ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 BÀI THUYẾT TRÌNH Nhóm 11 Các vấn đề chung về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không thực hiện được Hà Nội, Tháng 4 năm 2022 1 Khái niệm Thỏa thuận trọng tài thương mại Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Thỏa thuận trọng tài là các bên đồng ý đưa tất cả h.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
BÀI THUYẾT TRÌNH Nhóm 11: Các vấn đề chung về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận
trọng tài không thực hiện được
Hà Nội, Tháng 4 năm 2022
Trang 21 Khái niệm Thỏa thuận trọng tài thương mại
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì:“Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”
Thỏa thuận trọng tài là các bên đồng ý đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài
ra giải quyết bằng con đường trọng tài Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết để phát sinh thẩm quyền giải quyết của Trọng tài Thương mại
2 Hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại
Theo quy định tại Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010 thì hình thức thoả thuận trọng tài được quy định cụ thể như sau:
- Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng
+ Điều khoản trong hợp đồng: Các bên kí kết hợp đồng đồng thời ghi nhận luôn về việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM là một điều khoản trong hợp đồng
đó
• Ví dụ: Công ty A và công ty B kí hợp đồng mua bán gạo, tại Điều 23 hợp đồng này chỉ rõ: “Mọi tranh chấp có liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng TTTM”
+ Thỏa thuận riêng: Các bên kí kết hợp đồng không ghi nhận việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM thành một điều khoản của hợp đồng mà ghi nhận thỏa thuận này trong một văn bản hoàn toàn tách biệt với tên gọi thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng TTTM hợp đồng đã kí trước đó
Trang 3• Ví dụ: Công ty A và công ty B nói trên kí thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng TTTM các vấn đề phát sinh từ hợp đồng mua bán gạo giữa hai công ty nói trên
- Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
+ Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
+ Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
+ Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
+ Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
+ Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
3 Thỏa thuận trọng tài vô hiệu
3.1 Khái niệm
Các văn bản pháp luật không đưa ra định nghĩa cụ thể về thỏa thuận trọng tài
vô hiệu tuy nhiên có thể hiểu bản chất của thỏa thuận trọng tài vô hiệu là thỏa thuận trọng tài rơi vào tình trạng mất hiệu lực ngay từ ban đầu Thỏa thuận trọng
tài vô hiệu khác với thỏa thuận trọng tài không còn hiệu lực và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được Nếu thỏa thuận trọng tài không còn hiệu lực tức là ban
đầu thỏa thuận trọng tài đã từng có hiệu lực nhưng hiệu lực đó đã không còn; thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài không thể tiến
Trang 4hành được do các cản trở về vật lý hoặc pháp lý thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu tức là ngay từ ban đầu đã mất hiệu lực.
3.2 Quy định của pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về thoả thuận trọng tài
vô hiệu như sau:
1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài quy định tại Điều 2 của luật này.
- Bất cứ tranh chấp nào phát sinh trên thực tế cũng đều cần có cách giải quyết Tuy nhiên, không phải vụ việc nào cũng được giải quyết hay được giải quyết triệt
để, mà nó còn phụ thuộc vào việc tranh chấp đó được gửi đến đúng nơi có thẩm quyền giải quyết hay không Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì để không rơi vào các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trước hết lĩnh vực phát sinh đó phải là lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài được quy định tại Điều 2 Luật trọng tài năm 2010 bao gồm:
+ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
+ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
+ Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
2 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP như sau:
Trang 5- Điều 3 Thoả thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật Trọng tài thương mại: Thoả thuận trọng tài vô hiệu là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại Khi xem xét thoả thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại cần lưu ý một số trường hợp như sau: “Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền
3 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự
- Năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015
và được hiểu là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Như vậy, không có năng lực hành vi dân sự là trường hợp một người không thể tự mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự như:
+ Mất năng lực hành vi dân sự: khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì
+ Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi: là do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
+ Hạn chế năng lực hành vi dân sự: khi người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì Tòa án có thể tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của luật này.
Trang 6Theo quy định tại Điều 16 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng và phải được xác lập dưới dạng văn bản như:
“bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật; thỏa thuận được lập bằng văn bản giữa các bên; thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên; trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác; qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”
5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cũng là các căn cứ tuyên bố một giao dịch dân sự
vô hiệu Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào Lừa dối, đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba trong quan hệ dân
sự vi phạm nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự làm cho bên kia ký kết không đúng với ý chí của họ Đây được xem là một trong các căn cứ để tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu
6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
- Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài những tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh Như vậy, thỏa thuận trọng tài phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, không được vi phạm điều cấm của pháp luật
Trang 7- Trong trường hợp Tòa án tuyên hủy phán quyết trọng tài mà phán quyết này
“Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” (điểm đ Khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010) thì nghĩa vụ chứng minh phán quyết
đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được xác định như sau: + Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 68 Luật TTTM có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp đó;
+ Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều
68, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài
3.3 Ý nghĩa
Việc quy định về thỏa trọng tài vô hiệu có ý nghĩa quan trọng với cả các bên tranh chấp khi soạn thảo thỏa thuận trọng tài:
- Tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng trọng tài xác định thẩm quyền của mình cũng như Tòa án khi cần đánh giá tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
- Đối với các bên khi soạn thảo thỏa thuận trọng tài, quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu giúp các bên tránh được các lỗi khiến thỏa thuận trọng tài vô hiệu dẫn tới tranh chấp không giải quyết được bằng phương thức trọng tài
- Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu là căn cứ để Hội đồng trọng tài xác định xem mình có phẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp không
- Bên cạnh đó, khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì tòa án hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp Nếu trọng tài đã giải quyết thì quyết định trọng tài
đó sẽ bị tòa án hủy theo quy định của pháp luật
4 Thỏa thuận trọng tài không thực hiện được
Trang 84.1 Khái niệm
Cho đến nay pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể nào về khái niệm thoả
thuận trọng tài không thực hiện được Tuy nhiên ta có thể hiểu như sau: thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thoả thuận không trái pháp luật nhưng lại không có các điều kiện thực hiện, không có tính khả thi hoặc không tồn tại đối tượng theo yêu cầu.
4.2 Quy định của pháp luật về thỏa thuận trọng tài không thực hiện được
Thỏa thuận trọng tài không thực hiện được không được quy định rõ ràng trong Luật trọng tài thương mại 2010 Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng, thỏa thuận trọng tài không thực hiện được khi một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là
cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, mà không có người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó và các bên không có thoả thuận khác Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể và không có tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó
và các bên khồn có thoả thuận khác
Hiện nay, để áp dụng thống nhất quy định của pháp luật, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTTM Theo
đó, Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được bao gồm các trường hợp:
– Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài
cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp
Trang 9– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
– Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế
– Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp
=> Như vậy, với quy định nêu trên, pháp luật về trọng tài thương mại hiện
nay đã quy định khá rõ các trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Trang 10Thẩm quyền quyết định thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được: “Việc quyết định thoả thuận trọng tài là không thể thực hiện được thuộc thẩm quyền của Tòa án và trọng tài thương mại Theo đó, trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không Trong trường hợp xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết (khoản 1 Điều 43 LTTTM2010)” Nếu các bên không đồng ý
quyết định của Hội đồng trọng tài thì có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài Khi khiếu nại ra tòa thì quyết định của Tòa án là cuối cùng
4.3 Ý nghĩa
- Đây có thể coi là một bước tiến rõ rệt của pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam, Với việc chỉ rõ những thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, luật đã chỉ rõ thẩm quyền của Tòa án trong những trường hợp này, góp phần hạn chế những tranh chấp về thẩm quyền giữa trọng tài và tóa án trong thực tế
- Thỏa thuận trọng tài ràng buộc trách nhiệm của các bên Qua đó giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết, là một biên pháp tích cực để phòng ngừa các tranh chấp
5 Một số trường hợp đặc biệt về hiệu lực thỏa thuận trọng tài thương mại
Điều 7 Nghị quyết 01/2014 đã đưa ra một số trường hợp đặc biệt, cần lưu ý cụ thể:
Trang 11+ Trường hợp có nhiều thỏa thuận trọng tài được xác lập đối với cùng một nội dung tranh chấp thì thỏa thuận trọng tài được xác lập hợp pháp sau cùng theo thời gian có giá trị áp dụng;
+ Trường hợp thỏa thuận trọng tài có nội dung không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì áp dụng quy định của “Bộ luật dân sự 2015” để giải thích;
+ Khi có sự chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng mà trong giao dịch, hợp đồng đó các bên có xác lập thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì thỏa thuận trọng tài trong giao dịch, hợp đồng vẫn có hiệu lực đối với bên được chuyển giao và bên nhận chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; + Việc gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết tranh chấp trong cùng một vụ kiện được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Các bên thỏa thuận đồng ý gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện; Quy tắc tố tụng trọng tài cho phép gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện
Ngoài ra còn có một số trường hợp quy định tại Khoản 2,3 Điều 5 và Điều 17 Luật Trọng tài thương mại 2010, bao gồm:
+ Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng; + Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất NLHV, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
+ Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản, hợp nhất, sáp nhập, chia tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác