2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI 2 ĐỀ TÀI TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI VÀ ĐẠI DIỆN THƯƠNG NHÂN Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hà Nội, Tháng 42022 I MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI 1 Khái niệm Căn cứ vào Điều 150 Luật Thương Mại 2005, môi giới thương mại là hoạt động trung gian thương mại, theo đó bên môi giới thương mại là một thương nhân có vai trò làm trung gian cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (hay gọi cách khác là bên được mô.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ TÀI: TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI: MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI
VÀ ĐẠI DIỆN THƯƠNG NHÂN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 4/2022
Trang 2I MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm
Căn cứ vào Điều 150 Luật Thương Mại 2005, môi giới thương mại là hoạt động trung gian thương mại, theo đó bên môi giới thương mại là một thương nhân có vai trò làm trung gian cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (hay gọi cách khác là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới thương mại
Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng với công ty B để môi giới tiêu thụ hàng hóa do bên A sản xuất ra, khi đó giữa công ty A và công ty B có quan hệ hợp đồng môi giới thương mại Công ty B tìm được công ty C có nhu cầu mua hàng hóa của công ty A, giữa công ty B và công ty C cũng
có thể có quan hệ môi giới thương mại nếu như Công ty C muốn thông qua công ty B để môi giới mua những hàng hóa công ty C đang cần
2 Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng môi giới thương mại gồm bên môi giới và bên được môi giới Trong đó bên môi giới phải là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để thực hiện hoạt động môi giới thương mại nhưng ngành nghề kinh doanh không cần phải trùng với ngành nghề kinh doanh của các bên được môi giới Bên được môi giới không nhất thiết phải là thương nhân
Thứ hai, Nội dung hoạt động môi giới thương mại rất rộng, bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nhau như: tìm kiếm và cung cấp thông tin
về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành các hoạt động giới thiệu
Trang 3hàng hóa dịch vụ môi giới đến người được môi giới thu xếp để các bên tiếp xúc với nhau …
Thứ ba, mục đích của bên môi giới thương mại là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên thù lao được trả từ hoạt động môi giới
Thứ tư, Phạm vi của môi giới thương mại được mở rộng ra bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như môi giới mua bán hàng hóa, môi giới bảo hiểm, môi giới chứng khoán, môi giới thuê máy bay, môi giới tàu biển, môi giới bất động sản…Tùy từng lĩnh vực sẽ được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan
Thứ năm, Hoạt động môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi giới thương mại Hình thức hợp đồng môi giới thương mại không được Luật thương mại 2005 quy định Tuy nhiên các bên nên cân nhắc ký hợp đồng bằng văn bản để cụ thể hóa quyền và lợi ích của mình, hạn chế tranh chấp phát sinh
* Nội dung của hợp đồng môi giới thương mại:
Thông tin của bên môi giới và bên được môi giới bao gồm: địa chỉ trụ sở, mã số thuế, đại diện theo pháp luật…
Đối tượng và nội dung môi giới: trung gian môi giới hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ…
Quyền và nghĩa vụ của bên môi giới (Đ151):
+ Được quyền tiến hành các nghiệp vụ trung gian tìm khách hàng mua/bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ bằng các hình thức môi giới
+ Bảo quản các hàng hóa, tài liệu được giao để thực hiện công việc môi giới và hoàn trả cho bên được môi giới khi công việc hoàn thành
Trang 4+ Tư vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ mà mình môi giới
+ Đảm bảo bí mật thông tin đối với những tài liệu, văn bản, thông tin mà bên được môi giới cung cấp
+ Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới nhưng không phải chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ
+ Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới cho phép thực hiện
Quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới (Đ152):
+ Yêu cầu bên môi giới bảo mật thông tin, không cung cấp các thông tin làm phương hại đến lợi ích của mình
+ Yêu cầu bên A bảo quản các mẫu hàng hóa, tài liệu để thực hiện việc môi giới và hoàn trả cho mình sau khi hoàn thành việc môi giới thương mại
+ Thanh toán phí môi giới đúng hạn
+ Chịu các chi phí liên quan đến quảng cáo để thực hiện việc môi giới thương mại nếu hai bên không có thỏa thuận khác
+ Các quyền và nghĩa vụ khác
Vi phạm hợp đồng: quy định các chế tài xử lý trong trường hợp các bên vi phạm hợp đồng
Điều khoản về chấm dứt hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng: Các trường hợp hợp đồng chấm dứt hiệu lực, các trường hợp được
Trang 5đơn phương chấm dứt hợp đồng, nghĩa vụ thông báo khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, xử lý vi phạm khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật
Điều khoản về bảo mật thông tin: Định nghĩa thông tin mật, nghĩa
vụ bảo mật thông tin của các bên trong hợp đồng môi giới thương mại
và trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ bảo mật
Giải quyết tranh chấp: Quy định phương thức giải quyết tranh chấp: thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài…
3 Bình luận
Môi giới thương mại là một loại hình dịch vụ được phát triển ở nước
ta trong những năm gần đây Môi giới thương mại là một hoạt động thương mại và được pháp luật điều chỉnh tại Luật thương mại 2005 Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy hoạt động môi giới vẫn gặp khá nhiều vướng mắc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chính ngành dịch vụ này cũng như nền kinh tế Nhóm xin được chỉ ra một số điểm hạn chế của ngành nghề môi giới mà pháp luật chưa điều chỉnh
Môi giới thương mại được hiểu theo Điều 150 Luật Thương mại
2005 là “hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”
So với các hoạt động trung gian thương mại khác (ủy thác, đại lý thương mại ) được quy định trong Luật Thương mại 2005, có thể thấy
Trang 6đối với môi giới thương mại luật không quy định về hình thức của hợp đồng, trong khi đó các hoạt động trung gian thương mại khác đều có quy định về hình thức của hợp đồng phát sinh giữa bên thực hiện dịch
vụ và bên nhận dịch vụ Việc không đề cập tới vấn đề hình thức của hợp đồng môi giới thương mại, điều này tạo điều kiện cho các hoạt động môi giới có thể tiến hành nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên việc không quy định như vậy cũng có mặt trái, đó là làm phát sinh những vấn đề tiềm
ẩn về tranh chấp giữa các bên thực hiện dịch vụ môi giới và bên được môi giới Trên thực tế có những hợp đồng môi giới được giao kết với giá trị lớn như môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới đưa người lao động ra nước ngoài làm việc… việc không quy định về hình thức của hợp đồng rất dễ gây rủi ro cho các bên đặc biệt là những hợp đồng có giá trị lớn như trên
Như vậy, để tránh những vướng mắc này xảy ra giữa các bên, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về hợp đồng mội giới thương mại sao cho
có sự phù hợp, thống nhất với các hoạt động môi giới chuyên ngành khác
Một vướng mắc khác mà hoạt động môi giới thương mại trong thực tế gặp phải, đó là vấn đề về chế độ thanh toán chi phí, thù lao Thù lao trong hoạt động thương mại là khoản tiền mà bên được môi giới phải trả cho bên môi giới khi bên môi giới giúp bên được môi giới làm việc với bên thứ ba Thù lao có thể bao gồm cả những chi phí mà bên môi giới bỏ
ra khi thực hiện công việc giao dịch, được gọi là chi phí môi giới Luậ Thương mại 2005 chưa có quy định về trường hợp khi các bên không có thỏa thuận thì khi nào bên môi giới được hưởng thù lao môi giới, khi nào
Trang 7được hưởng chi phí môi giới Hay trường hợp bên môi giới ký hợp đồng môi giới với cả hai bên được môi giới thì thù lao tính như thế nào Chính
vì vậy pháp luật cần có quy định rõ hơn về thù lao môi giới, ví dụ như nếu bên được môi giới giao kết thành công hợp đồng với bên thứ ba, thì thù lao môi giới phải do cả hai bên này cùng thanh toán; nếu giao kết hợp đồng với bên thứ ba không thành công thì bên được môi giới phải thanh toán thù lao bao gồm cả chi phí môi giới mà bên môi giới đã bỏ ra Đối với trường hợp bên môi giới giao kết hợp đồng với cả hai bên được môi giới thì thù lao được xét trong mối quan hệ giao dịch thương mại, chứ bên môi giới không thể hưởng thù lao từ cả hai bên được môi giới trong cùng một giao dịch
Việc điều chỉnh các quy định pháp luật về hoạt động môi giới
là rất cần thiết, tạo điều kiện cho ngành dịch vụ này được tiến hành dễ dàng, thuận tiện hơn, tránh được nhiều rủi ro phát sinh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế phát triển
II Đại diện cho thương nhân
1 Khái niệm và đặc điểm
1.1 Khái nệm
Theo điều 134 Bộ luật dân sự 2015, đại diện là việc một cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Quan hệ đại diện
có thể thiết lập trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và bao gồm 2 loại: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Đại diện theo ủy quyền là quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện Đại diện theo pháp luật là đại diện theo
Trang 8quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật
Điều 141 Luật Thương mại quy định: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy quyền (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện Từ quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại hiện hành có thể khẳng định đại diện của thương nhân là một dạng của đại diện theo ủy quyền được thực hiện trong hoạt động thương mại
Ví dụ: Thương nhân A ký hợp đồng làm đại diện tiêu thụ các loại bánh kẹo do thương
nhân B sản xuất Thương nhân A không được bán bánh kẹo của mình hoặc của người
khác trong thời gian làm đại diện cho thương nhân B
1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đại diện Trong quan hệ đại diện cho thương nhân thì
cả bên đại diện và bên giao đại diện đều phải là thương nhân Bên giao đại diện là một thương nhân có quyền thực hiện những hoạt động thương mại nhất định (như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại) nhưng lại muốn trao quyền đó cho thương nhân khác, thay mình thực hiện hoạt động thương mại Bên đại diện cho thương nhân cũng phải là thương nhân thực hiện đại diện một cách chuyên nghiệp.) Trong quan hệ với bên giao đại diện, bên đại diện sẽ nhân danh chính mình
Trang 9nhưng trong quan hệ với bên thứ ba thì họ sẽ nhân danh bên giao đại diện, chứ không nhân danh chính mình Do đó, trong phạm vi ủy quyền, bên đại diện được giao dịch với bên thứ ba và mọi hành vi do bên đại diện thực hiện trực tiếp mang lại hậu quả pháp lý cho bên giao đại diện Khi bên đại diện giao dịch với bên thứ ba thì về mặt pháp lý, các hành vi
do người này thực hiện được xem như là chính người ủy quyền (người giao đại diện) thực hiện Bên giao đại diện phải chịu trách nhiệm về các cam kết do bên đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền Đây là điểm khác biệt cơ bản của hoạt động đại diện cho thương nhân so với các hoạt động trung gian thương mại khác Trong quan hệ đại diện cho thương nhân, giữa bên đại diện và bên giao đại diện có sự ràng buộc khá chặt chẽ
Thứ hai, nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do các bên tham gia quan hệ thoả thuận Các bên có thể thỏa thuận về việc bên đại diện được thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện Hoạt động đại diện cho thương nhân bao gồm việc tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho thương nhân giao đại diện và được tiến hành trong suốt thời gian đại diện, không giới hạn vào một vụ việc cụ thể Bên đại diện cho thương nhân có thể được ủy quyền tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kết hợp đồng với bên thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đại diện Cùng một lúc, bên đại diện có thể tiến hành hoạt động này cho nhiều thương nhân trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Thứ ba, quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh trên cơ sở hợp
Trang 10đồng đại diện Quan hệ đại diện cho thương nhân là một dạng riêng của quan hệ đại diện theo ủy quyền được quy định trong Bộ luật Dân sự Bởi vậy, hợp đồng đại diện cho thương nhân là một dạng đặc biệt của hợp đồng ủy quyền Khác với hợp đồng ủy quyền trong dân sự chỉ mang tính chất đền bù khi được thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, hợp đồng đại diện cho thương nhân luôn mang tính chất đền bù
Hợp đồng đại diện cho thương nhân được giao kết giữa các thương nhân với nhau (giữa thương nhân giao đại diện và thương nhân đại diện), thương nhân giao đại diện phải có quyền thực hiện hoạt động thương mại mà mình ủy quyền, thương nhân đại diện phải có đăng kí kinh doanh dịch vụ đại diện Hợp đồng đại diện cho thương nhân là một dạng riêng của hợp đồng ủy quyền được quy định trong Bộ luật Dân sự nhưng đồng thời là hợp đồng dịch vụ Bởi vậy, đối tượng mà hợp đồng đại diện cho thương nhân là những công việc mà bên đại diện phải tiến hành trên danh nghĩa và theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (điều 142 Bộ luật thương mại)
Một số điểm đặc thù của đại diện thương nhân so với đại diện theo ủy quyền được quy định trong luật dân sự ở những điểm sau:
• Về chủ thể: bắt buộc phải là thương nhân Đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự có thể là bất kì ai miễn là đáp ứng đủ điều kiện về năng lực chủ thể
• Về mục đích hoạt động đại diện: hoạt động đại diện cho thương nhân có mục đích sinh lời Quan hệ đại diện giữa họ gắn liền với
Trang 11lĩnh vực hoạt động thương mại của thương nhân như mua bán hàng hóa, cung ứng các dịch vụ thương mại hay thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại Quy định về đại diện trong Bộ luật dân sự không nhất thiết phải có mục đích này
• Về hình thức hợp đồng: hợp đồng đại diện cho thương nhân quy định trong luật thương mại phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Hợp đồng ủy quyền không nhất thiết phải thể hiện bằng văn bản
2 Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân
Do quan hệ giữa bên đại diện và bên giao đại diện được thiết lập thông qua hợp đồng nên các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ đại diện cho thương nhân chủ yếu được xác định thông qua các điều khoản của hợp đồng Ngoài các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, bên đại diện và bên được đại diện còn có quyền và nghĩa vụ theo luật định (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)
2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên đại diện với bên giao đại diện
2.1.1 Nghĩa vụ của bên đại diện
Trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên giao đại diện không những cho phép mà còn ủy quyền cho bên đại diện quan hệ với bên thứ ba mà còn thường xuyên giao tiền và tài sản của mình cho bên đại diện quản lý Vì vậy, nếu bên đại diện sơ suất hay thiếu trung thực
có thể làm ảnh hưởng tới bên giao đại diện Do đó, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều quy định bên đại diện có nghĩa vụ phải phục tùng,