1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận thương lượng và khiếu nại trong thương mại (LTM2)

17 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 97,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 Mã học phần BSL2002 2 NHÓM THƯƠNG LƯỢNG VÀ KHIẾU NẠI TRONG THƯƠNG MẠI Giảng viên TS Hồ Ngọc Hiển Hà Nội 2022 A THƯƠNG LƯỢNG 1 Khái niệm Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bên thứ 3 ( đây là đặc điểm quan trọng nhất nhận dạng phương thức giải quyết.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2

Mã học phần: BSL2002 2

NHÓM THƯƠNG LƯỢNG VÀ KHIẾU NẠI TRONG THƯƠNG MẠI

Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển

Hà Nội-2022

Trang 2

A THƯƠNG LƯỢNG

1 Khái niệm

-Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại

bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bên thứ 3 ( đây là đặc điểm quan trọng nhất nhận dạng phương thức giải quyết này)

-Đây là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng và phổ biến nhất được các bên tranh chấp áp dụng một cách rộng rãi để giải quyết một tranh chấp phát sinh Phương thức này thường được giới thương nhân lựa chọn mỗi khi có tranh chấp phát sinh bởi sự đơn giản của phương thức thực hiện, ít tốn kém lại không bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lý phức tạp, uy tín, bí mật kinh doanh của

họ cũng được bảo đảm tối đa Mức độ phương hại đến hợp tác giữa các bên rất là thấp

và thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi mà thương lượng thành công

Ví dụ 1: Công ty A ký hợp đồng cung cấp cho Công ty B 100 ô tô với thời hạn

giao hàng là 30 ngày kể từ ngày Bên B hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Bên A, sau đó vì lý do đối tác Công ty A không cung cấp được đủ hàng cho Công ty A dẫn đến Công ty A mới chỉ giao được cho Công ty B 20 ô tô dẫn đến Công ty B không thực hiện được công việc của mình, Công ty B có công văn yêu cầu Công ty A bồi thường thiệt hại do việc cung cấp ô tô không đúng số lượng ghi trong hợp đồng với số tiền là 500 triệu đồng, nếu không sẽ khởi kiện Công ty A ra tòa, sau đó Công ty A có

đề nghị gặp mặt công ty B để hai bên thương lượng giảm chi phí bồi thường thiệt hại

2 Đặc điểm

2.1 Về cơ chế giải quyết

Được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết): đây là cơ chế

thông qua việc các bên tranh chấp tự bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết những bất

Trang 3

đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết

Điều kiện để thương lượng một tranh chấp thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn: có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau

2.2 Về hình thức (cách thức) thương lượng

Việc thương lượng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp cả hai cách thức trên Mỗi một cách thức thương lượng có tính ưu việt và hạn chế nhất định

+ Thương lượng trực tiếp: 2 bên gặp nhau để thỏa thuận, Khi gặp nhau hai bên đều có thể bộc lộ ý định của mình một cách thẳng thắn, nêu hết được ý kiến của mình, nắm bắt và thấu hiểu được nguyện vọng của bên kia và do đó các bên có thể giải quyết được tranh chấp Tuy nhiên, trong ngoại thương, thương lượng bằng cách gặp nhau thường tôn kém chi phí và thời gian vì vậy hai bên thường gặp nhau để thương lượng khí có điều kiện thuận lợi và đối với những tranh chấp phức tạp, có trị giá lớn

+ Thương lượng bằng cách khiếu nại và trả lời khiếu nại ( thương lượng gián tiếp)

Thông thường bên bị vi phạm gửi đơn khiếu nại kèm theo các chứng từ làm bằng chứng cho bên vi phạm và bên vi phạm trả lời đơn khiếu nại đó Việc gửi đơn khiếu nại và trả lời khiếu nại được thực hiện thông qua thư từ, telex, fax kết quả của việc thương lượng trực tiếp bằng cách khiếu nại và trả lời khiếu nại là tranh chấp đã được giải quyết xong hoặc vẫn chưa được giải quyết Từ đó, khiếu nại và trả lời khiếu nại là một phương pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng giữa hai bên nhằm

Trang 4

mang lại hậu quả pháp lý là thỏa mãn được hoặc không thỏa mãn yêu cầu của bên khiếu nại và phương pháp giải quyết tranh chấp này thưòng được gọi ngắn gọn lại là

"khiếu nại"

+ Mặt khác, hai bên cũng có thể gặp nhau để thương lượng sau khi đã thương lượng bằng khiếu nại và trả lời khiếu nại mà chưa đạt được kết quả ( Kết hợp giữa thương lượng trực tiếp và gián tiếp)

Quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp

2.3 Về thực thi kết quả thương lượng

- Trên lý thuyết, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên

- Tuy nhiên trên thực tế nội dung của thương lượng lại có thể có giá trị pháp lý, ràng buộc các bên tham gia vì nó mang bản chất của hợp đồng( do các bên có sự thống

nhất thỏa thuận với nhau)

- Trong trường hợp ở hợp đồng có sự thỏa thuận về việc thương lượng, thì thương

lượng là bắt buộc

 Đánh giá ưu, nhược điểm của thương lượng:

* Ưu điểm

- Thương lượng giữ được quan hệ đối tác, bí mật kinh doanh

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp chỉ có sự tham gia của các bên tranh chấp, không có sự tham gia của người thứ ba, không có sự tham gia của Tòa án hoặc Trọng tài, vì vậy, đây là phương thức giải quyết tranh chấp thân thiện, được các bên ưa chuộng vì nó vừa duy trì dược quan hệ đối tác, vừa giữ được bí mật kinh doanh

Trang 5

Và nếu các bên thiện chí, tranh chấp sẽ bị loại bỏ Điều này sẽ giúp các bên tiết kiệm được chi phí so với việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác.

- Thương lượng không cản trở việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp

khác Đảm bảo quyền tự do định đoạt giữa các bên, có thể linh hoạt lựa chọn

phương án giải quyết

* Nhược điểm:

- Chênh lệnh về sức mạnh giữa các bên thương lượng, bất cân xứng Kết quả k đảm bảo sự công bằng cho bên yếu thế hơn

- K áp dụng đc các biện pháp ngăn chăn, biện khẩn cấp tạm thời như các phương

thức giải quyết tranh chấp khác

- Các bên không thiện chí có thể lợi dụng để trì hoãn, kéo dài thời gian

- Khác với các biện pháp khác đối với thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các bên tranh chấp Sự hiểu biết, thái độ thiện chí của các bên đều tác động đến kết quả cuối cùng Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề tranh chấp, không nhận thức được khả năng thắng thua nếu theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hay thiếu thái độ hợp tác, thiếu thiện chí đều tác động trực tiếp đến khả năng giải quyết tranh chấp của biện pháp này - Trên thực tế, nhiều trường hợp đã lợi dụng những điểm hạn chế này của biện pháp thương lượng để kéo đài thời gian nhất là khi thời hạn khởi kiện sắp kết thúc

-

B KHIẾU NẠI

1 Khái niệm

-Khiếu nại trong việc giải quyết tranh chấp thương mại là việc yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên bị thiệt hại đối với bên gây thiệt hại trong thương mại

Trang 6

Ví dụ: Như ở phần ví dụ 1: Khi mà công ty A không hoàn thành đủ số lượng đã ký sẽ cung cấp đủ cho công ty là 100 ô tô mà chỉ mới giao cho công ty B có 20 ô tô Không những vậy, trong 20 chiếc ô tô mà công ty A cung cấp lại có đến 05 chiếc xe bị lỗi về phần động cơ Việc này gây ảnh hưởng đến công ty B Lúc này, nếu khi gửi công văn

về số tiền bồi thường thiệt hại đến công ty A mà công ty A và công ty B chưa chốt được số tiền bồi thường Công ty B có quyền nộp đơn khiếu nại công ty A đã không cung cấp đủ số hàng cho công ty B và hoàn thành không đúng chất lượng ô tô đã cam kết trong hợp đồng

2 Đặc điểm

2.1 Về quyền khiếu nại

* chủ thể có quyền khiếu nại: Có thể là bên mua hoặc bên thứ ba có liên quan

- Về quyền khiếu nại:

+ Theo Điều 40, LTM 2005:

1.Bên bán sẽ không chấp nhận bất cứ khiếu nại nào về khiếm khuyết của hàng hóa nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết và phải biết về khiếm khuyết đó nhưng tại thời điểm đó lại không có bất cứ ý kiến hay khiếu nại gì Trong trường hợp này, bên mua bị mất quyền khiếu nại

2 Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này ( Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua

đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó) , trong thời hạn khiếu nại theo quy

định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;

=>>> có nghĩa là bên bán sẽ không chấp nhận bất cứ khiếu nại nào về khiếm khuyết của hàng hóa nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết và phải biết về

Trang 7

khiếm khuyết đó nhưng tại thời điểm đó lại không có bất cứ ý kiến hay khiếu nại gì ( có phần mâu thuẫn với Đ 237)

+ Theo K2 Điều 46, LTM 2005:

Trường hợp bên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu trách

nhiệm về các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ

việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua

+ Theo Điều 47 LTM 2005:

1 Bên bán mất quyền viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này nếu bên bán không thông báo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên bán đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba

2 Bên mua mất quyền viện dẫn quy định tại Điều 45 và khoản 1 Điều 46 của Luật này nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba

2.2 Về thời hạn khiếu nại

Căn cứ Khoản 1, Điều 144, Bộ luật Dân sự 2015, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác

Quy định của pháp luật về thời hạn khiếu nại trong hoạt động thương mại Thời hạn khiếu nại căn cứ Điều 318, Luật Thương mại 2005, thời hạn khiếu nại

của hoạt động thương mại được các bên tự do thỏa thuận

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì được xác định như sau:

Ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hoá;

Trang 8

Sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hoá;

 Hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành

 Chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác

Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ được Luật Thương mại 2005, quy định tại điểm đ,e, Khoản 1, Điều 237, thương nhân kinh doanh hoạt động dịch vụ logistics

không phải chịu trách nhiệm hàng hóa phát sinh khi thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày,

kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận; Ngoài ra, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm

về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp: Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị

kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng 2.3 Một số cách thức giải quyết khiếu nại

Khiếu nại có thể được giải quyết bằng một trong những biện pháp sau:

- Bù hàng thiếu hụt bằng những đợt giao hàng riêng hoặc bằng cách giao bổ sung trong đợt giao hàng sau

- Trả lại những hàng đã bị khiếu nại và hoàn lại tiền cho người mua

- Sửa chữa khuyết tật của hàng với phí tổn do người bán chịu

- Thay thế hàng có khuyết tật bằng hàng hóa khác đúng với qui định của hợp đồng và mọi chi phí liên quan đến việc thay thế hàng do người bán chịu

- Giảm giá đối với hàng đã bị khiếu nại hoặc đánh sụt giá toàn bộ hàng theo tỉ lệ thuận với mức khuyết tật

Trang 9

Đối với những hàng chuyên dụng, người ta thường dùng biện pháp thay thế hoặc

sửa chữa hàng bị khiếu nại Còn trong giao dịch về nguyên liệu và lương thực, người

ta thường dùng biện pháp hạ giá hoặc đánh giá sụt giá số hàng bị khiếu nại

 Ý Nghĩa của khiếu nại:

- Thông qua việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại các bên có thể đánh giá được tính ngay thẳng, uy tín của đối phương và qua đó rút ra kết luận là có nên tiếp tục giao dịch với họ nữa hay không

- Khiếu nại sẽ kịp thời bảo vệ quyền lợi cho bên khiếu nại

Khi bên bị khiếu nại thỏa mãn toàn bộ hay một phần yêu cầu của đơn khiếu nại thì có nghĩa là quyển lợi của bên khiếu nại được phục hồi Từ đó khiếu nại góp phần bảo đảm quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của các nhà kinh doanh Nếu không khiếu nại thì quyền lợi bị vi phạm không được phục hồi, do đó dẫn đến thiệt hại không những cho cá nhân nhà kinh doanh mà cho toàn bộ hoạt động nói chung

- Khiếu nại là một phương pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng giữa hai bên, không cản trở việc áp dụng các phương pháp giải quyết tranh chấp khác

 Trên thực tiễn, nếu muốn việc khiếu nại được giải quyết dễ dàng và nhanh

chóng thì :

+ Các bên cần phải thỏa thuận rõ ràng và cụ thể về thời hạn khiếu nại trong hợp đồng,

và trong trường hợp hết thời hạn thì hậu quả pháp lý là như thế nào? Vì pháp luật VN hiện tại chưa có quy định rõ và có nhiều mâu thuẫn về vấn đề này

+ Cần lưu ý khi áp dụng Điều 237, khi hết thời hạn khiếu nại, Tuy bên thiệt hại không mất quyền khởi kiện bên kinh doanh dịch vụ logistics nhưng bên kinh doanh dịch vụ logistics vẫn được miễn hoàn toàn trách nhiệm đối với hàng hóa phát sinh

C THƯƠNG LƯỢNG

3 Khái niệm

Trang 10

-Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại

bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bên thứ 3 ( đây là đặc điểm quan trọng nhất nhận dạng phương thức giải quyết này)

-Đây là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng và phổ biến nhất được các bên tranh chấp áp dụng một cách rộng rãi để giải quyết một tranh chấp phát sinh Phương thức này thường được giới thương nhân lựa chọn mỗi khi có tranh chấp phát sinh bởi sự đơn giản của phương thức thực hiện, ít tốn kém lại không bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lý phức tạp, uy tín, bí mật kinh doanh của

họ cũng được bảo đảm tối đa Mức độ phương hại đến hợp tác giữa các bên rất là thấp

và thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi mà thương lượng thành công

Ví dụ 1: Công ty A ký hợp đồng cung cấp cho Công ty B 100 ô tô với thời hạn

giao hàng là 30 ngày kể từ ngày Bên B hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Bên A, sau đó vì lý do đối tác Công ty A không cung cấp được đủ hàng cho Công ty A dẫn đến Công ty A mới chỉ giao được cho Công ty B 20 ô tô dẫn đến Công ty B không thực hiện được công việc của mình, Công ty B có công văn yêu cầu Công ty A bồi thường thiệt hại do việc cung cấp ô tô không đúng số lượng ghi trong hợp đồng với số tiền là 500 triệu đồng, nếu không sẽ khởi kiện Công ty A ra tòa, sau đó Công ty A có

đề nghị gặp mặt công ty B để hai bên thương lượng giảm chi phí bồi thường thiệt hại

4 Đặc điểm

4.1 Về cơ chế giải quyết

Được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết): đây là cơ chế

thông qua việc các bên tranh chấp tự bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết

Ngày đăng: 22/04/2022, 12:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w