng tiền C để thỏa Biểu thức (3.10) và (3.11) Khi đó, sản lượng tối ưu tương ứng với điểm D Tại đây, giá trị năng suất biên tương đối giữa hai yếu tố đầu vào M và N bằng đúng với giá tương đối giữa hai yếu tố đầu vào này:
N
M N
để mua yếu tố đầu vào cho sản xuất Khi đó, lượng tiền C1với ràng buộc ở biểu thức (3.8) làm cho
Trang 11dụng Kết quả là, hạn chế tín dụng bất đối xứng làm thay đổi giá trị năng suất biên tương đối của các yếu tố đầu vào theo giá “mờ” của yếu tố đầu vào chịu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng1 Đường đẳng phí xoay từ EASEAS thành / /
K N
M
p
p p
p
) 1 ( 1
Kết quả là điểm
Bđược hình thành ở mức tín dụng C1, bằng cách di chuyển điểm F tới điểm B
Hạn chế tín dụng đối xứng
Với hạn chế tín dụng đối xứng ( 1 , 1 ), nông hộ bị hạn chế tín dụng đối với cả hai yếu
tố đầu vào Giả sử nông hộ chỉ vay được lượng tiền C2 (C 2 C 1 C) nên đường đẳng phí dịch chuyển từ EE tới ESES Điểm sản xuất tối ưu trong trường hợp này là điểm A (Hình 3.1) là tiếp điểm của đường đẳng phí ESES và đường đẳng lượng III Hạn chế tín dụng đối với hai yếu tố đầu vào không ảnh hưởng đến giá trị năng suất biên tương đối giữa hai yếu tố đầu vào bởi
S j i
S j i
pf
C pf
(
)
(
2 2 2
và sản lượng giảm
Tóm lại, mô hình lý thuyết ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào cho thấy, nông hộ bị hạn chế tín dụng thay đổi cách thức phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào Cụ thể với hiệu ứng quy mô, nông hộ giảm phân bổ vốn cho cả hai yếu tố đầu vào, với hiệu ứng thay thế nông hộ có thể phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào không bị hạn chế tín dụng nhiều hơn và yếu tố bị hạn chế tín dụng được phân bổ vốn ít hơn so với trường hợp không bị hạn chế tín dụng Tương tự, nông hộ bị hạn chế tín dụng có năng suất lúa giảm so với nông hộ không bị hạn chế tín dụng Ngoài ra, khi hạn chế tín dụng càng tăng năng suất sản xuất của nông
hộ càng giảm Trên cơ sở lý thuyết vừa trình bày, mục tiêu của luận án đề ra là ước lượng chênh lệch lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào (giống, phân bón, thuốc BVTV và lao động thuê) và ước lượng chênh lệch sản lượng lúa (năng suất) được thể hiện qua đường đẳng lượng II so với I của hình 3.1 (khi nông hộ bị hạn chế tín dụng so với không bị hạn chế tín dụng) và đường đẳng lượng III so với đường đẳng lượng II của hình 3.1 (khi nông hộ bị hạn chế tín dụng ít so với nông hộ bị hạn chế tín dụng nhiều)
3.1.5 Khung nghiên cứu
Hình 3.2 Khung nghiên cứu đề xuất
HẠN CHẾ TÍN DỤNG LƯỢNG VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO SẢN XUẤT LÚA
(Giống, phân bón, thuốc BVTV và lao động
thuê) NĂNG SUẤT LÚA
Các yếu tố (diện tích đất, thu nhập, thời gian
sống ở địa phương, tuổi chủ hộ, học vấn, giới
tính chủ hộ, khoảng cách đến TCTD, địa vị xã
hội, và kinh nghiệm sản xuất)
Trang 123.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án sử dụng cả số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp Đối với
số liệu thứ cấp, luận án sử dụng số liệu từ các cơ quan hữu quan như Tổng cục Thống kê, Ủy ban nhân dân, Cục thống kê, ngân hàng Nhà nước các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước
Số liệu sơ cấp sử dụng trong luận án được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 1.017 chủ hộ trồng lúa vào năm 2015 và 1.065 chủ hộ vào năm 2018 được chọn ngẫu nhiên ở các tỉnh (thành phố) thuộc ĐBSCL, thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn đã được hiệu chỉnh sau các lần khảo sát thử Mẫu khảo sát được phân phối ở các địa phương thuộc ĐBSCL như trong Bảng 3.1 Bảng 3.1 Cơ cấu mẫu khảo sát theo địa phương
Địa
phương
Địa phương
Số
hộ
Tỷ trọng (%)
Số
hộ
Tỷ trọng (%)
Số hộ Tỷ
trọng (%)
Số hộ Tỷ
trọng (%)
An Giang 99 09,73 200 18,78 Kiên Giang 91 08,95 145 13,62 Bạc Liêu 76 07,47 117 10,99 Sóc Trăng 188 18,49 92 08,64
Cà Mau 85 08,36 100 09,39 Trà Vinh 100 09,83 70 06,57 Cần Thơ 110 10,82 126 11,83 Vĩnh Long 168 16,52 97 09,11 Hậu Giang 100 09,83 118 11,08 Tổng cộng 1.017 100,00 1.065 100,00
Nguồn: Nghiên cứu và thiết kế 3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Việc ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ gặp khó khăn trong việc lựa chọn nông hộ cho mẫu khảo sát Nông hộ tham gia và không tham gia thị trường tín dụng phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng
hộ nên việc lựa chọn nông hộ để nghiên cứu có thể không ngẫu nhiên và sai lệch Vì vậy, phương pháp ước lượng điểm xu hướng – Propensity score matching (PSM) được lựa chọn thực hiện để hạn chế khiếm khuyết nói trên Phương pháp PSM được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm, (Bento và cộng sự, 2007; Roberts và Key, 2008; Beiggenman và cộng sự, 2009; Pufahl và Weiss, 2009 và Katchova, 2010) Ưu điểm của phương pháp ước lượng PSM là kiểm soát được sai lệch khi chọn mẫu
3.2.3.2 Mô hình thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ
Trên cơ sở các luận điểm hình thành từ kết quả của các nghiên cứu trước, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL như sau:
i i i
i i
i i
i i
i i
kinhnghiem diavixahoi
tctd khoangcach gioitinh
hocvan
tuoi
ngdp thoigianso thunhap
t dientichda ung
7 6
5
4
3 2
1 0
) 12 3 (
Trang 13Trong Mô hình (3.12), biến phụ thuộc (hanchetind ungi) được xây dựng trên cơ sở tỷ số giữa số tiền thực vay và số tiền xin vay của nông hộ (tylevayi) Nếu tylevayi1, nông hộ không
bị hạn chế tín dụng nên biến hanchetindungi nhận giá trị 0; nếu 0tylevayi1, nông hộ bị hạn chế tín dụng nên biến hanchetind ungi nhận giá trị 1 Biến độc lập dientichda tilà diện tích đất sản xuất lúa của nông hộ, được đo lường bằng 1.000m2 Biến thunhapi là thu nhập trung bình của
hộ gia đình i, được tính bằng triệu đồng/năm Biến thoigiansongdpilà thời gian nông hộ sinh sống tại địa phương, được tính bằng số năm Biến tuoii là tuổi của chủ hộ được tính bằng năm Biến hocvani là trình độ học vấn của chủ hộ được tính bằng năm Biến gioitinhi là giới tính của chủ hộ, nếu chủ hộ là nam biến gioitinhi nhận giá trị 1, ngược lại biếngioitinhinhận giá trị 0 Biến khoagcachtdtdi là khoảng cách từ nhà nông hộ đến tổ chức tín dụng gần nhất được tính bằng km Biến diavixahoii là biến giả nhận giá trị 1 khi chủ hộ có người thân, người quen làm việc ở các cơ quan nhà nước hay tổ chức chính trị và ngược lại biến diavixahoii nhận giá trị 0 Biến kinhnghiemilà kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ được tính bằng năm
Như vừa đề cập, Mô hình (3.12) sẽ được ước lượng bằng phương pháp hồi quy Probit để xác định các điểm xu hướng (propensity score) Trên cơ sở các điểm xu hướng vừa được xác định, luận án sử dụng phương pháp ghép cặp điểm xu hướng (PSM) để xác định ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho các yếu tố đầu vào và năng xuất lúa của nông hộ Sau đó, tình trạng hạn chế tín dụng của nông hộ được chia thành nhiều mức độ khác nhau để xem xét ảnh hưởng phi tuyến của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho các yếu tố đầu vào Cụ thể, mẫu khảo sát được chia thành 6 nhóm với mức độ hạn chế tín dụng giảm dần Trong đó, nhóm
1 bao gồm các nông hộ có 0tylevayi 0,2; nhóm 2 có 0,2tylevayi 0,4; nhóm 3 có
6,04
,
0 tylevayi ; các nhóm tiếp theo có tylevayi tăng dần với bước nhảy là 0,2, nhóm cuối cùng (nhóm 6) là trường hợp nông hộ đạt tylevayi là 100% (đó là, vay được toàn bộ số tiền xin vay) Sau đó, luận án tiến hành so sánh nhóm 2 với nhóm 1 và nhóm 3 so với nhóm 2, tương tự như vậy cho đến nhóm cuối cùng để xem xét sự khác biệt về lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào giữa hai nhóm so sánh
3.2.3.3 Phương pháp ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân
bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ
Phương pháp PSM được sử dụng để xác định khác biệt giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng Đại lượng này được gọi là ảnh hưởng trung bình của can thiệp đến người được can thiệp (the average treatment effect on the treated – viết tắt là ATT) sau khi kiểm soát sự khác biệt giữa hai đối tượng Cụ thể, đối với một nông hộ bị hạn chế tín dụng, lượng vốn phân bổ cho một loại yếu tố đầu vào nào đó là E ( Y1D 1 ) và lượng vốn giả định (không quan sát được) phân bổ cho loại yếu tố đầu vào đó là E ( Y0D 1 ) Tương tự, đối với một nông hộ không bị hạn chế tín dụng, lượng vốn phân bổ cho một loại yếu tố đầu vào nào đó là E ( Y0D 0 ) và lượng vốn giả định (không quan sát được) phân bổ cho yếu tố đầu vào đó với giả định vay được hoàn toàn là