1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

133 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THỊ THANH THỦY

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên -2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THỊ THANH THỦY

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Thanh Tâm

Thái Nguyên -2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, nội dung được trình bày là hoàn toàn hợp lệ, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2021

Tác giả luận văn

Đào Thị Thanh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên”, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tập thể Cho phép tôi được bày tỏ

sự quan tâm và cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, các khoa, phòng, các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của TS Bùi Thị Thanh Tâm người đã hướng dẫn,

truyền thụ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác của các cơ quan chuyên môn trên địa thành phố Sông Công, lãnh đạo, CBCC các xã, phường đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, số liệu, dành thời gian tham gia ý kiến phiếu điều tra giúp tôi có dữ liệu để hoàn thiện luận văn

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2021

Tác giả luận văn

Đào Thị Thanh Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂNKINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 4

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 4

1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại 4

1.1.2 Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 9

1.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại 13

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 17

1.2 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế trang trại 25

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 25

1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công 31

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Sông Công 37

2.1.3 Cơ sở hạ tầng của thành phố Sông Công 39

2.1.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 40

2.2 Nội dung nghiên cứu 41

2.3 Phương pháp nghiên cứu 42

2.3.1 Phương pháp tiếp cận 42

Trang 6

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 43

2.3.3 Tổng hợp thông tin 45

2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 45

2.4 Xử lý số liệu 47

2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 47

2.5.1 Chỉ tiêu điều kiện sản xuất 47

2.5.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất 47

2.5.3 Những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 51

Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công 49 3.1.1 Đặc điểm phát triển kinh tế trang trại ở thành phố Sông Công 49

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở thành phố Sông Công 50

3.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh của trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 54

3.2.1 Thông tin cơ bản của chủ trang trại 54

3.2.2 Đất đai của các trang trại 56

3.2.3 Lao động của các trang trại 56

3.2.4 Vốn của các trang trại 57

3.2.5 Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của loại hình trang trại 58

3.3 Ý kiến của chủ trang trại về mở rộng quy mô sản xuất 62

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại theo hướng bền vững tại thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên 63

3.4.1 Về điều kiện tự nhiên 63

3.4.2 Về cơ sở hạ tầng 63

3.4.3 Yếu tố thị trường 64

3.4.4 Về vốn 68

3.4.5 Về khoa học công nghệ 69

3.4.6 Về chính sách Nhà nước 70

3.4.7 Về rủi ro đối với phát triển kinh tế trang trại 70

3.4.8 Yếu tố về môi trường sinh thái và vệ sinh an toàn thực phẩm 71

3.5 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công 74

Trang 7

3.6 Đánh giá chung về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa

bàn thành phố Sông Công 76

3.6.1 Kết quả đạt được 76

3.6.2 Những hạn chế và nguyên nhân 78

3.7 Định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 81

3.7.1 Quan điểm về phát triển kinh tế trang trại 81

3.7.2 Định hướng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 81

3.7.3 Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại tại thành phố Sông Công đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030 83

3.7.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 98

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

GTSX : Giá trị sản xuất

HQKT : Hiệu quả kinh doanh

KTTT : Kinh tế trang trại

KT-XH : Kinh tế - xã hội

KH-CN : Khoa học - công nghệ

MTQG : Môi trường quốc gia

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

SXKD : Sản xuất kinh doanh

SXNN : Sản xuất nông nghiệp

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất thành phố Sông Công giai đoạn 2018-2020 35

Bảng 2.2: Giá trị, cơ cấu ngành kinh tế TP Sông Công giai đoạn 2018 - 2020 37

Bảng 2.3 Tình hình dân số và lao động trên địa bàn TP Sông Công giai đoạn

2018 - 2020 38

Bảng 2.1 Kết hợp trong ma trận SWOT cho phát triển KTTT theo hướng bền vững 46

Bảng 3.1: Tình hình phát triển kinh tế trang trại của thành phố Sông Công giai đoạn 2018 - 2020 51

Bảng 3.2: Các loại hình trang trại được phân bổ theo đơn vị hành chính của thành phố Sông Công giai đoạn 2018- 2020 52

Bảng 3.3: Tình hình sử dụng đất đai của trang trại giai đoạn 2018-2020 53

Bảng 3.4 Tình hình lao động của trang trại giai đoan 2018 - 2020 56

Bảng 3.5 Giá trị sản xuất và giá trị hàng hóa của trang trại ở thành phố Sông Công giai đoạn 2018 - 2020 54

Bảng 3.6: Thông tin cơ bản của Chủ Trang Trại năm 2020 55

Bảng 3.7 Tình hình đất đai bình quân của các trang trại năm 2020 56

Bảng 3.8 Tình hình sử dụng lao động bình quân của 1 trang trại trong năm 2020 56

Bảng 3.9 Tình hình đầu tư vốn của các trang trại năm 2020 57

Bảng 3.10 Giá trị sản xuất của trang trại năm 2020 58

Bảng 3.11 Chi phí trung gian của các trang trại năm 2020 59

Bảng 3.13 Tổng chi phí sản xuất bình quân trên một trang trại năm 2020 60

Bảng 3.14 Thu nhập hỗn hợp bình quân của trang trại năm 2020 60

Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế của các trang trại năm 2020 61

Bảng 3.16 Ý kiến của chủ trang trại về mở rộng quy mô phát triển trang trại 62

Bảng 3.17 Đánh giá của chủ trang trại về cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 63

Bảng 3.18 Mức độ tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra của các trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 64

Bảng 3.19: Hình thức tiêu thụ và giá bán sản phẩm của cáctrang trại trên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 65

Trang 10

Bảng 3.20: Mức độ tiếp cận thị trường của các trang trạitrên địa bàn thành phố Sông

Công năm 2020 66

Bảng 3.21: Kênh tiếp cận thông tin của các loại hình trang trạitrên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 66

Bảng 3.22: Các yếu tố liên quan đến thị trường đầu ra của các loại hình trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công năm 2020 67

Bảng 3.23: Những khó khăn khi huy động vốn của kinh tế trang trại 68

Bảng 3.24: Mức độ rủi ro đối với kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công 70

Bảng 3.25: Tổng hợp ý kiến ở các cấp về mức độ bảo vệ môi trường của các trang trại trên địa bàn thành phố Sông Công 72

Bảng 3.26: Tổng hợp ý kiến ở các cấp về nguyên nhân trang trại chưa thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường 72

Bảng 3.37: Phân tích SWOT trong phát triển kinh tế trang theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công 74

Sơ đồ Sơ đồ 1.1: Quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại 8

Sơ đồ 1.2: Ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại 9

Sơ đồ 1.3: Tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại 18

Sơ đồ 1.4: Tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại 20

Sơ đồ 3.1 Mô hình liên kết giữa các trang trại và các công ty 91

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đào Thị Thanh Thủy

Tên luận văn: Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa

bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15

Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

1 Mục tiêu của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững;

- Đánh giá thực trạng phát triển trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công trong những năm tiếp theo

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến phát triển trang trại theo hướng bền vững

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Thu thập số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2018 -2020

- Thời gian khảo sát, nghiên cứu: 2020

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:

-Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:

- Phương pháp điều tra xã hội học

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel Phân tích chi phí, lợi nhuận là vấn đề quan trọng để đánh giá được mức độ hiệu quả của chuỗi giá trị, đánh giá được khả năng thu lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi, từ đó tạo nên cơ chế giá trị và hợp tác với nhau giữa các tác nhân Sự phát triển và phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân tùy thuộc vào cơ chế thị trường

Trang 12

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê mô tả

- Phương pháp thống kê phân tích

3 Kết quả nghiên cứu

Phát triển KTTT là một trong những yêu cầu cấp thiết trong tiến trình phát triển KT-XH tại thành phố Sông Công nói chung và quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp không ngừng nâng cao giá trị gia tăng nói riêng nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập cho người dân Quá trình thực hiện nghiên cứu và đề tài luận văn đã rút ra một

- Tổng giá trị sản xuất bình quân của KTTT tác động bởi bảy yếu tố như sau:

Độ tuổi, trình độ học vấn, chuyên môn, lực lượng lao động, quỹ đất, giới tính của chủ

TT là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu hiệu quả của KTTT Luận văn cũng chỉ ra rằng: Khi tăng lao động thêm 1 người sẽ làm tổng GTSX tăng thêm

247 triệu đồng/TT/năm Do đó nếu muốn nâng cao hiệu quả của TT, các chủ TT cần quan tâm đến các yếu tố trên

- Các giải pháp được đề xuất theo hướng: 1) Không ngừng đổi mới, nâng cao nhận thức vai trò, chức năng của KTTT trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thành phố; 2) Từng bước hoàn thiện công tác quy hoạch để lựa chọn loại hình KTTT cho phù hợp với từng vùng sinh thái, điều kiện tự nhiên, địa hình của thành phố theo hướng phát triển bền vững; 3) Hoàn thiện công tác giao đất, quyền sử dụng đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân tạo điều kiện, khuyến khích tích

Trang 13

tụ đất đai để phát triển KTTT; 4) Các giải pháp thiết thực về thị trường, cũng như quá trình tiêu thụ sản phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển KTTT; 5) Các giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển KTTT; 6) Giải pháp liên tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội để phát triển KTTT; 7) Giải pháp tăng cường hơn nữa vai trò quản lý Nhà nước đối với KTTT để phát triển KTTT; 8) Giải pháp tăng cường các mối liên kết để phát triển KTTT;

Với những lý do trên việc phát triển KTTT là một hướng đi mới của Thành phố Sông Công Phát triển KTTT có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển KT tại địa phương bởi KTTT tiết kiệm được quỹ đất, nâng cao hiệu quả và giá trị sản xuất, góp phần không nhỏ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo cơ sở thực hiện quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn phù hợp với chủ trương chính sách phát triển kinh tế của thành phố

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang trại (TT) và kinh tế trang trại (KTTT) là một trong những loại hình sản xuất nông nghiệp (SXNN) được hình thành và phát triển trên nền tảng của kinh tế hộ

Ở nhiều quốc gia trên thế giới đã có nền sản xuất nông nghiệp(SXNN) tiên tiến, TT

là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến nhất, bên cạnh đó cũng giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp

Ở Việt Nam, TT cũng đã được hình thành và từng bước phát triển từ sớm và cũngđã có những đóng góp tích cực không ít cho nền kinh tế nông nghiệp của Nước nhà Đặc biệt kể từ khi Chính phủ có Nghị Quyết số 03/2000/NQ_CP ngày 02/02/2000

về KTTT; tính đến cuối năm 2019 cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460

TT (tăng 67,2%) so với năm 2011 Số liệu điều tra do tổng cục Thống kê thực hiện năm 2019 công bố kết quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2019, bình quân mỗi năm số

TT của cả nước tăng trên 13%; có 27,5% TT trồng trọt, 62,4% TT chăn nuôi, 0,3% TT Lâm nghiệp, 7% TT thủy sản, 2,8% TT tổng hợp TT tạo ra cơ hội và đã giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 134.700 lao động, tăng 40.000 lao động tương ứng tăng 42,4% so với năm 2011 Giá trị sản xuất của trang trại đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng tương ứng tăng 38,2% so với năm 2011 Tuy nhiên bên cạnh đó, trong quá trình phát triển KTTT đã nảy sinh ra những vấn đề lý luận và thực tiễn trong nhận thức về KTTT; về các cơ chế pháp lý, chủ trương chính sách có liên quan đến TT như: chính sách của Nhà nước về đất đai, lực lượng lao động, các khoản vốn đầu tư, tư cách pháp nhân của TT, các quyền lợi và những nghĩa vụ của chủ TT trước các quy định pháp luật; về tính bền vững trong phát triển của KTTT và tìm ra đâu là các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển KTTT đang cần được tiếp tục đầu tư nghiên cứu để KTTT phát triển ngày càng bền vững

Thành phố Sông Công có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp Thành phố có các điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp cho sự phát triển tốt với nhiều loại cây trồng, vật nuôi được thị trường trong và ngoài nước tin dùng ưa chuộng, có giá trị kinh tế cao, là nền tảng tốt, cơ bản để phát triển KTTTvà tạo điều kiện để mở rộng với quy mô lớn Có được những lợi thế là vậy nhưng vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để khai thác được một cách hiệu quả những lợi thế này Trải qua nhiều năm không ngừng nỗ lực phát triển, ngành nông nghiệp của thành phố Sông Công đã từng bước có những tăng trưởng đáng kể, trong đó không thể không nói đến vai trò quan trọng của KTTT, đang từng bước khẳng định vai trò của mình trong việc xây dựng nông thôn mới Mặc dù vậy, KTTT thành phố Sông

Trang 15

Công tỉnh Thái Nguyên phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn

có của mô hình tổ chức sản xuất này Nhìn chung các TT của thành phố Sông Công đều phát triển mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch và cũng chưa chú trọng đến việc sử dụng hiệu quả tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường,

do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT theo hướng bền vững và chưa đóng góp nhiều cho nền kinh tế của thành phố Xuất phát từ thực tiễn đó tác giả chọn

vấn đề “Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn của mình với mong muốn góp

phần thúc đẩy phát triển KTTT của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên theo hướng bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản, thực tiễn về KTTT, phát triển KTTT theo hướng bền vững

- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển KTTT theo hướng bền vững của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT theo hướng bền vững của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đưa KTTT thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên phát triển theo hướng bền vững đến năm 2025 và tầm nhìn 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển KTTT theo hướng bền vững

- Các chỉ tiêu biểu hiện thực trạng phát triển KTTT của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Các giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Sông

Công tỉnh Thái Nguyên

* Phạm vi thời gian:

- Số liệu thứ cấp của đề tài: Từ năm 2018 đến năm 2020

- Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập vào năm 2020

Trang 16

- Các giải pháp luận án đề xuất thúc đẩy phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

* Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung sau

- Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội(KT-XH) của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Nghiên cứu quy mô, cơ cấu, trình độ và kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của TT cũng như khả năng tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm của các loại hình

TT, từ đó nêu rõ năng lực SXKD của các loại hình TT ở thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá về hiệu quả KT-XH và môi trường của các loại hình KTTT của thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTT theo hướng bền vững

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025 và tầm nhìn 2030

4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn

Đề tài góp phần cung cấp thông tin cho các chủ trang trại và các nhà quản lý nhằm xây dựng chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững theo từng giai đoạn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại

Từ rất lâu KTTT đã ra đời và từng bước phát triển, theo đó các chuyên gia về

sử học và kinh tế học trên thế giới đã chứng minh được các TT đã được hình thành

từ thời đế quốc La Mã, trong TT thời đó lực lượng thực hiện các hoạt động sản xuất chủ yếu là các nô lệ Ở Trung Quốc TT đã có từ đời nhà Đường Qua các thời kỳ cho đến khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời thì TT trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh [25] TT ở nước ta đã xuất hiện nhiều trong nhiều thế kỷ, trong từng thời kỳ lịch sử phát triển của đất nước, các TT cũng có các đặc điểm và các bước phát triển khác nhau Chỉ đến khi Nghị Quyết số 10 (1988) của Bộ chính trị được ban hành và đi vào thực hiện thì TT mới thực sự phát triển và đã đạt được những kết quả nhất định, bên cạnh đó Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách, Nghị quyết, Luật Đất đai, Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các Nghị định nhằm tạo ra cơ chế cụ thể đối với loại hình kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, Trải qua nhiều năm cho đến năm 2000 Chính phủ đã ban hành và đưa vào thực hiện nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT, nghị quyết đã nhấn mạnh rõ chủ trương của Chính phủ trong việc duy trì và phát triển KTTT, bên cạnh đó cũng tạo một hành lang pháp lý phù hợp cho loại hình KTTT phát huy năng lực SXKD của mình thông qua những chính sách ưu đãi, khuyến khích về nhiều mặt đối với loại hình kinh tế này KTTT khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ lẻ manh mún, sản xuất theo phong trào dẫn đến dư cung sản phẩm, khó kiểm soát dịch bệnh, thiếu minh bạch trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm Mặt khác, Chính phủ cũng xây dựng, hình thành hệ thống các tiêu chí KTTT nhằm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ trong công tác quản lý và không ngừng khuyến khích duy trì, phát triển KTTT trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Hệ thống các tiêu chí đó được thực hiện lần lượt theo các thông tư sau: Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT; Thông tư Số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK và hiện tiêu chí TT đang thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn

Trang 18

1.1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại

a Khái niệm trang trại

Để khái quát được loại hình TT, các nước trên thế giới đều có ngôn từ dùng

để biểu đạt các hình thức tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farmstead, Farm house (Anh); Farme (Pháp); Oepma…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là TT hay nông trại

(Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2018-2020)

- Theo PGS-TS Lê Trọng: “TT là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh trong

ngành nông nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh” (Lê Trọng, 2000)

Qua đó “TT” là thuật ngữ được dùng để mô tả, gọi tên và gắn liền với hình thức

SXNN tập trung sử dụng trên một diện tích đủ lớn và với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hóa của nền kinh tế thị trường

- Theo Trần Đức (1995) đã cho rằng: “TT là yếu tố chủ lực của tổ chức làm

nông nghiệp ở các nước tư bản trên cũng như của các nước đang phát triển và theo các chuyên gia, các nhà khoa học đã khẳng định đó là tổ chức SXKD của nhiều nước trên thế giới trong thế kỷ 21” (Trần Đức, 1995)

- Còn theo tác giả Phạm Minh Đức (1997): “TT là một loại hình SXNN hàng

hóa của hộ nông dân, do một người chủ hộ có năng lực, khả năng tìm ra, đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó có những kế hoạch huy động thêm vốn, lực lượng lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn khoa học công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và kinh doanh dịch vụ những sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao” (Phạm Minh Đức, 1997)

- Nguyễn Phượng Vỹ (1999): “TT là một hình thức tổ chức kinh tế

nông-lâm-ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hóa” (Nguyễn Phượng Vỹ, 1999)

Tất cả các quan khái niệm trên đều đã xem xét và đặt TT trong nhiều khía cạnh

khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều thống nhất như sau: “TT là loại hình

cơ sở SXKD nông-lâm-ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường với quy

mô lớn” Theo đó khi nói đến sự phát triển TT và phát triển kinh tế TT được hiểu theo

một nghĩa đồng nhất Nhưng thực tế nói đến TT là nói đến loại hình thức tổ chức sản xuất, còn khi nói đến KTTT là nhấn mạnh đến loại hình kinh tế

b Khái niệm kinh tế trang trại

- Theo Lê Trọng (2000): “KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh

nghiệp trực tiếp tổ chức các hoạt động sản xuất ra các loại nông sản hàng hóa dựa

Trang 19

trên yếu tố hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ các TT xây dựng các kế hoạch đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị các tư liệu sản xuất để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định”

- Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT:

“KTTT là một trong những hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nền nông

nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mục đích mở rộng quy mô và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản

Có quy mô đất đai, vốn, lao động, thu nhập có phần cao hơn so với mức trung bình của kinh tế hộ gia đình tại địa phương, tương ứng với từng ngành nghề cụ thể”

Trên cơ sở từ các khái niệm và quan điểm của một số tác giả đã trình bày ở trên

theo tôi, chúng ta có thể hiểu về KTTT như sau: “KTTT là một trong những hình thức

chủ yếu tổ chức kinh tế SXKD hàng hóa về nông - lâm - ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, bên cạnh đó có sự tập trung cao về các yếu tố phục vụ trong các hoạt động sản xuất, có nhu cầu lớn hơn về thị trường và các yếu tố khoa học công nghệ, có các giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập thu được cao hơn so với mức bình quân của hộ gia đình trong vùng Cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao”

1.1.1.2 Vai trò của kinh tế trang trại

Việc chú trọng phát triển KTTT ở nhiều nước trên thế giới và nước ta trong nhiều năm qua đã phần nào cho thấy vai trò quan trọng của KTTT góp phần quan trọng trong phát triển nền kinh tế nói chung và quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng Phát triển KTTT là yếu tố tất yếu, quá trình đó phải cần có cả một hệ thống chính sách, các biện pháp ở tầm quản lí vĩ mô, đóng vai trò quan trọng tạo là nền tảng, cơ sở, tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích cho sự phát triển nhanh chóng, lành mạnh theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa, để từng bước trở thành một nền nông nghiệp sản xuất lớn đủ sức cho các thị trường lớn hơn và là cơ sở cho nền nông nghiệp trong quá trình CNH-HĐH Bên cạnh đó KTTT không những đã thể hiện rõ nét vai trò của mình về mặt kinh tế mà còn thể hiện ở các mặt xã hội và môi trường, đặc biệt là KTTT đã khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, vốn tại địa bàn

mà TT thành lập Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, vai trò của KTTT được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:

Trang 20

- Về mặt kinh tế: TT góp phần không nhỏ vào tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, không ngừng nâng cao giá trị, phát triển các loại cây trồng và vật nuôi, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất canh tác phân tán, tập trung xây dựng những vùng chuyên môn hóa, tập trung hàng hóa và thâm canh cao Thực tế cho thấy quá trình phát triển KTTT ở những địa phương có các điều kiện thuận lợi bao giờ cũng đi liền với các hoạt động khai thác và sử dụng đầy đủ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế hộ nông dân Như vậy, việc phát triển KTTT đã và đang góp phần tích cực thúc đẩy vào quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

- Về mặt xã hội: Phát triển KTTT đã góp phần giải quyết được số lượng lớn việc

làm, nâng cao thu nhập cho nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống góp phần trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo tấm gương tốt cho họ về cách tổ chức và quản lý SXKD Từ đó góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề về mặt xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nhờ chú trọng phát triển KTTT

- Về mặt môi trường: Bởi SXKD mang tính chất tự chủ và lợi ích mang lại thiết

thực, lâu dài của chính mình cho nên những chủ TT luôn tạo cho mình ý thức khai thác tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và quan tâm bảo vệ môi trường, trên trước hết là trong quy

mô, phạm vi không gian sinh thái TT đến phạm vi xung quanh và từng vùng Điển hình tại các tỉnh trung du Miền núi thì TT đã góp phần không nhỏ vào việc trồng rừng, công tác bảo vệ rừng tự nhiên, từng bước góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm đó tác động tích cực và đã góp phần không

ít vào việc cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái ở các vùng, miền trong cả nước

1.1.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại

Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, KTTT có các đặc trưng sau (Chính phủ, 2000)

- Thứ nhất, mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất, nâng cao giá trị các loại

nông, lâm, thủy sản, phát triển theo hướng hàng hóa và với quy mô lớn

- Thứ hai, trong KTTT mức độ và tốc độ tập trung chuyên môn hóa các điều

kiện và yếu tố sản xuất ở mức cao hơn so với sản xuất kinh tế nông hộ, thể hiện ở các yếu tố như: Quy mô sản xuất, diện tích đất đai, quy mô đàn gia súc gia cầm, lực lượng lao động, giá trị nông, lâm, thủy sản hàng hóa

- Thứ ba, chủ TT là những người có ý thức và quyết tâm làm giàu cho bản

thân, gia đình và đóng góp các giá trị tích cực cho xã hội, người có năng lực và kinh nghiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức, quản lý điều hành các hoạt động sản xuất, linh

Trang 21

hoạt, nhạy bén biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lực lượng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất đạt hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

Quy mô sản xuất hàng hóa được thể hiện qua tỷ suất hàng hóa, là đặc trưng cơ bản nhất của KTTT KTTT thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh với quy mô lớn do sự tập trung cao hơn các nguồn lực, các yếu tố sản xuất với mức bình quân chung của kinh tế hộ ở từng địa phương, vùng Do mục đích sản xuất KTTT là sản xuất, kinh doanh các loại hàng hóa nông - lâm - ngư nghiệp với quy mô lớn nên thường

sẽ xây dựng và phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn hóa hay hướng chuyên môn hóa kết hợp với sự phát triển tổng hợp nhằm tận dụng một cách tối đa những lợi thế của vùng và tránh các rủi ro có thể xảy ra Về nhu cầu và khả năng áp dụng những thành tựu của KHKT vào các hoạt động sản xuất của KTTT lớn hơn các nông hộ nhằm đảm bảo được khả năng cạnh tranh của các sản phẩm của mình trên thị trường và hiệu quả thu được ngày một cao hơn

Từ những đặc trưng đã nêu trên cho thấy rõ ràng kinh tế TT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc

1.1.1.4 Quá trình hình thành kinh tế trang trại

KTTT hình thành và phát triển được quyết định bởi ba yếu tố cơ bản như sau:

- Kinh tế nông hộ là điều kiện tiền đề cho sự hình thành KTTT

+ Yếu tố kinh tế nông hộ Cùng với quá trình phát triển của nền KTTT, kinh

tế nông hộ ngày càng phát triển Quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn, lao động, tri thức khoa học kỹ thuật đến một quy mô nhất định sẽ hình thành KTTT

Sơ đồ 1.1: Quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại

Kinh tế Trang trại

- Tri thức, kinh nghiệm

Trong điều kiện của Việt Nam, chủ yếu là trang trại gia đình

Bước đầu KTTT vẫn bị chi phối từ

kinh tế nông hộ

- Sản xuất dựa vào kinh nghiệm

- Tư tưởng sản xuất nhỏ

- Hạn chế về kiến thức KHKT, kinh

Trang 22

- Cơ chế chính sách chung của Nhà nước tạo ra định hướng và môi trường cho

sự tồn tại và phát triển của KTTT

- Kinh tế thị trường là điều kiện có tính chất quyết định cho sự hình thành và phát triển KTTT, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KTTT Chúng

ta có thể hình dung ba yếu tố cơ bản cho sự hình thành và phát triển KTTT qua sơ đồ

Sơ đồ 1.2: Ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại

1.1.2 Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển

Phát triển là một phạm trù triết học trong đó chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới: Phát triển được hiểu là một thuộc tính phổ biến của vật chất Các sự vật hiện tượng khi tồn tại trong hiện thực khách quan không tồn tại

ở dạng bất biến mà các sự vật hiện tượng đó sẽ trải qua một loạt các trạng thái từ lúc xuất hiện đến lúc tiêu vong hoàn toàn Điều đó có thể hiểu là một sự vật, hiện tượng bất kỳ nằm trong một hệ thống nào đó cũng như các sự vật hiện tượng trên thế giới không đơn giản chỉ biến đổi mà còn có thể chuyển sang những trạng thái mới khác hoàn toàn so với trạng thái trước đó, bởi các mối quan hệ này sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài tác động lên Phát triển có nguồn gốc là

sự chuyển hóa các giá trị về lượng sang các giá trị về chất, chiều hướng phát triển là

Kinh tế nông hộ Tập trung ruộng đất

và các yếu tố khác

KTTT sản xuất hàng hóa

Kinh

tế thị trường

Sản xuất hàng hóa Các quy luật kinh tế

- Kinh tế nông hộ là tiền đề vật chất ban đầu

- Kinh tế TT đã thoát khỏi vỏ bọc kinh tế hộ nhưng bước đầu vẫn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng và phong cách

- Chính sách chung: sự vận dụng quy luật của Nhà nước và mang tính chủ quan

- Kinh tế thị trường: điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế TT

Trang 23

Quan niệm về phát triển trải qua nhiều thời kỳ đã có nhiều ý kiến khác nhau Cụ

thể theo Raaman Weitz cho rằng “Quá trình phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm

tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội" Còn theo Lưu Đức Hải lại cho rằng “Phát triển là quá trình tăng trưởng trong đó bao gồm nhiều yếu tố tạo thành và hoàn toàn khác nhau như kinh tế, chính trị, kỹ thuật, văn hóa…” (Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, 2001) Còn theo Ngân

hàng thế giới (WB) cho rằng: “Phát triển là quá trình trong đó bao gồm các thuộc tính

liên quan đến các giá trị trong cuộc sống con người, đó là sự tiến tới sự bình đẳng trong các cơ hội trong cuộc sống, quyền tự do, sự tự do về chính trị để củng cố niềm tin con người trong các mối quan hệ với cộng đồng, Nhà nước… Phát triển là từng bước nâng cao các giá trị, các chuẩn mực và tiêu chuẩn cuộc sống, đời sống vật chất tinh thần, hạnh phúc của nhân dân, cải thiện sức khỏe, giáo dục, bình đẳng về các cơ hội trong cuộc sống… ”

Nhìn chung các ý kiến đều nhất trí cho rằng mục tiêu chung của phát triển

là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do của

con người Do vậy khái niệm phát triển được khái quát như sau: “Phát triển là sự thay

đổi theo hướng tích cực về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường đảm bảo quyền lợi của con người”

1.1.2.2 Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển bền vững (PTBV) được xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường

từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Trải qua nhiều năm phát triển, đến năm 1987, Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) đã đưa ra báo cáo

“Tương lai của chúng ta”, theo đó "PTBV" theo tác giả Lê Xuân Lãm đã định nghĩa "là

sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"(Lê Xuân Lãm, 2011)

Trong tiến trình phát triển của loài người PTBV đóng vai trò vô cùng quan trọng, là một yếu tố tất yếu Do vậy các công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức các chương trình nghị sự mang tầm quy mô thế giới trên cơ sở sự đồng thuận của các quốc gia.Năm 1992, tại Rio de Jenairo (Braxin) Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về Môi trừơng và phát triển được tổ chức Hội nghị đã mang lại một số kết quả nhất địnhcụ thể là đã thông qua tuyên bố Rio de Jenairo về vấn đề Môi trường và phát triển trong

đó gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự 21 về các giải pháp PTBV, hội nghị đã tập trung được 179 quốc gia tham gia hội nghị Sau mười năm, vào năm 2002 Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) được

tổ chức, trong hội nghị này gồm 166 nước tham gia và đã thông qua bản tuyên bố

Trang 24

Johannesburg, bản kế hoạch thực hiện về PTBV Hội nghị cũng đã nhấn mạnh lại các nguyên tắc đã đề ra trước đó và tiếp tục thực hiện các cam kết đầy đủ chương trình nghị

sự 21 về PTBV (Lê Xuân Lãm, 2011)

Sau hội nghị Thượng đỉnh năm 1992 tổ chức tại Rio Janeiro trải qua nhiều năm các nước trên thế giới cùng nhau nỗ lực PTBV Cho đến nay đã có 113 nước cùng nhau xây dựng phát triển thực hiện chương trình Nghị sự 21 về PTBV ở cấp quốc gia, bên cạnh đó cũng đã có 6.416 chương trình Nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời các quốc gia cũng đã thành lập được các tổ chức hoạt động độc lập về vấn đề PTBV.Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 về PTBV (Lê Xuân Lãm, 2011)

Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam ban hành

"Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam" (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)

(Lê Xuân Lãm, 2011)

PTBV là quá trình phát triển mới mục tiêu tổng quát là đạt được các giá trị về mặt vật chất, giàu có về tinh thần và bản sắc văn hóa, công dân trong xã hội có sự bình đẳng và sự đồng thuận cao của toàn xã hội, giữa con người và tự nhiên có mối quan hệ hài hòa, các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường phải cùng nhau phát triển, kết hợp chặt

chẽ hợp lí với nhau Gồm: phát triển kinh tế (trên cơ sở là tăng trưởng kinh tế), phát

triển xã hội (thực hiện các mục tiêu là tiến bộ, công bằng xã hội; thực hiện các chương

trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết vấn đề việc làm) và bảo vệ môi trường (mục tiêu

là xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm, tìm ra các giải pháp hợp lí phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; các biện pháp phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác và

sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí và tiết kiệm đạt được hiệu quả cao) Mục tiêu phát triển bền vững được thể hiện ở ba mặt sau:

1) Kinh tế: là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp

ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

2) Xã hội:Là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã

hội; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; duy trì và phát huy được tính

đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc nhưng không ngừng nâng cao trình độ văn minh

3) Môi trường: Là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên

thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong quá trình phát triển KTTT theo hướng bền vững chúng ta cần thực hiện những nguyên tắc chính sau đây:

Trang 25

Thứ nhất: Con người là trung tâm của PTBV

Thứ hai: Coi phát triển KTTT theo hướng bền vững là nhiệm vụ trọng tâm

trong từng đoạn phát triển tương lai bên cạnh cũng từng bước thực hiện nguyên tắc

"mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi"

Thứ ba: Quá trình phát triển KTTT luôn gắn liền chặt chẽ với việc bảo vệ và

có các giải pháp cải thiện chất lượng môi trường

Thứ tư: Quá trình khai thác tự nhiên để phát triển KTTT phải đảm bảo đáp ứng

được một cách công bằng nhất nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không gây cản trở tới cuộc sống của các thế hệ tương lai

Thứ năm: KH-CN là nền tảng và là động lực cho CNH-HĐH thúc đẩy KTTT

phát triển nhanh, mạnh và bền vững

Thứ sáu: PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ,

ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Thứ bảy: Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế để phát triển KTTT theo hướng bền vững

Thứ tám: Quá trình phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

phải kết hợp một cách hài hòa chặt chẽ, bên cạnh đó cũng phải bảo đảm các vấn đề quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

1.1.2.3 Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại

KTTT là tổng thể các yếu tố vật chất của TT và những mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động SXKD của TT Như vậy có thể hiểu phát triển KTTT là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của TT cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động SXKD của TT Phát triển KTTT phải được đặt trong mối quan hệ hài hoà giữa ba yếu tố kinh

tế, xã hội và môi trường là cơ sở bảo đảm cho sự PTBV của KTTT

Như vậy có thể nói “Phát triển KTTT là một quá trình lớn lên về mọi mặt của

KTTT trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô và sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực của TT”

1.1.2.4 Khái niệm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

Khái niệm phát triển KTTT theo hướng bền vững được hiểu trên cơ sở khái niệm PTBV như sau:

“Phát triển KTTT theo hướng bền vững là phát triển KTTT một cách hiệu quả trong hiện tại nhưng không làm cản trở hay tổn hại đến sự phát triển KTTT trong

Trang 26

tương lai; sự phát triển KTTT không làm tổn hại mà còn có tác động tích cực đến sự PTBV của từng vùng, từng địa phương và cả nước, xét trên 3 mặt: kinh tế -xã hội - môi trường”

Phân tích 3 mặt của vấn đề phát triển KTTT theo hướng bền vững như sau:

+ Mặt kinh tế: phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt kinh tế chính là

không ngừng làm gia tăng năng lực SXKD của KTTT được thể hiện thông qua các nội dung sau:

- Số lượng TT của địa phương không ngừng tăng lên qua các năm

- Quy mô các yếu tố nguồn lực SXKD không ngừng tăng lên như: (đất đai, lao động, vốn đầu tư, KH-CN, nguồn nước) tất cả được kết hợp một cách khoa học, hợp

lý, hài hòa và hiệu quả

- Nâng cao sự liên doanh liên kết 4 nhà (TT với Nhà nước; TT với nhà khoa học; TT với doanh nghiệp; TT với TT) tạo ra chuỗi giá trị hàng hóa hạn chế được sự biến động về giá thị trường và góp phần vào ứng phó với sự biến đổi khí hậu

Đó chính là cơ sở để đảm bảo cho sản lượng hàng hóa, giá trị sản xuất (GTSX) trong TT được tăng lên, đóng góp tích cực vào tăng trưởng bền vững của ngành nông nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung

+ Mặt xã hội: Phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt xã hội là trong quá

trình thực hiện và phát triển thì phải giải quyết tốt mối quan hệ sở hữu và quan hệ lao động như mối quan hệ giữa chủ TT và người lao động làm thuê; mối quan hệ giữa chủ

TT với Nhà nước, mối quan hệ giữa chủ TT với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và chế biến tiêu thụ đầu ra Mục đích phát triển KTTT tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống của người dân và xóa đói giảm nghèo cho người lao động ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở các vùng miền góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội và an toàn xã hội

+ Mặt môi trường: Phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt môi trường,

thể hiện trước hết ở việc khai thác sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nguồn nước); không ngừng cải thiện và làm gia tăng độ màu mỡ của đất, chống ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; không làm suy kiệt nguồn nước ngầm

1.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại

1.1.3.1 Tiêu chí phân loại trang trại

Mỗi quốc gia có tiêu chí nhận dạng KTTT không hoàn toàn giống nhau, quan điểm của các nước về KTTT được nhận dạng theo các đặc trưng của TT

Trang 27

Ở Việt Nam KTTT được hình thành và phát triển với thời gian không dài, nền tảng phát triển của KTTT là kinh tế hộ cho nên sự khác nhau giữa kinh tế hộ với KTTT không nhiều Do vậy từ đầu những năm 1990 một số địa phương đã tự quy định các tiêu chí về KTTT để phân biệt giữa KTTT với kinh tế hộ Trong quá trình hoạt động và phát triển của KTTT của từng vùng, từng địa phương có đặc điểm khác nhau nên xác định tiêu chí nhận dạng KTTT khác nhau, để có cơ sở tổng kết, đánh giá về KTTT và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT, ngày 23 tháng 6 năm

2000, Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê đã có Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT;

a Thông tư Số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK, ngày 20 tháng 05 năm 2003 của

Bộ BNN-TCTK sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, xác định: Một hộ SXNN, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định theo tiêu chí định lượng xác định là KTTT bao gồm: (Bộ NN&PTNT, 2003)

+ Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung: Từ 40 triệu đồng trở lên

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: Từ 50 triệu đồng trở lên

+ Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

* Đối với TT trồng trọt

- TT trồng cây hàng năm

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- TT trồng cây lâu năm

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung

+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ TT trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên

* Đối với TT lâm nghiệp: từ 10 ha trở lên đối với tất cả các vùng trong cả nước

* Đối với TT chăn nuôi

- Chăn nuôi đại gia súc, trâu bò.v.v.: chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên

từ 10 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê v.v.: chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên

Trang 28

- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

* Đối với TT nuôi trồng thủy sản: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có

từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

* Giá trị sản lượng hàng hóa là tiêu chí để xác định các sản phẩm có tính chất đặc thù riêng của nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản như: trồng hoa, cây cảnh, nuôi ong… (chỉ tiêu 1)

* Loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trong cùng một hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp thì tiêu chí để xác định TT là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân 1 năm

b Thông tư số 27/2011/TT- BNN&PTNT quy định tiêu chí mới của trang trại Trải qua 10 năm thực hiện theo Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK đã có những thành tựu nhất định nhưng bên cạnh đó không thể không có những bất cập Đặc biệt tiêu chí cho thấy sự bất cập nhất là về giá trị sản lượng hàng hóa trong năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên là quá thấp so với kinh tế hộ Để xác định rõ hơn về KTTT phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay, ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT- BNN&PTNT quy định tiêu chí mới của TT Theo đó, TT được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau: TT trồng trọt; TT chăn nuôi; TT lâm nghiệp; TT nuôi trồng thủy sản và TT tổng hợp TT chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là những TT có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của TT trong năm Trong trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là TT tổng hợp (Bộ NN&PTNT, 2011)

Theo Thông tư này, cá nhân, hộ gia đình SXNN, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn TT phải thỏa mãn các điều kiện sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:

- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam bộ

và Đồng bằng sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm

Thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm

2011 thì tổng số TT của cả nước nói chung và của thành phố Sông Công nói riêng giảm gần 90%, nhìn chung ảnh hưởng bởi tiêu chí giá trị sản lượng hàng hóa là chính

Trang 29

vì GTSX từ 40 triệu đồng lên tối thiểu 500 triệu đồng và TT chăn nuôi là 1 tỷ đồng, còn tiêu chí mức hạn điền có thay đổi nhưng không đáng kể

c Thông tư số 02/2020/TT/BNNPTNT quy định tiêu chí kinh tế trang trại

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 02/2020/TT/BNNPTNT quy định tiêu chí kinh tế trang trại

* Đối với trang trại chuyên ngành:

- Trồng trọt: Giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên;

- Nuôi trồng thủy sản: Giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên;

- Chăn nuôi: Giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên và đạt quy mô chăn nuôi trang trại theo quy định tại Điều 52 Luật Chăn nuôi và văn bản hướng dẫn;

- Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất bình quân đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 10,0 ha trở lên;

- Sản xuất muối: Giá trị sản xuất bình quân đạt 0,35 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên

* Đối với trang trại tổng hợp: Giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên (Thông tư số 02/2020/TT/BNNPTNT)

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triểnkinh tế trang trại theo hướng bền vững

Phát triển KTTT theo hướng bền vững là vấn đề phức tạp và không phải lúc nào cũng có thể giải quyết một cách tối ưu Bởi trong thực tế, con người thường đứng trước một sự lựa chọn không phải dễ dàng giữa nhiều vấn đề cùng phát sinh Vì vậy, việc thiết lập nội dung tiêu chí để đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững là việc làm khó khăn chưa hẳn đạt được sự đồng thuận của các chủ TT Song đây là việc làm cần thiết, làm

cơ sở để tổ chức đánh giá, quản lý phát triển KTTT theo hướng bền vững

* Tiêu chí về góc độ kinh tế:

- Số lượng TT tăng theo thời gian

- Quy mô các nguồn lực sản xuất của TT không ngừng tăng lên

- Cơ cấu KTTT chuyển dịch theo hướng tích cực

- Kết quả hoạt động SXKD của KTTT ngày càng cao, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu (GTSX, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp …)

Trang 30

- Hiệu quả của các hoạt động SXKD của KTTT ngày càng cao, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu (GTSX, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp)/(chi phí trung gian, đơn vị diện tích, lao động)

Khi đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững theo góc độ về kinh tế nêu trên cần phải lưu ý, xu hướng chung là giá trị các chỉ tiêu đều tăng liên tục theo thời gian (năm sau cao hơn năm trước) thì đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững đạt được về mặt kinh tế Song riêng chỉ tiêu về số lượng TT không nhất thiết phải liên tục tăng theo thời gian vì thay đổi tiêu chí qui mô của TT mà chủ yếu dựa vào quy

mô các nguồn lực của TT để đánh giá sự phát triển TT về quy mô Nếu các chỉ tiêu không thống nhất (có chỉ tiêu biến động tăng, có chỉ tiêu biến động giảm theo thời gian) thì dựa vào từng chỉ tiêu cụ thể để đánh giá sự phát triển KTTT về quy mô, cơ cấu, chất lượng… Trong đó, phát triển KTTT về chất lượng sẽ ảnh hưởng quyết định đến việc đánh giá mức độ đạt được của phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế

* Tiêu chí về góc độ xã hội:

- Tổng số lượng lao động làm việc trong khu vực KTTT trên địa bàn

- Thu nhập của người lao động trong khu vực KTTT trên địa bàn

- Đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trên địa bàn

- Quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ KTTT với địa phương

- Góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội

* Tiêu chí về góc độ môi trường

- Tỉ lệ TT có ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái trên tổng số TT hoạt động trên địa bàn

- Tỉ lệ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên tổng số TT hoạt động trên địa bàn Ngoài ra, việc đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững còn được thông qua các yếu tố như mức độ hài hòa, thống nhất giữa các mục tiêu: KT-XH và môi trường Ba mục tiêu phát triển KTTT bền vững có tính hệ thống, kết hợp chặt chẽ với nhau

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

1.1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan

* Yếu tố chính sách của Nhà nước

- Sự hình thành và phát triển của KTTT không thể thiếu vai trò quan trọng của

Nhà nước Chúng ta có thể thấy với tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, quản lý xã

Trang 31

hội từ đó mới có thể tạo được một môi trường kinh tế và pháp lý cho KTTT thành lập, duy trì và phát triển

- Sự hình thành và phát triển của KTTT khác với kinh tế nông hộ; Kinh tế nông hộ vốn là kinh tế sinh tồn, kinh tế tự cấp tự túc của nông dân dù môi trường kinh tế và pháp lý thế nào hộ nông dân vẫn duy trì, tìm cách phát triển kinh tế để đảm bảo những điều kiện vật chất tối thiểu cần thiết cho cuộc sống của hộ Ngược lại, KTTT ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hóa, người nông dân phát triển KTTT là nhằm có thu nhập cao và tiến tới làm giàu từ nghề nông, nông nghiệp vốn là nghề có tính sinh lợi không cao và rủi ro lớn Nếu các điều kiện kinh tế và pháp lý bất thuận thì có vốn họ sẽ đầu tư sang ngành khác Để họ yên tâm đầu tư vào SXNN theo phương thức TT cần cải tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển KTTT, yếu

tố chính sách trong mối quan hệ đến KTTT được tóm lược ở sơ đồ sau:

Cơ chế, chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế TT, gây lãnh phí nguồn lực xã hội

Sơ đồ 1.3: Tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại

+ Nhà nước thừa nhận địa vị pháp lý của KTTT, thừa nhận TT là một hình thức

tổ chức sản xuất cơ sở, một bộ phận hợp thành của hệ thống nông nghiệp Các văn bản pháp quy, quy định rõ khuôn khổ pháp lý phù hợp cho các TT hoạt động, tạo điều kiện cho KTTT ra đời và phát triển, điều đó có ý nghĩa quan trọng

Trang 32

+ KTTT hình thành và phát triển trên cơ sở định hướng các cơ chế , mục tiêu của các chính sách KT - XH ban hành

+ KTTT hình thành và phát triển được khuyến khích sử dụng các đòn bẩy kinh tế

và phát triển các loại hình liên kết kinh tế giúp thúc đẩy quá trình phát triển của KTTT

+ KTTT thành lập, có thể duy trì và phát triển không thể thiếu các yếu tố như: Vốn, phát triển các cơ sở kết cấu hạ tầng, trình độ của chủ TT, công tác chuyển giao KHKT…

Vì vậy, cần có các biện pháp hỗ trợ cho các nguồn lực này

- Nhà nước đẩy mạnh công tác hỗ trợ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản phát triển: Mục đích trực tiếp của KTTT là sản xuất hàng hóa Việc tiêu thụ sản phẩm nông sản là điều kiện cơ bản để TT ra đời và phát triển, sản phẩm nông sản sản xuất ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ khó khăn sẽ là rào cản đối với sự ra đời và phát triển của KTTT Thực tế cho thấy công nghiệp chế biến nông sản có vai trò hết sức to lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm Chỉ khi công nghiệp chế biến phát triển thì mới tạo thị trường rộng lớn và ổn định cho các TT Như vậy, để hình thành và phát triển KTTT tất yếu cần có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến Tuy nhiên, phải là công nghiệp chế biến xuất phát từ yêu cầu phát triển nông nghiệp và phù hợp với nhu cầu của thị trường về chủng loại, chất lượng và quy cách nông sản phẩm chế biến

- Các cơ sở kết cấu hạ tầng, đặc biệt là các công trình giao thông, thủy lợi cần

có các thành tựu và sự phát triển nhất định:

+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ SXNN bao gồm: Đường giao thông, công trình thủy lợi, công trình điện… đó là những điều kiện vật chất kỹ thuật rất cần cho hoạt động SXNN, chúng góp phần quan trọng giúp người sản xuất khắc phục những tác động tiêu cực của tự nhiên, đáp ứng yêu cầu sinh học của SXNN và yêu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa

+ Các hoạt động SXKD trong TT thực tế phải tiến hành trên nền tảng có sự phát triển và một hệ thống kết cấu hạ tầng, trình độ khoa học kỹ thuật phát triển ở một trình

độ nhất định do đặc trưng cơ bản của KTTT là sản xuất hàng hóa

- Có sự hình thành các vùng SXNN chuyên môn hóa: Các vùng chuyên canh với quy mô lớn luôn gắn liền với các đặc điểm như có nền công nghiệp chế biến phát triển, quá trình lưu thông, vận chuyển hàng hóa cũng được thuận lợi hơn, từ đó thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm của TT Điều đó cho thấy sự hình thành các vùng chuyên hóa SXNN có những tác động trực tiếp ảnh hưởng và có tác động tích cực lên quá trình hình thành và phát triển của TT Đồng thời, các vùng chuyên canh tập trung còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng tiến bộ KHKT và hợp tác SXKD giữa các TT

Trang 33

Các chính sách nêu trên là những biện pháp tác động trực tiếp đến các hoạt động của các TT, tạo điều kiện thuận lợi cho các TT, hỗ trợ TT trong các điều kiện khó khăn

* Yếu tố thị trường:

Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các hoạt động của TT phụ thuộc nhu cầu của thị trường Cầu hàng hóa và dịch vụ tác động lên cầu về các yếu tố sản xuất và được gọi là cầu thứ phát vì nó phát sinh sau Có thể hiểu đơn giản thị trường hàng hóa, dịch vụ có phát triển, người tiêu dùng có tiêu thụ thì nhu cầu để sản xuất các loại hàng hóa dịch vụ này mới tăng và ngược lại Thị trường buộc chủ TT phải nắm bắt các quy luật để lựa chọn và đưa ra phương án SXKD tối ưu Rõ ràng kinh tế thị trường vừa tạo ra thách thức vừa tạo ra cơ hội phát triển KTTT

Kinh tế thị trường

Những thách thức từ thị trường

- Nhu cầu thay đổi nhanh

- Đòi hỏi chất lượng, mẫu mã, độ

an toàn sản phẩm cao

- Hội nhập khu vực và quốc tế

(cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm

của Thái Lan, Trung Quốc,

Malaixia )

- Hàng nhập lậu, hàng giả, hàng nhái

- Xây dựng thương hiệu

Nhu cầu thị trường

Khó khăn mà TT gặp phải

- Chủ TT thiếu kinh nghiệm và kiến thức về thương trường

- Hệ thống thị trường chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ

- Giá cả yếu tố đầu vào cao, giá đầu ra thấp, bấp bênh

- Thiếu liên kết kinh tế

- Cấu trúc, hành vi và hiệu quả thị trường còn nhiều bất cập

Kinh tế trang trại

Sơ đồ 1.4: Tác động của nền kinh tế thị trường tớikinh tế trang trại

Như vậy kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế TT, vì vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh tế TT là rất mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thị trường Kinh tế TT phát triển như thế nào rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào kinh tế thị trường như là một điều kiện khách quan, quá trình nhận thức và vận dụng kinh tế thị trường của các chủ TT như là một điều kiện chủ quan

- Kinh tế thị trường tác động một cách toàn diện trên cả thị trường đầu vào và đầu ra của KTTT

Trang 34

+ Đối với thị trường đầu vào (tư liệu sản xuất, vốn, lao động), chủ TT với tư cách là người sử dụng các yếu tố đầu vào để hoạt động SXKD một cách trôi chảy Với thị trường đầu vào rộng lớn phong phú chủ TT có nhiều cơ hội để lựa chọn giá

cả, chất lượng các yếu tố đầu vào và chính các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành của sản phẩm và quy mô sản xuất của sản phẩm Có thể nói với sự phát triển đồng bộ và vận hành tốt thị trường đầu vào tạo điều kiện thuận lợi để các TT hoạt động hiệu quả và ổn định bền vững

+ Thị trường đầu ra là thị trường tiêu thụ sản phẩm, chủ TT với tư cách là người bán, các sản phẩm sản xuất của TT được chuyển đến tay người tiêu dùng thông qua kênh thị trường Vì vậy các yếu tố, thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh… tác động rất lớn đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của TT Từ đó mới có câu hỏi về chuỗi giá trị hàng hóa của TT: Sản phẩm bán ở đâu? Bán cho ai? Bán theo kênh nào? Giá bán bao nhiêu? được các chủ TT tìm ra câu trả lời ngay khi bắt đầu sản xuất và chủ TT giải quyết khi tổ chức tiêu thụ sản phẩm Vậy các chủ TT cần phải nắm được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin về thị trường từ đó đưa ra các quyết định có liên quan về tiêu thụ sản phẩm

Nhìn chung trong thực tế thì bản thân chủ TT tự giải quyết các vấn đề về thị trường không được nhiều mà cần phải có sự trợ giúp đắc lực của Nhà nước, các tổ chức, các Hiệp hội… Nền kinh tế nước ta càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thị trường rộng lớn thì diễn biến càng phức tạp sự cạnh tranh càng gay gắt Vì vậy cần có nghiên cứu, dự báo, khuyến cáo về thị trường, hỗ trợ cho KTTT phát triển có hiệu quả và bền vững

* Yếu tố điều kiện tự nhiên

Lĩnh vực hoạt động SXKD của TT là nông nghiệp, đối tượng sản xuất chủ yếu

là sinh vật sống nên chịu sự tác động lớn bởi điều kiện tự nhiên như: vị trí, địa hình, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, nguồn nước Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên

là cơ sở xác định cây trồng và vật nuôi phù hợp với từng vùng

- Vị trí, địa hình, đất đai: Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu được trong

hoạt động sản xuất TT, SXNN phải gắn liền với đất đai, quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc cao hay thấp, đều ảnh hưởng đến KQSX và tác động đến thu nhập của TT

- Khí hậu, thời tiết: Mọi hoạt động sống của con người và đặc biệt là các hoạt

động sản xuất trong ngành Nông nghiệp phụ thuộc cũng như chịu tác động trực tiếp rất lớn của các yếu tố khí hậu, thời tiết Các loại cây trồng, vật nuôi có sự phân bố, sinh trưởng và phát triển bị tác động bởi các yếu tố nhiệt độ bình quân, khác biệt về

Trang 35

lượng mưa, độ ẩm, sự chênh lệch ngày và đêm, số giờ nắng … Cũng chính yếu tố khí hậu và thời tiết tạo ra rủi ro thiên tai có thể xảy ra trong các hoạt động SXKD của TT

*Yếu tố điều kiện kinh tế - xã hội

- Điều kiện về kinh tế như: sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hóa; cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất; các điều kiện phát triển công nghiệp - nông nghiệp - thương mại; giao thông vận tải; thủy lợi, điều kiện đầu tư trang thiết bị vật chất cho hoạt động sản xuất của TT,

- Điều kiện xã hội: dân số và lao động; trình độ dân trí sẽ ảnh hưởng nhiều đến thông tin truyền thông; trình độ quản lý sử dụng lao động; an ninh - quốc phòng; sự phát triển của KHKT; đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực, Trong đó, các yếu tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc hoạt động sản xuất của

TT nói riêng, các hộ nông dân nói chung

*Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các Hiệp định mậu dịch tự do đã ký kết của ngành NN&PTNT đã có nhiều tác động tích cực Trong đó, tạo điều kiện để tăng trưởng thương mại và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm xuất khẩu; tạo cơ hội việc làm, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân nói chung

và trang trại nói riêng Bên cạnh đó, hội nhập đã giúp Việt Nam bước đầu vượt qua

rào cản thuế quan đối với một số nông sản mà Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như gạo, thủy sản, Việc gia nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới cũng giúp Việt Nam tiếp cận với nguồn nguyên liệu ổn định hơn cho sản xuất, có chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh, thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất để xuất khẩu, trong khi đó các loại hình trang trại của tỉnh Thái Nguyên chưa phát triển mạnh về các sản phẩm hướng tới xuất khẩu mà chỉ tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận Ngoài những mặt tích cực thì khi hội nhập vẫn có những rào cản như: Về tác động bất lợi, quá trình hội nhập cũng đồng nghĩa với việc gia tăng cạnh tranh và áp lực, làm thu hẹp một số lĩnh vực sản xuất có khả năng cạnh tranh thấp Với sự cắt giảm rào cản thuế quan, gỡ

bỏ rào cản kỹ thuật và hành chính đã tạo ra tăng trưởng sức ép cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu và sản xuất trong nước Sự hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực sản xuất và trình độ quản lý khiến các nhà sản xuất và doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với nguy cơ bị các tập đoàn toàn cầu và các doanh nghiệp lớn thâu tóm Khi Việt Nam vươn mình ra năm châu, từng bước tiến sâu vào nền kinh tế thế giới, các hàng hóa trong ngành nông lâm, thủy sản sẽ gặp phải các cản trở từ các rào cản thương mại

để bảo hộ cho hoạt động sản xuất của nước nhập khẩu Với xu hướng đó yêu cầu đặt

Trang 36

ra ngày càng khắt khe, điều đó cũng không ngừng tạo động lực cho ngành sản xuất nông nghiệp trong nước không ngừng nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, các hình thức truy xuất nguồn gốc, các luật ban hành quy định đến bảo hộ thương hiệu, các yêu cầu về bảo vệ môi trường, các vụ kiện chống trợ cấp, chống bán phá giá là các yếu tố thực tế mà các doanh nghiệp và cơ quan quản lý của Việt Nam

sẽ phải đối mặt Đây là được coi là thách thức lớn và cũng là động lực đối với Việt Nam Bên cạnh đó nước ta vẫn còn chậm trong công tác khai thác thị trường, các lợi thế đặc trưng của vùng cũng như khả năng so sánh của vùng Sản xuất hàng hóa ở nhiều địa phương vẫn nặng phương pháp truyền thống làm cho giá trị hàng hóa thấp chưa tận dụng được các cơ hội thị trường Khả năng áp dụng các thành tựu khoa học,

kỹ thuật còn thấp Còn thiếu các chính sách về quy hoạch vùng, đầu tư cho thị trường

* Yếu tố năng lực nội tại của trang trại

- Đất đai của TT: Qui mô và chất lượng đất sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất

và hiệu quả SXKD của TT Thâm canh tăng vụ, bố trí cây trồng và vật nuôi hợp lý với từng loại đất của từng loại hình TT cũng theo từng mùa vụ là biện pháp tăng sản lượng, tăng năng suất cây trồng khai thác tốt tiềm năng của đất Đồng thời phải có kế hoạch khai thác hợp lý, áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật canh tác đảm bảo tính bền vững của đất, góp phần vào sự phát triển KTTT theo hướng bền vững

- Lao động của TT: Đây cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến quá trình SXKD của TT Chất lượng lao động được biểu hiện qua trình độ kỹ thuật chuyên môn, trình độ tổ chức sản xuất, ý thức chấp hành pháp luật, sức khỏe, độ tuổi chất lượng nguồn lao động tác động lớn tới sự PTBV của KTTT khi nó đáp ứng được nhu cầu SXKD của TT trong điều kiện sản xuất hàng hóa Vì vậy chủ TT phải có kế hoạch

sử dụng lao động hợp lý, chế độ thù lao thỏa đáng, người lao động gắn bó ổn định, lâu dài với TT; đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động thì năng suất lao động cao đồng nghĩa với việc hiệu quả SXKD của

TT sẽ không ngừng tăng lên

Trang 37

- Vốn của TT: Vốn là yếu tố quan trọng để hoạt động sản xuất và mở rộng quy

mô của TT nói riêng, các hộ nông dân nói chung Vì vậy vốn là yếu tố không thể thiếu được để hình thành và phát triển KTTT

- Trình độ quản lý và ý chí của chủ TT quyết định lớn trong sự tồn tại và phát triển của TT Người chủ TT phải có ý chí, có sự tích lũy nhất định về kinh nghiệm sản xuất và có năng lực nhất định về tổ chức SXKD Thông thường quá trình tạo lập phát triển KTTT là một quá trình đầy khó khăn và rủi ro, nhất là trong các trường hợp thiếu vốn và khó khăn về các điều kiện sản xuất, để vượt qua những khó khăn đó đòi hỏi người chủ TT phải có ý chí, có sự kiên trì có quyết tâm làm giàu từ nghề nông Mặt khác, để tổ chức các hoạt động SXKD của TT người chủ TT còn phải có năng lực tổ chức quản lý nhất định, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh trong

cơ chế thị trường Chủ TT thực hiện tốt giữa mối liên kết trong hoạt động SXKD

* Yếu tố khoa học kỹ thuật, công nghệ

Khoa học KT-CN áp dụng vào trong hoạt động SXKD của TT có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và hiệu quả kinh tế Như chúng ta đã biết, đổi mới KH-KT-CN trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong hoạt động SXKD của TT

và đem lại hiệu quả kinh tế cao Các CN được áp dụng trong SXNN như:

KH-CN sinh học, KH-KH-CN cơ điện tử và tự động hóa, KH-KH-CN thủy lợi

Sự phát triển của KH-CN sẽ giúp cho các hộ nông dân và TT tạo ra các loại giống cây trồng và vật nuôi sạch bệnh cho năng suất cao, ứng dụng công nghệ vi sinh để sản xuất các loại phân bón thuốc trừ sâu, thuốc thú y, chế biến thức ăn gia súc gia cầm để thích ứng với biến đổi khí hậu Ngoài ra KH-CN sau thu hoạch và chế biến nông sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hạn chế rủi ro Chủ TT đầu tư trang thiết bị kỹ thuật phục vụ sản xuất làm cho quá trình SXKD của TT mang tính hiện đại hóa, sản phẩm đạt chất lượng cao, tối thiểu được chi phí, tối đa được lợi nhuận và PTBV

Qua nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT theo hướng bền vững trên cho thấy có mối quan hệ biện chứng và tác động lẫn nhau: Với tiềm năng về tự nhiên

và nguồn lực sản xuất dồi dào sẽ là điều kiện thuận lợi để tăng thêm năng lực nội tại của

TT như: (Tăng quy mô tích tụ đất, tăng khả năng huy động vốn, tăng chất lượng lao động trong TT, tăng khả năng tiếp cận thị trường …); là điều kiện để phát triển cơ cấu hạ tầng,

mở rộng thị trường, đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn một cách toàn diện; cơ cấu hạ tầng, thị trường phát triển mạnh tạo điều kiện tăng năng lực nội tại của TT, khai thác tốt tiềm năng về điều kiện tự nhiên góp phần làm tăng các nguồn lực sản xuất của TT nói riêng và của xã hội nói chung Nhà nước thực hiện tốt vai trò quản

Trang 38

lý tác động tích cực đến phát triển của cơ cấu hạ tầng, năng lực nội tại của TT và thị trường tiêu thụ… Từ đó cũng tác động làm cho KTTT phát triển theo hướng bền vững

và ngược lại yếu kém của các yếu tố này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến yếu tố khác và làm cho sự phát triển KTTT thiếu tính bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế trang trại

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

1.2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

KTTT Việt Nam tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn của đất nước, KTTT phát triển theo các định hướng của Đảng và Nhà nước KTTT có các bước phát triển vượt bậc và tăng mạnh qua các năm, tuy nhiên để phù hợp với kinh tế thị trường, Nhà nước đã điều chỉnh về tiêu chí của TT, số lượng TT biến động giảm mạnh như sau: theo Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 04/7/2003, Thông tư sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT năm 2010 cả nước có 145.880 TT với diện tích đất sử dụng khoảng 8.074 ha, theo thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT năm 2011 giảm còn 20.065 TT tương đương giảm 86% so với tổng số lượng TT năm 2010, trong đó (TT trồng trọt chiếm 43%; TT chăn nuôi chiếm 30,9%; TT thủy sản chiếm 22,1%; TT tổng hợp chiếm 3,7% và TT lâm nghiệp chiếm 0,3%); cho đến 2014 thì toàn quốc có tổng số là 29.498 TT giảm gần 80% so với năm 2010, nhưng tăng 47% so với năm

2011 [Báo cáo số 1540, 2019] Năm 2019 TT sử dụng tổng diện tích đất là 131.137

ha, so với diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trong cả nước chiếm 0,6% (cả nước 22.913.000 ha), trong đó: TT trồng trọt 8.798 TT chiếm 29,83%, TT chăn nuôi 10.974

TT chiếm 37,20%, TT lâm nghiệp 430 TT chiếm 1,46%, TT thủy sản 5.268 TT chiếm

17,86%, TT tổng hợp 4.028 TT chiếm 13,66% [Báo cáo số 1540, 2019] Như vậy sự

phân bổ các TT khá đa dạng nhưng tập trung nhiều nhất ở 4 loại hình là TT chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản và tổng hợp Chính sự đa dạng của các loại hình KTTT trên đây cũng đang đặt ra yêu cầu phải xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù và phù hợp với từng loại hình SXKD của các TT ở mỗi lĩnh vực cụ thể

Việc cấp giấy chứng nhận (GCN) cho KTTT đạt tiêu chí TT đã triển khai nhưng còn rất chậm ở nhiều địa phương, đã gây không ít khó khăn và thiệt thòi cho các chủ TT trong việc huy động nguồn lực, mở rộng quy mô sản xuất

Sau khi có Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT về quy định tiêu chí và thủ tục cấp GCN KTTT thì số lượng TT được cấp GCN đến nay đạt 6.274/29.498 TT (chiếm 21,27%) Sở dĩ hiện nay các địa phương không cấp được GCN cho các TT đạt tiêu chí, một mặt các chủ TT không mặn mà trong việc làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận vì

Trang 39

giá trị của giấy chứng nhận không đủ cơ sở để vay được vốn của ngân hàng Mặt thứ hai là tiêu chí quy định trong Thông tư 27 chưa phù hợp với các địa phương và các vùng miền đó là tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa, tiêu chí về diện tích đối với các TT sản xuất rau, hoa, nấm sau Bộ NN&PTNT sửa đổi tiêu chí KTTT theo thông tư số 02/2020/TT-BNN&PTNT

* Đất đai dành cho phát triển kinh tế trang trại

Diện tích đất đai ở khu vực Nam bộ nơi sản xuất hàng hóa tập trung đã phát triển khá mạnh so với các vùng khác trong cả nước, tuy nhiên diện tích TT vẫn phổ biến dao động từ 1-10 ha (86%), TT có qui mô diện tích lớn hơn 31 ha chiếm tỷ lệ

không đáng kể (1,34%), [Báo cáo số 1540, 2019]

Theo số liệu báo cáo năm 2014 của 51/63 tỉnh thành cả nước có tổng diện tích đất đang sử dụng cho KTTT là 131.137 ha, so với diện tích đất nông nghiệp đang sử

dụng trong cả nước chiếm 0,6% (cả nước 22.913.000 ha), [Báo cáo số 1540, 2019]

Diện tích đất đai dùng cho TT trồng trọt là 89.430 ha, bình quân 10,2 ha/TT;chăn nuôi 16.777 ha, bình quân 1,5 ha/TT; tổng hợp 12.636 ha, bình quân 3,1 ha/TT; lâm nghiệp 6.739 ha, bình quân 15,7 ha/TT; thủy sản 6.442 ha, bình quân 1,2

ha/TT [Báo cáo số 1540, 2019]

Nguồn gốc đất đai của các loại hình TT chủ yếu là diện tích của gia đình được cấp và khai hoang còn diện tích đất thuê và chuyển đổi là không đáng kể Đặc điểm đất đai của các loại hình TT manh mún, quy mô nhỏ lẻ, không tập trung Do vậy trong thời gian tới Nhà nước cần phải có chính sách đất đai phù hợp tạo điều kiện để các nông hộ hoặc TT tích tụ đất đai, mở rộng thêm qui mô sản xuất Các chính sách này cần ổn định lâu dài giúp cho hộ nông dân và TT yên tâm đầu tư và cải tạo đất nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất

* Vốn và tiếp cận vốn trong phát triển kinh tế trang trại

Hiện nay nguồn vốn để SXKD của các chủ TT chủ yếu là vốn tự có và vốn vay Một số địa phương đã có chính sách hỗ trợ lãi suất cho chủ TT, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp Thực tế việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi đối với TT vẫn gặp rất nhiều khó khăn Chính sách cho vay tín chấp quy định trong Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ ít có tác dụng do các ngân hàng vẫn e ngại mức độ rủi ro cao của SXNN Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ đã có kế hoạch sửa đổi Nghị định 41/2010/NĐ-CP về tín dụng nông nghiệp Vì vậy trong thời gian tới Chính phủ cần có chính sách nâng mức vay tín dụng tín chấp và bổ sung chính sách bảo lãnh tín dụng trong trường hợp sản xuất gặp rủi ro về thiên tai, dịch bệnh đối với các TT thuộc lĩnh vực trồng trọt, còn lĩnh vực chăn nuôi đã có quy định trong Quyết định

Trang 40

719/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm

Qua báo cáo cho thấy số vốn đầu tư bình quân của các loại hình TT, ta thấy đầu tư vốn lớn nhất loại hình TT thủy sản ở Bắc trung bộ và DHMT là 15,25 tỷ đồng/TT, đầu tư vốn lớn thứ 2 loại hình TT tổng hợp ở Trung du và MNPB là 12,4

tỷ đồng/TT, vốn đầu tư thấp nhất loại hình TT tổng hợp ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu

Long là 54 triệu đồng/TT, [Báo cáo số 1540, 2019]

* Lao động và trình độ lao động

Nguồn gốc xuất thân của chủ TT chủ yếu là thành phần nông dân, hình thành

TT xuất phát từ kinh tế hộ SXNN tại địa phương, một số chủ TT xuất thân từ các thành phần kinh tế khác như công nhân, doanh nhân, kỹ sư… là những người có điều kiện về vốn, kiến thức phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, đồng thời tích cực tham gia thành viên hợp tác xã nông nghiệp, điển hình như các chủ TT trồng chè, cây ăn quả Đặc trưng của các chủ TT là những người có ý chí vươn lên làm giàu, cần cù chịu khó lao động, nỗ lực, tích cực nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm sản xuất thực tế, có hiểu biết nhất định về thị trường

- Theo báo cáo của các tỉnh, cơ cấu lao động của TT trong cả nước như sau: + Lao động là chủ hộ trực tiếp tham gia sản xuất chiếm 43,32%

+ Lao động làm việc thường xuyên bình quân 6-11 người/TT

+ Lao động làm việc có tính chất thời vụ bình quân từ 5-6 người/TT

- Trình độ lao động:

+ Lao động chưa qua đào tạo: 57%

+ Lao động đã qua đào tạo nhưng không có chứng chỉ: 6%

+ Lao động có trình độ sơ cấp, trung cấp: 24%

+ Lao động có trình độ cao đẳng, đại học: 13%

+ Thu nhập bình quân của các TT đạt 2,5-5 triệu/tháng

- Lực lượng lao động là chủ hộ trực tiếp tham gia lao động trong TT chiếm 43,32% là những người trong gia đình có chung huyết thống như: Cha mẹ, vợ chồng, anh em Lực lượng lao động trong TT được phân công, tổ chức một cách gọn nhẹ, linh hoạt đạt được hiệu quả cao Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu SXKD, TT gia đình còn phải thuê mướn lao động bên ngoài nhất là vào thời vụ gieo trồng, thu hoạch Quy mô thuê mướn lao động trong TT tùy thuộc vào quy mô SXKD của TT Trong

TT có hai hình thức thuê lao động chủ yếu đó là: Thuê lao động thường xuyên và thuê lao động thời vụ

Ngày đăng: 22/04/2022, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ NN&PTNT-Tổng cục Thống kê (2003), Thông tư Liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 về hướng dẫn tiêu chí xác định KTTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 về hướng dẫn tiêu chí xác định KTTT
Tác giả: Bộ NN&PTNT-Tổng cục Thống kê
Năm: 2003
2. Bộ NN&PTNT (2010), Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2010
3. Bộ NN&PTNT-Tổng cục Thống kê (2011), Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 về hướng dẫn tiêu chí xác định KTTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về hướng dẫn tiêu chí xác định KTTT
Tác giả: Bộ NN&PTNT-Tổng cục Thống kê
Năm: 2011
4. Bộ NN&PTNT (2014), Báo cáo số 1540/bc-KTHT-HTTT, ngày 20 tháng 11 năm 2014 về thực trạng trang phát triển KTTT hiện nay, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 1540/bc-KTHT-HTTT, ngày 20 tháng 11 năm 2014 về thực trạng trang phát triển KTTT hiện nay
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2014
5. Bộ NN&PTNT (2015), Dự thảo số 7110/BNN-KTHT, ngày 31 tháng 08 năm 2015, về việc góp ý dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển KTTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo số 7110/BNN-KTHT, ngày 31 tháng 08 năm 2015, về việc góp ý dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển KTTT
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2015
6. Carter và Michael R (1998), Tác phẩm “Sự gắn kết chặt chẽ của mối quan hệ ngược giữa kích thước TT với năng suất: Một hướng phân tích theo kinh nghiệm chủ nghĩa về SXNN” công bố năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự gắn kết chặt chẽ của mối quan hệ ngược giữa kích thước TT với năng suất: Một hướng phân tích theo kinh nghiệm chủ nghĩa về SXNN
Tác giả: Carter và Michael R
Năm: 1998
7. Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên(2018) Báo cáo kết quả điều tra KTTT năm 2018, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra KTTT năm 2018
8. Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên(2018) Báo cáo kết quả phát triển KTTT năm 2018, phương hướng và nhiệm vụ phát triển năm 2025, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả phát triển KTTT năm 2018, phương hướng và nhiệm vụ phát triển năm 2025
12. Chính phủ (2010), Nghị quyết số 02/2010/NQ-CP 08 tháng 01 năm 2010 của chính phủ cũng đã nhấn mạnh: Cần giải quyết một số vấn đề về chính sách nhằm hỗ trợ cho các ngành liên quan đến nông nghiệp phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần giải quyết một số vấn đề về chính sách nhằm hỗ trợ cho các ngành liên quan đến nông nghiệp phát triển
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
13. Chính phủ (2010), Nghị định số 41/2010/NĐ-CP 12 tháng 04 năm, về việc chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
14. Chính Phủ (2010), Nghị quyết số 41/2010/NQ-CP 02 tháng 02 năm 2010 của chính phủ cũng đã nhấn mạnh: “Cần giải quyết một số vấn đề về chính sách tín dụng phục vụ phát triển, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cần giải quyết một số vấn đề về chính sách tín dụng phục vụ phát triển, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2010
16. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên(2018-2020), Niên giám thống kê năm 2018-2020, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2018-2020
Nhà XB: Nxb Thống kê
17. Đại học quốc gia Hà Nội (2006), PTBV - Lý thuyết và khái niệm, ĐH quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: PTBV - Lý thuyết và khái niệm
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
18. Trần văn Hà, Nguyễn Khánh Quắc (1999), Kinh tế nông nghiệp gia đình nông trại, Nxb NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp gia đình nông trại
Tác giả: Trần văn Hà, Nguyễn Khánh Quắc
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 1999
19. Đào Hữu Hoà (2005), Vai trò của KTTT trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của KTTT trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Tác giả: Đào Hữu Hoà
Năm: 2005
20. Bùi Đình Hòa (2012), Lựa chọn mô hình KTTT phù hợp với tỉnh Bắc Kạn, Chủ nhiệm đề tài NCKH cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn mô hình KTTT phù hợp với tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Bùi Đình Hòa
Năm: 2012
23. Phạm Văn Khôi (2010), Nghiên cứu các mô hình PTBV TT ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang. Chủ nhiệm đề tài khoa học ĐHKTQD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghiên cứu các mô hình PTBV TT ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Phạm Văn Khôi
Năm: 2010
24. Lê Xuân Lãm (2011), Phát triển KTTT tỉnh Gia Lai theo bền vững, Luận văn tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển KTTT tỉnh Gia Lai theo bền vững
Tác giả: Lê Xuân Lãm
Năm: 2011
25. Phòng kinh tế thành phố Sông Công (2018-2020) “Báo cáo tình hình phát triển trang trại của thành phố Sông Công” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển trang trại của thành phố Sông Công
26. Phòng tài nguyên - môi trường thành phố Sông Công (2018-2020) “Báo cáo tình hình thay đổi đất đai và môi trường của thành phố Sông Công” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thay đổi đất đai và môi trường của thành phố Sông Công

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Từ những đặc trưng đã nêu trên cho thấy rõ ràng kinh tế TT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
nh ững đặc trưng đã nêu trên cho thấy rõ ràng kinh tế TT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc (Trang 21)
- Kinh tế thị trường là điều kiện có tính chất quyết định cho sự hình thành và phát triển KTTT, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KTTT - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
inh tế thị trường là điều kiện có tính chất quyết định cho sự hình thành và phát triển KTTT, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KTTT (Trang 22)
- Sự hình thành và phát triển của KTTT khác với kinh tế nông hộ; Kinh tế nông hộ vốn là kinh tế sinh tồn, kinh tế tự cấp tự túc của nông dân dù môi trường  kinh tế và pháp lý thế nào hộ nông dân vẫn duy trì, tìm cách phát triển kinh tế để đảm  bảo  những - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
h ình thành và phát triển của KTTT khác với kinh tế nông hộ; Kinh tế nông hộ vốn là kinh tế sinh tồn, kinh tế tự cấp tự túc của nông dân dù môi trường kinh tế và pháp lý thế nào hộ nông dân vẫn duy trì, tìm cách phát triển kinh tế để đảm bảo những (Trang 31)
Như vậy kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế TT, vì vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh tế TT là rất  mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thị trường - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
h ư vậy kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế TT, vì vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh tế TT là rất mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thị trường (Trang 33)
* Vị trí địa lý và địa hình địa mạo: - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
tr í địa lý và địa hình địa mạo: (Trang 46)
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất thành phố Sông Công giai đoạn 2018-2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất thành phố Sông Công giai đoạn 2018-2020 (Trang 48)
2.1.2.2. Tình hình Dân số và lao động củathành phố Sông Công - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
2.1.2.2. Tình hình Dân số và lao động củathành phố Sông Công (Trang 51)
- So sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của các loại hìnhTT trong cùng một thời điểm và điều kiện sản xuất để rút ra kếtluận - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
o sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của các loại hìnhTT trong cùng một thời điểm và điều kiện sản xuất để rút ra kếtluận (Trang 59)
Bảng 3.2: Các loại hình trang trại được phân bổ theo đơn vị hành chính của thành phố Sông Công giai đoạn 2018- 2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2 Các loại hình trang trại được phân bổ theo đơn vị hành chính của thành phố Sông Công giai đoạn 2018- 2020 (Trang 65)
Bảng 3.4. Tình hình lao động củatrang trại giai đoan 2018-2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Tình hình lao động củatrang trại giai đoan 2018-2020 (Trang 66)
Bảng 3.6: Thông tin cơ bản của Chủ Trang Trại năm 2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6 Thông tin cơ bản của Chủ Trang Trại năm 2020 (Trang 68)
Bảng 3.7. Tình hình đất đai bình quân của cáctrang trại năm 2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Tình hình đất đai bình quân của cáctrang trại năm 2020 (Trang 69)
3.2.5. Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của loại hình trang trại - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
3.2.5. Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của loại hình trang trại (Trang 71)
Bảng 3.11. Chi phí trung gian của cáctrang trại năm 2020 - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11. Chi phí trung gian của cáctrang trại năm 2020 (Trang 72)
CPSX của các loại hìnhTT ở thành phố Sông Công được thể hiện cụ thể qua bảng sau: - (Luận văn thạc sĩ) Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
c ủa các loại hìnhTT ở thành phố Sông Công được thể hiện cụ thể qua bảng sau: (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w