2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI 2 ĐỀ TÀI ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA – ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI (TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI) Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hà Nội, Tháng 42022 MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 3 I ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA 4 1 1 Khái niệm và đặc điểm 4 1 2 Quyền và nghĩa vụ 5 1 3 Chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa 9 II ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 9 2 1 Khái niệm và đặc điểm 9 2 2 Các hình thức của đại lý thương mại 12 2 3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong qua.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ TÀI: ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA – ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI
(TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI)
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 4/2022
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các thươngnhân thông qụa mua bán là điều kiện quan họng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Khi muabán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trường, tùy thuộc vào đối tượng giao dịch, thời gian giaodịch, thị trường cũng như tính chất, thời cơ của từng thương vụ, thương nhân có thể lựa chọnphương thức giao dịch cho phù hợp
Giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đómọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hàng hoá (người cung ứng dịch vụ vàngười sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch phải thông qua một người trunggian Trong phương thức giao dịch qua trung gian sẽ xuất hiện một chủ thể thứ ba, người này
Trang 3đứng ở vị trí độc lập với hai bên còn lại trong quan hệ và là người thực hiện dịch vụ theo sự ủyquyền và vì lợi ích của người khác để hưởng thù lao Phương thức giao dịch qua trung gian đượcthực hiện chủ yếu trong lĩnh vực phân phối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông qua bêntrung gian giúp họ tiếp cận với khách hàng, với người tiêu dùng một cách nhanh chóng hơn
Ở Việt Nam, theo quy định trong Luật thương mại 2005, hoạt động trung gian thương mạiđược xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặcmột số thương nhân được xác định bao gồm: Đại diện cho thương nhân; Môi giới thương mại; Ủythác mua bán hàng hóa và Đại lý thương mại Trong bài viết này, nhóm em sẽ nghiên cứu, tìm
hiểu và trình bày hai hình thức trung gian thương mại là Ủy thác mua bán hàng hóa và Đại lý thương mại
I - ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Khái niệm và đặc điểm
1.1.1 Khái niệm:
Theo Điều 155 Luật thương mại 2005, uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại,theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo nhữngđiều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác
1.1.2 Đặc điểm:
Uỷ thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiệnviệc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủythác và được nhận thù lao ủy thác Như vậy, ủy thác mua bán hàng hóa có bản chất là quan hệ mua
hộ, bán hộ để hưởng thù lao
Trang 4Thứ nhất, chủ thể của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa:
Bên ủy thác: không nhất thiết phải là thương nhân, có thể là tổ chức, cá nhân có nhu cầugiao cho bên trung gian thực hiện việc mua, bán hàng hóa theo yêu cầu của mình và trả thù lao
Bên nhận ủy thác: là thương nhân thực hiện việc mua bán hàng hóa theo điều kiện đã thỏathuận với bên ủy thác và nhận thù lao Bên nhận ủy thác là tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanhmặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác
Thứ hai, nội dung của hoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá bao gồm việc giao kết, thực
hiện hợp đồng ủy thác giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác và giao kết, thực hiện hợp đồng muabán hàng hoá giữa bên nhận uỷ thác với bên thứ ba theo yêu cầu của bên uỷ thác Nội dung củahoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá hẹp hơn so với nội dung của hoạt động đại diện cho thươngnhân Bên đại diện cho thương nhân có thể được bên giao đại diện uỷ quyền thực hiện nhiều hành
vi thương mại khác nhau, trong khi bên nhận uỷ thác chỉ được bên uỷ thác uỷ quyền mua hoặc bánhàng hoá cụ thể nào đó cho bên thứ ba
Hoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá cũng rất khác hoạt động môi giới thương mại Bên môi giớithương mại không giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ thươngmại Những hợp đồng này do các bên được môi giới giao kết trực tiếp với nhau Bên môi giớikhông tham gia quá trình thực hiện hợp đồng Còn bên nhận uỷ thác trực tiếp giao kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hoá với bên thứ ba
Thứ ba, việc uỷ thác mua bán phải được xác lập bằng hợp đồng Hợp đồng uỷ thác mua
bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương
Trong trường hợp, bên nhận uỷ thác giao kết hợp đồng uỷ thác không nằm trong phạm vikinh doanh của mình thì hợp đồng đó vi phạm Điều 156 Luật thương mại năm 2005 và có thể bịtuyên bố vô hiệu
Theo Điều 513 BLDS2015, hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá là một loại hợp đồng dịch
vụ, do đó đối tượng của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá là công việc mua bán hàng hoá do
Trang 5bên nhận uỷ thác tiến hành theo sự uỷ quyền của bên uỷ thác Hàng hoá được mua bán theo yêucầu của bên uỷ thác là đối tượng của hợp đồng mua bán giao kết giữa bên nhận uỷ thác với bênthứ ba chứ không phải đối tượng của hợp đồng uỷ thác
Khi giao kết hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, các bên có thể thoả thuận và ghi vào hợpđồng các điều khoản sau: Hàng hoá được uỷ thác mua bán, số lượng, chất lượng, quy cách, giá cả
và các điều kiện cụ thể khắc của hàng hoá được uỷ thác mua hoặc bán thù lao uỷ thác; thời hạnthực hiện hợp đồng uỷ thác Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các bên có thể thoả thuận vàghi vào hợp đồng những nội dụng khác như các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: tráchnhiệm giải quyết khiếu nại với khách hàng, trách nhiệm tài sản của các bên khi vi phạm hợp đồng;thủ tục giải quyết tranh chấp, các trường hợp miễn trách nhiệm
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ủy thác đối với bên ủy thác
1.2.1.1 Nghĩa vụ của bên nhận ủy thác
Điều 165 Luật Thương mại 2005 quy định trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên nhận ủythác có các nghĩa vụ như sau:
Một là, thực hiện việc mua bán hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác
Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên nhận ủy thác Bên nhận ủy thác cần tuân thủ đầy
đủ các thỏa thuận với bên ủy thác về việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng với bên thứ ba
Đó là những thỏa thuận về số lượng, chất lượng, quy cách, giá cả của hàng hóa được ủy thác mua
Trang 6hoặc bán Nếu bên nhận ủy thác vi phạm các quy định của hợp đồng ủy thác dẫn tới việc kí hợpđồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba gây thiệt hại cho bên ủy thác (ví dụ: Kí hợp đồng bán hàngthấp hơn giá do bên ủy thác ấn định) thì bên nhận ủy thác có trách nhiệm đền bù cho bên ủy thácnhững thiệt hại phát sinh Những nếu bên nhận ủy thác kí hợp đồng với khách hàng theo nhữngđiều kiện thuận lợi hơn so với các điều kiện bên ủy thác đặt ra thì Luật Thương mại 2005 khôngquy định cụ thể khoản chênh lệch đó thuộc về bên ủy thác hay bên nhận ủy thác Do đó, trên thực
tế các bên có thể thỏa thuận cụ thể để phân chia phần lợi chênh lệch này
Bên nhận ủy thác kí hợp đồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba và phải tự mình thực hiệnhợp đồng ủy thác mua hoặc bán hàng hóa đã kí, không được ủy thác lại cho bên thứ ba thực hiệnhợp đồng, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác (theo Điều 160 LuậtThương mại 2005)
Hai là, thông báo cho bên ủy thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng
ủy thác, ví dụ như những biến động của thị trường, các yêu cầu cụ thể của bên thứ ba, khả nănggiao kết hoặc không giao kết được hợp đồng với bên thứ ba, việc thực hiện hợp đồng của bên thứ
ba, …
Ba là, thực hiện các chỉ dẫn của bên ủy thác phù hợp với thỏa thuận Khi nhận được những
chỉ dẫn cụ thể của bên ủy thác, bên nhận ủy thác phải nghiêm chỉnh thực hiện, trừ trường hợp chỉdẫn đó là trái với quy định của pháp luật hoặc không phù hợp với hợp đồng ủy thác Bên nhận ủythác cũng có thể không thực hiện không thực hiện chỉ dẫn của bên ủy thác nếu việc thực hiện theocác chỉ dẫn này có khả năng gây thiệt hại cho bên ủy thác và bên nhận ủy thác không thể chờ xinchỉ dẫn mới của bên ủy thác
Bốn là, bảo quản những tài sản, tài liệu mà bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác để thực
hiện công việc ủy thác Bên nhận ủy thác phải chịu trách nhiệm trước bên ủy thác về sự mất mát,
hư hỏng tài sản, tài liệu mà bên ủy thác giao, trừ trường hợp chứng minh được những mất mát, hưhỏng xảy ra không do lỗi của mình
Trang 7Năm là, thanh toán tiền hàng (nếu được ủy thác bán hàng); giao hàng mua được
(nếu được ủy thác mua hàng) cho bên ủy thác theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác
Sáu là, giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng ủy thác Bảy là, liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác nếu nguyên
nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra
1.2.1.2 Quyền của bên nhận ủy thác
Điều 164 Luật thương mại 2005, bên nhận ủy thác có các quyền sau, trừ trường hợp cácbên có thỏa thuận khác:
+ Yêu cầu bên ủy thác cũng cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng ủy thác; + Nhận thù lao ủy thác và các chi phí hợp lí khác;
+ Không chịu trách nhiệm về hàng hóa đã bàn giao đúng thỏa thuận cho bên ủy thác
1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác đối với bên nhận ủy thác
1.2.2.1 Nghĩa vụ của bên ủy thác
Theo Điều 163 Luật Thương mại 2005, bên ủy thác có các nghĩa vụ sau đây, trừ trường hợp cácbên có thỏa thuận khác:
+ Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
+ Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác;
+ Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;
+ Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyênnhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật
1.2.2.2 Quyền của bên ủy thác
Trang 8Theo Điều 162 Luật thương mại 2005, bên ủy thác có các quyền sau đây, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác:
+ Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác;
+ Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật, trừ trường hợpbên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ýlàm trái pháp luật
Trên đây là các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa Các bên
có quyền thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như đối với bên còn lại, tuy nhiêncác thỏa thuận này không được trái các quy định của pháp luật
1.3 Chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Pháp luật thương mại không quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy thác hànghóa nhưng căn cứ theo điều 422 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng này chấm dứt trong nhữngtrường hợp sau:
(i) Hợp đồng đã được hoàn thành
(ii) Theo thỏa thuận của các bên
(iii) Cá nhân giao kết hợp đồng đã chết, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, pháp nhân giaokết hợp đồng chấm dứt tồn tại, bên nhận ủy thác mất tư cách thương nhân
(iv) Hợp đồng ủy thác bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
(v) Các bên không thể thỏa thuận được việc thay đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trongmột thời hạn hợp lý (Điều 420 luật này)
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hợp đồng dịch vụ nên căn cứ vào Điều 520 BLDS
2015 thì bên ủy thác có thể đơn phương chấm dứt việc thực hiện hợp đồng khi:
Trang 9+ Việc tiếp tục thực hiện dịch vụ không có lợi cho mình (nhưng phải báo trước cho bên được ủyquyền, trả tiền công cho phần việc đã được thực hiện và bồi thường thiệt hại)
+ Bên được ủy quyền vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ (có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại)
II - ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI
2.1.Khái niệm và đặc điểm
2.1.1 Khái niệm
Khái niệm đại lý thương mại được được xem xét đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ ngôn ngữ, từ điển từ ngữ Hán – Việt của tác giả Nguyễn Lân có giải thích “đại lý” cónguồn gốc từ chữ hán, theo đó “đại” có nghĩa là thay thế, “lý” có nghĩa là quản lý, thu xếp, xử lý
Dưới góc độ kinh tế, “đại lý” là phương thức kinh doanh, một cách thức tổ chức mạnglưới kinh doanh, mạng lưới phân phối (tiêu thụ) hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở kinh doanh
Dưới góc độ pháp lý, tại Điều 166 Luật thương mại 2005, khái niệm đại lý thương mại
được định nghĩa như sau: ““Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý
và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” Đây được
xem là khái niệm chung nhất về hoạt động ĐLTM Theo quy đinh này, hoạt động đại lý không chỉđược hiểu là một hình thức trung gian, một mắt xích trong kinh doanh mà còn khái quát được bảnchất và phạm vi của hoạt động ĐLTM
2.1.2 Đặc điểm của đại lý thương mại
Đại lý thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau đây
Thứ nhất, đại lý thương mại là hoạt động trung gian thương mại Hoạt động đại lý bao gồm
việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý và giao kết, thực hiệnhợp đồng mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý với bên thứ ba theo yêu cầucủa bên giao đại lý Luật Thương mại năm 2005 đã mở rộng phạm vi hoạt động đại lý sang cả đại
lý dịch vụ (như đại lý bảo hiểm, đại lý làm thủ tục hải quan, đại lý internet ) chứ không bó hẹp ởhoạt động đại lý mua bán hàng hoá như quy định tại Luật Thương mại năm 1997
Trang 10Thứ hai, về chủ thể trong quan hệ đại lý thương mại có sự tham gia của ba chủ thể là bên
giao đại lý, bên đại lý và bên thứ ba bất kì và song song tồn tại hai nhóm quan hệ: (i) quan hệ đại
lý thương mại giữa bên giao đại lý và bên đại lý; (ii) quan hệ mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ giữa bên đại lý và bên thứ ba Các quan hệ này phát sinh trên quan hệ hợp đồng Các chủ thểtham gia có mối quan hệ mật thiết và bổ trợ cho nhau Quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý
là tiền đề cho những giao dịch của bên đại lý và bên thứ ba Bên giao đại lý là bên có nhu cầu, ủyquyền cho bên đại lý thực hiện việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ Từ đó bên đại lý nhândanh chính mình tiến hành giao dịch với bên thứ ba, vì lợi ích của bên giao đại lý và nhận đượcthù lao
Trong quan hệ đại lý thương mại bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân
Theo Điều 167 LTM 2005 quy định: “Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ; Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hàng hoặc bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ”
Như vậy, trong quan hệ đại lý thương mại, bên đại lý và bên giao đại lý đều phải là thươngnhân, đây là một điểm khác biệt so với quan hệ môi giới thương mại và ủy thác mua bán hànghóa
Thứ ba, bên đại lý nhân danh chính mình thực hiện giao dịch thương mại với bên thứ ba, vì
lợi ích của bên giao dịch đại lý để hưởng thù lao.Khác với quan hệ đại diện cho thương nhân, quan hệ hợp đồng được xác lập giữa bên đại lý và bên thứ ba, bên đại lý nhân danh chính mình chứ không nhân danh bên giao đại lý, các bên ràng buộc trách nhiệm pháp lý với nhau mà không liên quan đến bên giao đại lý Trừ một số trường hợp về trách nhiệm chất lượng hàng hóa hay chấtlượng dịch vụ quy định tại Khoản 2 Điều 173 LTM 2005 hoặc quy định trách nhiệm liên đới với bên đại lý trong trường hợp bên đại lý vi phạm pháp luật mà có phần lỗi của bên giao đại lý tại Khoản 5 Điều 173 LTM 2005 Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ hợp đồng đại lý, bên đại lý có quyền tự do lựa chọn bên thứ ba để ký kết hợp đồng