1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa tiêu thụ thức uống có đường và thừa cân ở học sinh thành phố Hồ Chí Minh

9 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 849,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa cân ở trẻ em được quan tâm đặc biệt vì nó dẫn đến thừa cân ở tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành. Thừa cân ở trẻ em tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường và tử vong sớm ở tuổi trưởng thành; giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và nhiều nguy cơ trẻ bị trêu chọc, bắt nạt và cô lập xã hội. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ thừa cân béo phì và mối liên quan với tần suất tiêu thụ thức uống có đường (sugar-sweetened beverage -SSB) ở học sinh lứa tuổi từ 6 đến 17 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng

354

MỐI LIÊN QUAN GIỮA TIÊU THỤ THỨC UỐNG CÓ ĐƯỜNG

VÀ THỪA CÂN Ở HỌC SINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bùi Thị Kiều Anh 1 , Lý Thành Trung 1 , Lê Văn Tuân 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thừa cân ở trẻ em được quan tâm đặc biệt vì nó dẫn đến thừa cân ở tuổi vị thành niên và tuổi

trưởng thành Thừa cân ở trẻ em tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường và tử vong sớm ở tuổi trưởng

thành; giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và nhiều nguy cơ trẻ bị trêu chọc, bắt nạt và cô lập xã hội

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì và mối liên quan với tần suất tiêu thụ thức uống có đường

(sugar-sweetened beverage -SSB) ở học sinh lứa tuổi từ 6 đến 17 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1545 học sinh lứa tuổi từ 6 đến 17

tuổi, đại diện cho các cấp lớp từ lớp 1 đến lớp 12 từ ba vùng: thành thị, bán thành thị và nông thôn tại Thành phố

Hồ Chí Minh Học sinh được khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, được cân đo cân nặng chiều cao hiện tại

Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh từ 6 đến 17 tuổi thừa cân béo phì lần lượt là 22,9% và

17,0% Trong số các loại thức uống có đường, loại nước giải khát được học sinh tiêu thụ nhiều nhất là nước ép,

nước ngọt cola, nước uống không ga và sữa có hương vị/trà sữa Những học sinh tiêu thụ tần suất cao những

loại thức uống có đường bao gồm nước tăng lực, sữa có đường và trà sữa/sữa có vị có cân nặng nhẹ hơn so với

học sinh tiêu thụ những thức uống này với tần suất ít thường xuyên hơn

Kết luận: Chú trọng đưa ra các chiến sách, biện pháp để kiểm soát sự sẵn có của SSB tại trường học, bữa ăn

tại trường cung cấp các lựa chọn thực phẩm lành mạnh, căng tin lành mạnh

Từ khóa: thừa cân, béo phì, thức uống có đường

ABSTRACT

SUGAR-SWEETENED BEVERAGE CONSUMPTION CORRELATES WITH OVERWEIGHT AMONG SCHOOL CHILDREN IN HO CHI MINH CITY

Bui Thi Kieu Anh, Ly Thanh Trung, Le Van Tuan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 354 - 362

Background: Childhood overweight is of special concern because of its lead to overweight in adolescence and

adulthood Overweight in children increased risk of cardiovascular diseases, diabetes and premature mortality in

adulthood and are associated with significant reductions in quality of life and a greater risk of teasing, bullying

and social isolation

Objective: To explore the proportions of overweight/obesity and its correlation with sugar-sweetened

beverage consumption among school children aged from 6 to 17 years old in Ho Chi Minh city

Method: The cross-sectional study was implemented on 1545 school children aged from 6 to 17 years old,

represented for 1 st to 12 th grade class from three areas (urban, semi-urban, and rural) in Ho Chi Minh city

Children were interviewed face to face by questionnaire and were measured about weight, height

Results: The results showed that among school children aged from 6 to 17 years, the percentage of

overweight and obese was 22.9% and 17.0% respectively Among types of sugar-sweetened beverage, the type of

beverage which children consumed most were squash, colas, non-carbonated drink, and flavored milk/milk tea For

those who consumed high regular energy drinks, milk with added sugar and milk tea had less weight than those

Tác giả liên lạc: ThS Bùi Thị Kiều Anh ĐT: 0906801279 Email:buithikieuanh85@gmail.com

Trang 2

consumed less regular ones

Conclusion: For control availability of SSB at school, school meal offer healthy food choices, healthy canteen

should be considered

Key words: overweight, obesity, sugar-sweentened beverage

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thừa cân béo phì đã trở thành một vấn đề

sức khỏe cộng đồng và là một yếu tố nguy cơ

chính của bệnh mãn tính, gánh nặng tàn tật và

tử vong(1) Thừa cân ở trẻ em được quan tâm đặc

biệt vì nó dẫn đến thừa cân ở tuổi vị thành niên

và tuổi trưởng thành Ước tính một nửa số trẻ

em trong độ tuổi đi học bị thừa cân sẽ trở nên

thừa cân khi trưởng thành(2) Thừa cân trong giai

đoạn đầu đời không chỉ liên quan đến việc gia

tăng tỷ lệ mắc các rối loạn liên quan đến thừa

cân, mà còn liên quan đến sức khỏe tâm lý Các

nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan thuận

giữa thừa cân ở trẻ em và tăng nguy cơ mắc các

bệnh tim mạch, tiểu đường và tử vong sớm ở

tuổi trưởng thành(3) Ngoài ra, thừa cân và béo

phì ở trẻ em có liên quan đến việc giảm đáng kể

chất lượng cuộc sống và nhiều nguy cơ trẻ bị

trêu chọc, bắt nạt và cô lập xã hội(4)

Tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em về cơ bản

tăng trên toàn thế giới trong những năm gần

đây Tỷ lệ béo phì ở độ tuổi 2-19 tuổi là 13,9%

năm 1999-2000, tăng lên 16,9% năm 2009-2010 và

tăng lên 18,5% vào năm 2015-2016(5) Nhiều nước

“chuyển đổi dinh dưỡng” ở Đông Nam Á được

cho là có tốc độ gia tăng tỷ lệ thừa cân nhanh

hơn so với các nước phát triển(6) Sự phát triển

kinh tế - xã hội và đô thị hóa nhanh cùng với sự

thay đổi trong thói quen ăn uống và gia tăng

tình trạng thiếu hoạt động thể lực được coi là

một trong những yếu tố môi trường xã hội quan

trọng quyết định đến nguy cơ béo phì ở trẻ em ở

các nước đang phát triển

Trẻ em ngày càng tiêu thụ nhiều thực phẩm

không lành mạnh có nhiều năng lượng, chất béo

và đường bổ sung là vấn đề rất đáng quan tâm,

vì nó có liên quan đến chất lượng chế độ ăn

uống kém, tăng cân quá mức, béo phì và nguy

cơ mắc các bệnh không lây nhiễm(7,8) Thức uống

có đường (sugar sweetened beverage - SSB) như một dạng đường bổ sung hàng đầu đang được đặc biệt chú ý Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa tiêu thụ SSB với việc tăng trọng lượng cơ thể(7,9) Tuy nhiên, những nghiên cứu mối liên quan giữa tiêu thụ SSB và béo phì thường được tiến hành trong chế độ ăn uống của phương Tây Bằng chứng về mối liên quan giữa việc tiêu thụ SSB và tăng trọng lượng cơ thể trong chế độ ăn uống của phương Đông chưa được báo cáo đầy đủ

Ở Việt Nam, tỷ lệ thừa cân béo phì tăng nhanh, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên ở khu vực thành thị Nhiều nghiên cứu về tình trạng thừa cân và béo phì đã được tiến hành, nhưng ở các nhóm tuổi cụ thể(10-12) Một nghiên cứu xem xét vấn đề này ở trẻ em trong độ tuổi đi học từ 6 đến 17 tuổi là rất quan trọng, cần thiết

Từ tỷ trọng này, xu hướng tỷ lệ thừa cân giữa các nhóm tuổi sẽ được xem xét

Thành phố Hồ Chí Minh có sự phát triển kinh tế xã hội và công nghiệp hóa nhanh chóng, cùng với sự phát triển đó, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em tăng nhanh ở mức báo động chỉ trong vòng chưa đầy một thập kỷ Tỷ lệ thừa cân

và béo phì lần lượt là 5,9% và 0,7% vào năm

2002, tăng gấp ba lần lên 17,8% và 3,2% vào năm

2010(10) Kết quả cho thấy tình trạng thừa cân, béo phì ở thanh thiếu niên thành phố Hồ Chí Minh tăng cao Việc tiêu thụ SSB có thể là nguyên nhân một phần dẫn đến sự gia tăng này

Việt Nam đã thiết lập và triển khai các chương trình nâng cao sức khỏe, cụ thể là Chương trình Dinh dưỡng học đường nhằm thúc đẩy hoạt động thể chất và thói quen dinh dưỡng tốt từ năm 2004-2010 với mục đích ngăn ngừa tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên(13) Tuy nhiên, giảm thiểu chế độ

ăn uống nghèo nàn như tiêu thụ SSB vẫn chưa tập trung vào chương trình quốc gia này Kết

Trang 3

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng

356

quả về tỷ lệ thừa cân béo phì và mối liên quan

của nó với SSB và các yếu tố kinh tế xã hội khác

từ nghiên cứu này có thể góp phần xây dựng

chiến lược trong Chương trình Dinh dưỡng học

đường nhằm kiểm soát tình trạng thừa cân ở học

sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và

Việt Nam nói chung

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu

xác định tỷ lệ thừa cân béo phì và mối liên quan

giữa thừa cân béo phì với tần suất tiêu thụ SSB

và các yếu tố kinh tế xã hội khác ở học sinh lứa

tuổi từ 6 đến 17 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh,

Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Trên 1530 học sinh lứa tuổi từ 6 đến 17 tuổi

được chọn ngẫu nhiên, đại diện cho các cấp lớp

từ lớp 1 đến lớp 12 từ ba vùng: thành thị, bán

thành thị và nông thôn tại Thành phố Hồ Chí

Minh (TP HCM) trong năm 2017

Tiêu chí chọn vào

Học sinh đang học tại các trường tiểu học,

trung học cơ sở và trung học phổ thông tại thời

điểm tiến hành nghiên cứu tháng 10/2017 và

đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc được sự chấp

thuận của cha mẹ/người nuôi dưỡng cho tham

gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra

Học sinh vắng mặt trong cả 2 lần khảo sát

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Cỡ mẫu

Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ

trong dân số:

Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ 11-14 tuổi tại

Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt là 17,8% và

3,2% vào năm 2013(10) Áp dụng công thức trên

với p=0,21; độ chính xác là d=0,05, với hệ số thiết

kế là 2,0 Cỡ mẫu là 510 học sinh cho mỗi vùng,

chúng ta có tổng số mẫu là 1530

Kỹ thuật chọn mẫu

Nghiên cứu sử dụng chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn

Thành phố Hồ Chí Minh được chia tách hành chính thành 24 quận với: 7 quận nội thành (quận 1,3,4,5,10, Phú Nhuận, Bình Thạnh); 12 quận bán nội thành (quận 2, 6,7,8,9,11,12, Tân Bình, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân, Tân Phú) và 5 quận ngoại thành (huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Nghiên cứu tiến hành trên 3 quận huyện: quận 5, quận Tân Phú

và huyện Hóc Môn được chọn ngẫu nhiên đơn làm đại diện tương ứng cho 3 vùng đô thị: vùng thành thị, bán thành thị và nông thôn

Hơn 90% trẻ em và vị thành niên từ 6-17 tuổi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của các quận, huyện trên địa bàn thành phố Vì vậy, nghiên cứu đã được thực hiện ở các trường giúp cho việc khảo sát trở nên

dễ dàng và hiệu quả hơn

Một trường tiểu học, một trường trung học

cơ sở và một trường trung học phổ thông cho mỗi quận, huyện đã được chọn ngẫu nhiên từ danh sách tất cả các trường bao gồm cả trường công lập và trường tư thục do Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh cho năm học

2017-2018 Ở mỗi trường lựa chọn ngẫu nhiên hai lớp theo mỗi cấp học (lớp 1 đến lớp 5 đối với tiểu học và từ lớp 6 đến lớp 9 đối với trung học cơ sở

và lớp 10 đến lớp 12 đối với trung học phổ thông) theo danh sách cung cấp bởi Ban Giám Hiệu nhà trường Dựa trên danh sách chi tiết của học sinh cho từng lớp, mỗi lớp có 17 trẻ, 22 trẻ và

29 trẻ được chọn ngẫu nhiên hệ thống tương ứng ở các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Với 72 lớp từ 9 trường ở

TP Hồ Chí Minh, số trẻ dự kiến là 1.530 trẻ, gồm

510 trẻ ở thành thị, 510 trẻ ở bán thành thị và 510 trẻ ở nông thôn

Biến số nghiên cứu

Biến số kết cục là tình trạng thừa cân, béo phì

Trang 4

ở học sinh thông qua đo về cân nặng, chiều cao

Dữ kiện về thông tin chung và tiêu thụ SSB được

thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp học sinh

thông qua bảng câu hỏi Điều tra viên được tập

huấn bài bản đã tiến hành cân đo và giải thích

mục đích nghiên cứu, phỏng vấn trực tiếp từng

học sinh tại 1 phòng riêng được bố trí tại trường

Bảng câu hỏi dành cho học sinh bao gồm các

thông tin chung (tên, tuổi, lớp, giới tính); khẩu

phần ăn sử dụng bảng câu hỏi tần suất thực

phẩm liên quan đến tiêu thụ SSB trong 12 tháng

qua (loại, khẩu phần, tần suất) Danh mục các

thức uống có đường được minh họa bằng tranh

ảnh có màu cho học sinh nhận diện

Công cụ đo lường, cách đánh giá phân loại

Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì

Đo nhân trắc học về cân nặng, chiều cao:

Cân nặng của học sinh khi mặc quần áo nhẹ

không đi giày, chính xác đến 100g bằng cân điện

tử Xiaomi Smart Scale Chiều cao được đo bằng

khoảng cách từ đỉnh đầu đến chân dưới của bàn

chân không mang giày, chính xác đến 0,1 cm

bằng cách sử dụng thước đo băng dính

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng

cân nặng (kilôgam) chia cho bình phương

chiều cao (mét) Chỉ số BMI là một phép đo

hợp lý và thích hợp nhất để đánh giá tình

trạng dinh dưỡng ở trẻ em và thanh thiếu

niên(14) Điểm z-score BMI được tính bằng cách

sử dụng tham chiếu của WHO 2007 về BMI

theo tuổi ở trẻ em từ 5-19 tuổi(15) Thừa cân

được định nghĩa là BMI theo tuổi lớn hơn 1 độ

lệch chuẩn (SD) trên mức trung bình tham

chiếu tăng trưởng của WHO; và béo phì được

định nghĩa là lớn hơn 2 SD; béo phì nặng được

định nghĩa là lớn hơn 3 SD so với mức trung

bình tham chiếu tăng trưởng của WHO

Đo lường mức tiêu thụ thức uống có đường:

Nghiên cứu này sử dụng Bảng câu hỏi tần

suất thực phẩm bán định lượng của Harvard

(Food Frequency Questionnaire - FFQ) phù hợp

với trẻ em và thanh thiếu niên, không tốn kém

và đơn giản để áp dụng cho dân số lớn(16) FFQ

này đã loại trừ các câu hỏi liên quan đến uống rượu và cà phê vì tần suất uống của chúng thấp trong dân số mục tiêu tại nghiên cứu FFQ liên quan đến tần suất tiêu thụ các loại thức uống cụ thể trong 12 tháng qua, bao gồm nước ngọt (không có ga, năng lượng thông thường, đồ uống thể thao, cola, đá bào); nước ép, sinh tố, sữa (sữa có đường, trà sữa/sữa có vị và sữa lắc)

Bảng câu hỏi SSB sử dụng khẩu phần phụ thuộc vào từng loại đồ uống cụ thể là chai, lon, thủy tinh Kích thước khẩu phần thông thường được ghi lại theo thể tích của từng loại đồ uống (khoảng 250-700 ml phù hợp với đồ uống cụ thể)

và số lượng khẩu phần mỗi lần: ít hơn ½ khẩu phần mỗi lần, ½-3/4 khẩu phần mỗi lần, 1 khẩu phần mỗi lần và 2 phần ăn mỗi lần(17) Đối với mỗi loại SSB, phân bố tần suất được chia thành 9 nhóm bao gồm dưới một lần mỗi tháng, 1-3 lần mỗi tháng, 1 lần mỗi tuần, 2-4 lần mỗi tuần, 5-6 lần mỗi tuần, 1 lần mỗi ngày, 2-3 lần mỗi ngày, 4-5 lần mỗi ngày, hơn 6 lần mỗi ngày(18)

Tần suất tiêu thụ thấp thức uống có đường được định nghĩa khi tiêu thụ thức uống có đường với tần suất ít hơn 2 đến 4 lần trong tuần (từ phân loại mức 1 đến mức 4 trong Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm bán định lượng của Harvard) Tần suất tiêu thụ cao thức uống có đường được định nghĩa khi tiêu thụ thức uống có đường với tần suất trên 5-6 lần trong tuần (từ phân loại mức 5 đến mức 9 trong Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm bán định lượng của Harvard)

Xử lý và phân tích số liệu

Dữ kiện được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, xử lý và phân tích dữ kiện bằng phần mềm thống kê STATA 14.0 Để ước tính tỷ lệ thừa cân

ở trẻ em, chỉ số BMI được tính bằng cách sử dụng tài liệu tham khảo của WHO 2007 về BMI theo tuổi ở trẻ em từ 5-19 tuổi(14) Kiểm định chi bình phương và kiểm định chính xác Fisher được sử dụng để đánh giá mức độ ý nghĩa của

sự khác biệt trong phân bố các đặc điểm của học sinh được chọn (giới tính, lớp học, vị trí trường học); với tỷ lệ thừa cân và tiêu thụ SSB Kiểm

Trang 5

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng

358

định t-test không bắt cặp được sử dụng để so

sánh hai nhóm độc lập Giá trị p <0,05 được coi

là có ý nghĩa thống kê

Y đức

Nghiên cứu được thông qua Hội đồng y đức

của Tổ chức y tế thế giới số

65696/WPVNM1611355; được sự cho phép của

Sở Y tế TP HCM và Sở Giáo dục và Đào tạo TP

Hồ Chí Minh

KẾT QUẢ

Có 1545 học sinh được phỏng vấn, với tỷ lệ

phản hồi đạt được là 101%, toàn bộ phiếu khảo

sát đều được trả lời đầy đủ các thông tin

Đặc tính mẫu nghiên cứu

Trong số 1545 học sinh, số học sinh nữ và

nam gần tương đương nhau Nhóm tuổi 15 – 17

tuổi tương ứng học khối lớp 10, lớp 11, lớp 12

chiếm tỷ lệ cao nhất dao động 10,7% - 11,4%;

nhóm tuổi 6 – 10 tuổi tương ứng học khối lớp 1

đến khối lớp 5 chiếm tỷ lệ thấp nhất, dao động

khoảng 6,5% mỗi khối lớp Tỷ lệ học sinh từ các

trường trong vùng thành thị, bán thành thị và

nông thôn gần tương đương nhau (Bảng 1)

Bảng 1: Đặc tính dân số xã hội học sinh (n=1545)

Nhóm tuổi

Cấp học

Vị trí trường

Tỷ lệ thừa cân béo phì học sinh 6-17 tuổi

Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ học sinh từ 6 đến 17

tuổi thừa cân béo phì lần lượt là 22,9% và 17,0%

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thừa cân, béo phì và béo phì nặng giữa giới tính, cấp học và vị trí trường học với p <0,05 Tỷ lệ thừa cân, béo phì và béo phì nặng chiếm tỷ lệ cao nhất

ở học sinh tiểu học (chiếm gần 58%), ở thành thị

và bán thành thị (49,1% với 37,1%) cao hơn ở nông thôn (33,7%) và ở nam sinh cao gấp đôi so với nữ sinh (52,7% với 26,9%)

Bảng 2: Tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinh 6-17 tuổi phân theo giới, cấp học và vị trí trường (n=1545)

Giới tính

Cấp học

Vị trí trường

*p <0,05 (chi -square test) ** p <0,001 (chi- square test)

Trang 6

Bảng 3: Tỷ lệ tiêu thụ thức uống có đường (SSB) ở học sinh 6-17 tuổi (n=1545)

Tần suất tiêu

thụ

Loại SSB (n, %)

tươi/đóng hộp

Sữa Không có

ga

Năng lượng

Đồ uống thể thao Colas

Sinh tố đá bào

Sữa có đường

Trà sữa/sữa

có vị Sữa lắc

1 lần mỗi

Kết quả Bảng 3 cho thấy tỷ lệ từng loại thức

uống được tiêu thụ ở trẻ em và thanh thiếu niên

6- 17 tuổi Trong số các loại thức uống có đường,

loại nước giải khát được trẻ em tiêu thụ nhiều

nhất là nước ép, nước ngọt cola, nước uống

không ga và sữa có hương vị/trà sữa; lần lượt

chiếm 82%, 78%, 74%, 71% Hầu hết trẻ uống

nước ngọt với tần suất lớn nhất là 1 lần / tuần là

34% (không có ga), 33% (năng lượng) và 37%

(nước thể thao) Hơn 60% trẻ em cho biết chúng

tiêu thụ cola với tần suất từ 1 lần/tuần trở lên Đa

số trẻ chọn sữa có đường là thức uống hàng

ngày Gần 72% số trẻ tham gia nghiên cứu uống

sữa hoặc trà sữa có hương vị, trong đó 1/5 số

chúng uống đôi khi với tần suất ít hơn 1-3 lần

mỗi tháng và số còn lại uống hàng tuần Sữa lắc

là thức uống mới xuất hiện vài năm trở lại đây

tại TP.HCM, tuy nhiên có 20% trẻ uống ít nhất 1

lần / tháng, trong đó 50% trẻ uống hàng tuần

Mối liên quan thừa cân béo phì với tiêu thụ thức uống có đường ở học sinh 6-17 tuổi

Bảng 4 chỉ ra rằng có ý nghĩa thống kê trong

mối liên quan giữa cân nặng và việc tiêu thụ tần suất cao nước có năng lượng, sữa có đường và trà sữa/sữa có vị Ở tất cả học sinh được chọn, đối với những trẻ uống nhiều nước có năng lượng thường xuyên gần như mỗi ngày có cân nặng nhẹ hơn những trẻ ít uống hơn, chiếm trung bình lần lượt là 39 kg và 46 kg (p <0,001)

Tương tự, kết quả giống nhau đối với sữa có đường và trà sữa/sữa có vị Trẻ uống sữa có pha thêm đường hàng ngày có cân nặng nhẹ hơn so với trẻ uống sữa ít thường xuyên hơn (trung bình 42,6 kg so với trung bình 49,5 kg); và những trẻ tiêu thụ nhiều trà sữa/sữa có vị thường xuyên (trung bình 42 kg) nhẹ cân hơn những trẻ tiêu thụ ít thường xuyên hơn (trung bình 47 kg) với

cả hai p <0,001

Bảng 4: Mối liên quan giữa cân nặng với tiêu thụ thức uống có đường ở học sinh 6-17 tuổi (n=1545)

Đặc

tính

Tần suất tiêu thụ các loại thức uống có đường (TB±ĐLC)

Tần suất

thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Giới tính

0

47,7

±19,9

49,4±17,

0

39,7±12,9

48,8±17,

51.8±16,

3

46,2±15,6

3

41,3±15,9

**

3

37,1±13,8

45,7±12,

5

39,0±11,1

47,2±12,

8

38,8±11,3

Cấp học Tiểu

*

33,1±10,

Trang 7

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng

360

Đặc

tính

Tần suất tiêu thụ các loại thức uống có đường (TB±ĐLC)

Tần suất

thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

Tần suất thấp a Tần suất

cao b

THC

S

48,7±11,

49,1±11,

50,3±11,

49,2±11,

48,4±10,

48,4±10,

58,0±12,

57,2±12,

58,4±12,

6

55,5±11,4

6

55,5±11,4

*

Vị trí trường Thàn

h thị

48,1±16,

48,4±16,

51,0±16,

48,3±16,

51,4±16,

2

44,9±15,8

2

44,9±15,8

*

Bán

thành

thị

45,1±14,

45,7±14,

45,4±14,

3

39,2±12,5

6

41,6±13,0

6

41,6±13,0

*

Nông

thôn

44,5±14,

44,1±14,

46,1±14,

45,0±14,

50,2±12,

3

41,6±13,6

3

41,6±13,6

**

46,0±15,

2

39,1±11,8

46,2±15,

49,5±14,

8

42,6±14,2

5

42,1±13,7

**

a Tần suất tiêu thụ thấp thức uống có đường được định nghĩa khi tiêu thụ thức uống có đường với tần suất ít hơn 2 đến 4

lần trong tuần (từ phân loại mức 1 đến mức 4 trong Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm bán định lượng của Harvard (Food

Frequency Questionnaire – FFQ)

b Tần suất tiêu thụ cao thức uống có đường được định nghĩa khi tiêu thụ thức uống có đường với tần suất trên 5-6 lần trong

tuần (từ phân loại mức 5 đến mức 9 trong Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm bán định lượng của Harvard (Food Frequency

Questionnaire – FFQ)

* t- test với p<0,05 **t-test với p<0,001

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ thừa cân và béo

phì ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 17 tuổi

lần lượt là 22,9% và 17,0% Kết quả này cho thấy

xu hướng thừa cân và béo phì trong hơn một

thập kỷ đã tăng lên lần lượt hai lần và tám lần: tỷ

lệ thừa cân và béo phì của nghiên cứu trước đó

tại TP Hồ Chí Minh năm 2004 (lần lượt là 11,7%

và 2,1%) và năm 2013 (lần lượt 17,8% và 3,2%)

Có sự khác biệt về tỷ lệ thừa cân giữa các điểm

trường ở thành thị, bán thành thị và nông thôn

Sự sẵn có ngày càng nhiều của các loại thực

phẩm và đồ uống giàu năng lượng đang đóng

một vai trò trong việc gia tăng tỷ lệ béo phì được

báo cáo ở các khu vực thành thị của các nước

đang phát triển

Hơn 50% trẻ em và thanh thiếu niên từ 6-17

tuổi TP Hồ Chí Minh trong nghiên cứu tiêu thụ

lượng đường bổ sung từ thức uống có đường

Nước ép tươi/đóng hộp là một loại thức uống có

đường mà học sinh tiêu thụ lớn nhất và đá bào

được báo cáo là chiếm tỷ lệ thấp nhất Sữa có

đường được tiêu thụ khoảng 70% Khoảng một

phần ba trẻ em và thanh thiếu niên uống một khẩu phần tất cả các loại SSB mỗi tuần Nhìn chung khoảng 30% học sinh thường xuyên tiêu thụ nước ngọt, nước ép trái cây và cola với tần suất hơn 2-4 lần mỗi tuần Tỷ lệ tiêu thụ SSB với tần suất ít hơn một lần mỗi tháng ở tất cả các loại SSB gần như tương đương nhau ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 17 tuổi Do đó, phân

bố mức tiêu thụ SSB tần suất cao được xác định

là sử dụng SSB với tần suất từ 5 đến 6 lần mỗi tuần trở lên (5 - 6 lần/tuần hoặc 1 lần/ngày, 2 - 3 lần/ngày, 4 - 5 lần/ngày, hơn 6 lần/ngày) để phân tích cho mối liên quan với tình trạng thừa cân béo phì

Phân tích mức tiêu thụ SSB tần suất cao được xác định là sử dụng SSB với tần suất 5-6 lần mỗi tuần trở lên, kết quả cho thấy, trẻ em trai thường uống SSB cao hơn trẻ em gái đối với đồ uống không có ga, nước tăng lực, nước uống thể thao, cola; và ngược lại các bé gái uống nước ép, trà sữa và sữa lắc nhiều hơn các bé trai Học sinh tiểu học thường tiêu thụ sữa có đường, nước trái cây và sinh tố nhiều hơn hai nhóm khác Học

Trang 8

sinh trung học cơ sở tiêu thụ SSB loại không có

ga, nước tăng lực, thức uống thể thao và cola (đồ

uống không tốt cho sức khỏe) với tần suất

thường xuyên hơn so với hai nhóm cấp học

khác Trà sữa là một loại SSB mà học sinh trung

học phổ thông tiêu thụ thường xuyên hơn Khi

so sánh giữa các vùng dân cư, tỷ lệ tiêu thụ SSB

thường xuyên gần như tương tự ở trẻ em và

thanh thiếu niên tại các trường học ở thành thị,

bán thành thị và nông thôn

Thức uống có đường SSB có thể khuyến

khích nạp thêm năng lượng vì chúng có chỉ số

đường huyết cao(19,20) Do đó, việc tiêu thụ SSB

khuyến khích tổng năng lượng được hấp thụ cao

hơn, thúc đẩy tăng cân Nghiên cứu hiện tại đã

xem xét các mối liên quan cắt ngang giữa thừa

cân và tiêu thụ SSB Để xem xét liệu SSB có góp

phần làm tăng cân ở trẻ em và thanh thiếu niên

từ 6-17 tuổi hay không, nghiên cứu hiện tại đã

đề cập đến mối quan hệ giữa cân nặng và một số

loại năng lượng cao của SSB bao gồm thức uống

không có ga, nước tăng lực, đồ uống thể thao,

cola, sữa có bổ sung đường và trà sữa đối với trẻ

em từ 6 đến 17 tuổi tại TP Hồ Chí Minh

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa

cân nặng của học sinh và tiêu thụ nước tăng lực,

sữa có đường và trà sữa Ở tất cả học sinh được

chọn, đối với những trẻ uống nhiều nước tăng

lực với tần suất cao gần như mỗi ngày có cân

nặng nhẹ hơn những trẻ ít uống hơn, chiếm

trung bình lần lượt là 39 kg và 46 kg (p <0,001)

Hình ảnh tương tự đã được báo cáo giống nhau

đối với sữa có thêm đường và trà sữa Trẻ uống

sữa có đường hàng ngày có cân nặng (trung

bình 43 kg) nhẹ hơn so với trẻ uống sữa ít

thường xuyên (trung bình 49 kg); và những trẻ

tiêu thụ nhiều trà sữa thường xuyên có trọng

lượng (trung bình 42 kg) ít hơn những người

tiêu thụ ít thường xuyên hơn (trung bình 47 kg)

với cả hai p <0,001

Phát hiện của chúng tôi rằng việc uống SSB

thường xuyên có liên quan đến tăng cân hơi bất

ngờ Một số nhà nghiên cứu đã gợi ý mối liên

quan thuận giữa việc tiêu thụ SSB và tỷ lệ thừa

cân cao ở thanh niên(7,9,21,22) Một nghiên cứu thuần tập được thực hiện trên 10.000 thanh thiếu niên Hoa Kỳ từ 9-14 tuổi

để đánh giá mối quan hệ giữa sự thay đổi chỉ số BMI và lượng đồ uống có thêm đường đã báo cáo rằng các bé trai và bé gái tăng lượng thức uống có đường với 1 khẩu phần mỗi ngày đã tăng cân hơn những loại có lượng ăn vào không thay đổi (+0,10 kg/m2 và +0,065 tương ứng)(23) Từ kết quả của các nghiên cứu tiền cứu trước đó báo cáo rằng 1 khẩu phần SSB mỗi ngày có thể dẫn đến tăng cân từ 0,7 - 6,8 kg trong 1 năm hoặc trong các nghiên cứu cắt ngang báo cáo rằng nguy cơ thừa cân cao hơn 46% ở nhóm trẻ em tiêu thụ ≥3 khẩu phần SSB mỗi ngày(9) Ngoài sự khác biệt về số đo, sai số đo lường và khoảng thời gian tiến hành nghiên cứu có thể chiếm phần lớn sự khác biệt này

Nghiên cứu hiện tại không phù hợp với các nghiên cứu trước đây có thể được giải thích một phần do sự thiên lệch về việc tự báo cáo giữa những học sinh tham gia và thiếu phân tích lượng calo trong thực phẩm điển hình cụ thể thường được tiêu thụ cùng với SSB để có thể tính toán tổng năng lượng ăn vào của đối tượng

Trẻ em thừa cân thường uống SSB trong quá khứ; tuy nhiên có khả năng chúng uống ít SSB hơn trong khoảng thời gian phỏng vấn vì cha mẹ cấm uống SSB Trẻ em cân nặng bình thường có thể uống bất kỳ loại SSB nào mà không bị cha

mẹ cấm Hơn nữa, nghiên cứu này không phân tích lượng calo trong SSB và lượng calo trong thực phẩm thường được tiêu thụ cùng với SSB

Đối với những trẻ uống SSB thường xuyên có thể có xu hướng ăn ít thức ăn hơn và giảm cân so với những người uống SSB không thường xuyên Hàm lượng chất dinh dưỡng thấp của đồ uống giàu năng lượng như không có ga, nước tăng lực, cola có thể không đủ để duy trì sự phát triển bình thường ở trẻ em vì nó đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng hơn Ngay cả khi sữa và nước

ép trái cây cũng góp phần làm tăng cân, chúng

có lợi ích bổ dưỡng, trong khi cola hoặc nước ngọt chỉ cung cấp calo

Trang 9

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng

362

KẾT LUẬN

Thay đổi thói quen tiêu thụ thức uống có

đường sẽ có khả năng góp phần giảm tình trạng

thừa cân béo phì ở học sinh Hành vi là một chức

năng trong một bộ phận của môi trường vật

chất, môi trường xã hội và các đặc điểm cá nhân

và di truyền Do đó, các yếu tố này càng ổn định

theo thời gian, thì việc thay đổi hành vi sẽ thành

công nhất Tuy nhiên, trong bối cảnh của nghiên

cứu này tập trung vào sự thay đổi của các đặc

điểm cá nhân Đối tượng mục tiêu là trẻ em và

thanh thiếu niên được xác định có thể thiết lập

sự ổn định của hành vi cá nhân bằng cách kiểm

soát sự sẵn có của SSB tại nhà và trường học;

bằng cách vâng lời cha mẹ của chúng về các quy

tắc tiêu thụ SSB và bằng cách tăng giờ hoạt động

thể chất ở trường cũng như ngoài trường

Nghiên cứu can thiệp sâu hơn với các yếu tố can

thiệp này nên được xem xét để có được hiệu quả

lâu dài trong việc giảm béo phì ở trẻ em Chú

trọng đưa ra các chiến sách, biện pháp để kiểm

soát sự sẵn có của SSB tại trường học, bữa ăn tại

trường cung cấp các lựa chọn thực phẩm lành

mạnh, căng tin lành mạnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Biro FM, Wien M (2010) Childhood obesity and adult

morbidities American Journal of Clinical Nutrition, 91(5):1499S-505S

2 Serdula MK, Coates RJ, Freedman DS, Williamson DF, Byers T

(1993) Do obese children become obese adults?A review of the

literature PrevMed, 03(22):167-77

3 Must A (2003) Does overweight in childhood have an impact

on adult health Nutrition Review, 61:139-42

4 Morrison KM, Shin S, Tarnopolsky M, Taylor VH (2015)

Association of depression & health related quality of life with

body composition in children and youth with obesity Journal of

Affective Disorders, 172:18-23

5 Ogden CL, Carroll MD, Fryar CD, Flegal KM (2014) Prevalence

of Obesity Among Adults and Youth: United States

6 Popkin BHS, Kim S (2001) The nutrition transition and

prevention of diet-related diseases in Asia and the Pacific Food

Nutr Bulletin, 22:11-58

7 Collison KS, Zaidi MZ, Subhani SN, Al-Rubeaan K, Shoukri M,

Al-Mohanna FA (2010) Sugar-sweetened carbonated beverage

consumption correlates with BMI, waist circumference, and

poor dietary choices in school children BMC Public Health,

10(1):234

8 Linardakis M, Sarri K, Pateraki M-S, Sbokos M, Kafatos A

(2008) Sugar-added beverages consumption among

kindergarten children of Crete: effects on nutritional status and

risk of obesity BMC Public Health, 8(1):279

9 Pereira M (2006) The possible role of sugar-sweetened beverages in obesity etiology: a review of the evidence

International Journal of Obesity, 30:S28-S36

10 Nguyen Ngoc Van Phuong, Tang Kim Hong, Truong Hoang, Robert AR (2013) High prevalence of overweight among

adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam BMC Public Health,

13(1):141

11 Tang K Hong, Dibley MJ, Sibbritt D, Phan N T Binh, Trang NH, Tran T M Hanh (2007) Overweight and obesity are rapidly emerging among adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam,

2002–2004 International Journal of Pediatric Obesity, 2(4):194-201

12 Tang K Hong, Dibley MJ, Sibbritt D, Tran HM (2007) Gender and socio-economic differences in BMI of secondary high school

students in Ho Chi Minh City Asia Pacific Journal of Clinical

Nutrition, 16(1):74-83

13 Le T, Do T, Nguyen V, Tran T, Nguyen K, Nguyen T, et al (2010) Effectiveness of nutrition intervention and physical excercise on overeweight/obesity control in primary school

children in district 10 of Hociminh city in 2008-2009 Journal of

Food Nutrition Science, 6(3):4

14 Dietz WH, Bellizzi MC (1999) The use of body mass index to

assess obesity in children American Journal Clinical Nutrition,

70:123S–5S

15 Mercedes DO, Adelheid WO, Elaine B, Amani S, Chizuru N, Jonathan S (2007) Development of a WHO growth reference for

school-aged children and adolescents World Health Organization,

85:660–667

16 Rockett HRH, Wolf AM, Colditz G (1995) Development and Reproducibility of a Food Frequency Questionnaire to Assess

Diets of Older Children and Adolescents Journal of American

Diet Association, 95:336-40

17 Morgan R, Jain M, Miller A, Choi N, et al (1978) A comparison

of dietary methods in epidemiologic studies American Journal of

Epidemiology, (107):488-98

18 Willett W, Sampson L, Bain C, et al (1981) Vitamin supplement

use among registered nurses American Journal of Clinical

Nutrition, 34:1121-5

19 Baranowski T, Baranowski J, Mendlein J, Ken R, Frank E, &

Cullen KW (2000) Physical Activity and Nutrition in Children

and Youth: An Overview of Obesity Prevention Preventive

Medicine, 31(2):S1-S10

20 Ludwig DS (2002) The glycemic index: Physiological mechanisms relating to obesity, diabetes, and cardiovascular

disease JAMA, 287(18):2414-23

21 GA Bray SN, BM Popkin (2004) Consumption of high-fructose corn syrup in beverages may play a role in the epidemic of

obesity American Society for Clinical Nutrition, 79(4):537-43

22 Catherine S Berkey, Helaine R.H Rockett, Alison E Field, Matthew W Gillman, Colditz GA (2004) Sugar-Added

Beverages and Adolescent Weight Change Obesity Research

Journal, 12(5):778-788

23 Nishida C, Uauy R, et al (2004) The Joint WHO/FAO Expert Consultation on diet, nutrition and the prevention of chronic

diseases: process, product and policy implications Public Health

Nutrition, 7(1A):245–250

Ngày nhận bài báo: 18/08/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh-Y Tế Công Cộng 358  - Mối liên quan giữa tiêu thụ thức uống có đường và thừa cân ở học sinh thành phố Hồ Chí Minh
huy ên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh-Y Tế Công Cộng 358 (Trang 5)
Bảng 1: Đặc tính dân số xã hội học sinh (n=1545) - Mối liên quan giữa tiêu thụ thức uống có đường và thừa cân ở học sinh thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1 Đặc tính dân số xã hội học sinh (n=1545) (Trang 5)
Bảng 3: Tỷ lệ tiêu thụ thức uống có đường (SSB) ở học sinh 6-17 tuổi (n=1545) - Mối liên quan giữa tiêu thụ thức uống có đường và thừa cân ở học sinh thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 3 Tỷ lệ tiêu thụ thức uống có đường (SSB) ở học sinh 6-17 tuổi (n=1545) (Trang 6)
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh-Y Tế Công Cộng 360 360  - Mối liên quan giữa tiêu thụ thức uống có đường và thừa cân ở học sinh thành phố Hồ Chí Minh
huy ên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh-Y Tế Công Cộng 360 360 (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w