1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đau và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại khoa Tham vấn hỗ trợ cộng đồng quận 8, thành phố Hồ Chí Minh

9 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 778,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đau là một trong năm dấu sinh hiệu quan trọng và là vấn đề sức khỏe phổ biến ở người nhiễm HIV/AIDS. Nghiên cứu này xác định tỷ lệ đau và các yếu tố liên quan đến tình trạng đau ở người nhiễm HIV đang điều trị ARV.

Trang 1

ĐAU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS

ĐANG ĐIỀU TRỊ ARV TẠI KHOA THAM VẤN HỖ TRỢ CỘNG ĐỒNG

QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Ngọc1

, Huỳnh Ngọc Vân Anh2

, Tô Gia Kiên3 TÓM TẮT

Mục tiêu: Đau là một trong năm dấu sinh hiệu quan trọng và là vấn đề sức khỏe phổ biến ở người nhiễm

HIV/AIDS Nghiên cứu này xác định tỷ lệ đau và các yếu tố liên quan đến tình trạng đau ở người nhiễm HIV

đang điều trị ARV

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên người nhiễm HIV đang

điều trị ARV tại Khoa tham vấn và Hỗ trợ cộng đồng Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Tất cả đối

tượng thỏa tiêu chí chọn mẫu được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi soạn sẵn Đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội, bệnh

đi kèm và tình trạng đau được thu thập Đau được đánh giá bằng thang đánh giá đau rút gọn (BPI-SF) Các yếu

tố có liên quan đến tình trạng đau được xác định bằng kiểm định chi bình phương Mô hình hồi quy Poisson đơn

biến và đa biến số được dùng để đánh giá độ mạnh của các mối liên quan tỉ số tỷ lệ hiện mắc (PR) với khoảng tin

cậy 95%

Kết quả: Mẫu nghiên cứu có 315 người nhiễm Tỷ lệ đau trong 24 giờ qua ở người nhiễm HIV đang điều

trị ARV là 12,4% Đau chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình Phần lớn đối tượng nghiên cứu ≤40 tuổi, nam

giới, đã kết hôn hoặc đang sống chung với bạn tình, học vấn cấp 2, làm nghề tự do Hút thuốc lá và thời gian

nhiễm HIV>5 năm có liên quan đến tình trạng đau

Kết luận: Người nhiễm HIV đang điều trị ARV có triệu chứng đau cần được đánh giá và điều trị sớm để

nâng cao chất lượng cuộc sống Chương trình chăm sóc giảm nhẹ nên chú trọng hơn vào người nhiễm đang điều

trị ARV có thời gian nhiễm>5 năm và có hút thuốc lá

Từ khóa: đau, HIV/AIDS, điều trị ARV, chăm sóc giảm nhẹ

ABSTRACT

PAIN AND ASSOCIATED FACTORS IN PEOPLE LIVING WITH HIV/AIDS RECEIVING ARV AT THE

FACULTY OF CONSULTANT AND COMMUNITY SUPPORTS IN DISTRICT 8, HO CHI MINH CITY

Le Thi Ngoc, Huynh Ngoc Van Anh, To Gia Kien

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 308 - 316

Objective: Pain is one of five significant vital signs and the most common health problem in people living

with HIV/AIDS (PLWH) This study identifies the prevalence of pain in PLWH receiving ARV within 24-hour

and its associated factors

Methods: A cross-sectional study was conducted on PLWH receiving ARV at the faculty of consultant and

community supports, District 8, Ho Chi Minh City, Viet Nam Eligible participants were interviewed using a

structured questionnaire Data on demographic and socio-economic status, co-morbidities and pain were collected

Pain was assessed using Brief Pain Inventory Short Form Chi-square test was used to identify factors associated

1 Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn – Bệnh viện Y học Cổ truyền TP HCM

2 Bộ môn Thống kê y học và Tin học - Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP HCM

3 Bộ môn Tổ chức quản lý y tế - Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: ThS Huỳnh Ngọc Vân Anh ĐT: 0909 944 845 Email: hnvanhytcc@ump.edu.vn

Trang 2

with pain Univariate and Multivariable Poisson Regression were used to calculate Prevalence Ratio and its 95%

Confidence Interval for measuring the strength of association P-value of < 0.05 was considered as a statistical

significance

Results: The sample included 315 PLWH The prevalence of pain within 24-hour in PLWH receiving ARV

was 12.4% Most participants were ≤40 years old, men, married and living with a spouse, had junior high school

and were freelancer Smoking and living with HIV > 5 years were associated with pain

Conclusion: If PLWH receiving ARV have pain, they should be evaluated and treated early to improve their

quality of life Palliative care program should pay more attention on PLWH receiving ARV are smoking and

living with HIV more than 5 years

Keywords: pain, HIV/AIDS, antiretroviral treatment, palliative care

ĐẶT VẤN ĐỀ

HIV/AIDS là vấn đề sức khỏe cộng đồng

quan trọng, nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh

nặng bệnh tật trên toàn thế giới Tính đến cuối

năm 2018 trên thế giới có khoảng 37,9 triệu

người nhiễm HIV, 1,7 triệu người mới mắc và

770.000 người chết do các nguyên nhân liên

quan đến HIV gây ra(1) Tại Việt Nam, theo báo

cáo kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS

năm 2020 của Bộ Y Tế tính đến hết ngày 31

tháng 12 năm 2020 cả nước có 215.220 người

nhiễm HIV hiện đang còn sống, 108.719 người

nhiễm đã tử vong Ước tính cả năm 2020 phát

hiện mới khoảng 13.000 người nhiễm HIV, tăng

thêm 3.239 trường hợp so với năm 2019(2) Mục

tiêu 90 - 90 - 90 năm 2030 yêu cầu mở rộng chất

lượng điều trị HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV

biết tình trạng nhiễm của mình được điều trị

thuốc kháng virus ARV đạt 90% vào năm 2025

và đạt 95% vào năm 2030(3) Việc điều trị sớm

bằng thuốc ARV sẽ giúp người nhiễm HIV kiểm

soát được tải lượng virus ở mức thấp nhất, kéo

dài cuộc sống khỏe mạnh, giảm nguy cơ mắc

bệnh và tử vong liên quan đến HIV và dự phòng

lây nhiễm sang người khác Tuy nhiên, theo báo

cáo năm 2020 vẫn còn 24% người nhiễm HIV

chưa được điều trị ARV(2) Đau mạn tính có thể

xuất hiện trong trường hợp đã điều trị và không

được điều trị bằng thuốc kháng virus, gây suy

nhược cơ thể và ảnh hưởng đến chất lượng sống

ở người nhiễm HIV(4)

Đau là một trong năm dấu sinh hiệu quan

trọng và là vấn đề sức khỏe phổ biến ở người

nhiễm HIV/AIDS Ước tính có khoảng 25% đến 90% người nhiễm HIV bị đau mạn tính cao hơn nhiều so với tỷ lệ 20-30% trong dân số nói chung(4) Nguyên nhân đau chưa được mô tả đầy

đủ, có thể do triệu chứng HIV, nhiễm trùng cơ hội, tác dụng phụ của thuốc ARV, tình trạng viêm dai dẳng của nhiễm HIV hoặc các nguyên nhân khác không liên quan đến HIV gây ra(4) Một phân tích về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ tại Việt Nam cho thấy 73% người nhiễm HIV/AIDS thông báo có đau kể từ khi được chẩn đoán và chỉ có 46% trong số đó được điều trị giảm đau(5) Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng đau thường không được điều trị do nhiều nguyên nhân, các thầy thuốc thường đánh giá không đúng, nghi ngờ về mức độ đau mà người nhiễm HIV khai báo hoặc đôi khi người nhiễm không khai báo đúng mức độ đau của mình vì họ cảm thấy tình trạng đau ít được giải quyết và họ sợ phải sử dụng thuốc điều trị đau(6).

Đau có thể ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống và trong trường hợp nghiêm trọng có thể làm gián đoạn khả năng tham gia vào các hoạt động hàng ngày Người nhiễm HIV có đau mạn tính có khả năng bị suy giảm chức năng gấp 10 lần so với những người không bị đau(4) Bên cạnh việc ảnh hưởng đến chức năng và chất lượng sống, đau không được điều trị có thể gây ra gánh nặng về kinh tế cho gia đình và toàn xã hội

do phần lớn người nhiễm HIV đều nằm trong

độ tuổi lao động(7) Người nhiễm HIV không thể tham gia lao động để kiếm thêm thu nhập vì những khó chịu do triệu chứng đau gây ra Trên thực tế, khoản chi phí chăm sóc sức khỏe cho

Trang 3

bệnh nhân HIV/AIDS cao bằng tổng chi phí y tế

của tất cả các thành viên khác trong gia đình tại

Việt Nam(8) Vì vậy, quản lý đau nên là một phần

quan trọng trong chăm sóc toàn diện người

nhiễm HIV

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số người

nhiễm HIV/AIDS nhiều nhất, đồng thời thực

hiện chương trình chăm sóc bệnh nhân

HIV/AIDS sớm nhất cả nước, 24/24 quận

huyện có người nhiễm HIV/AIDS(9). Tình trạng

đau ở người nhiễm HIV ít được chú ý và có rất

ít nghiên cứu đơn thuần về tỷ lệ đau và ảnh

hưởng của đau lên các hoạt động hàng ngày

Hiện nay vấn đề này đã được chú trọng hơn

với nỗ lực ra đời các hướng dẫn chăm sóc

giảm nhẹ nhằm phát hiện sớm và điều trị đau

đúng mức góp phần nâng cao chất lượng sống

cho người nhiễm Mục tiêu của nghiên cứu

này là xác định tỷ lệ đau và các yếu tố liên

quan đến đau trên người nhiễm HIV/AIDS

đang điều trị ARV tại khoa tham vấn hỗ trợ

cộng đồng quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh

Chúng tôi hy vọng những phát hiện trong

nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho

bác sĩ lâm sàng để quản lý đau cho người

nhiễm HIV tốt hơn, đồng thời là nền tảng để

phát triển các nghiên cứu trong tương lai

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Trên 315 người nhiễm HIV đang điều trị

ARV tại khoa Tham vấn hỗ trợ cộng đồng thuộc

Trung tâm y tế Quận 8 từ tháng 3/2020 đến

tháng 6/2020 Đây là nơi quản lý số lượng người

nhiễm HIV lớn nhất thành phố Hồ Chí Minh với

gần 3.000 người đến chăm sóc điều trị

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ với

xác suất sai lầm loại I là 0,05; sai số biên cho

phép là 0,05; dựa trên kết quả nghiên cứu thử 30

người nhiễm HIV đang điều trị ARV ngoại trú

thì tỷ lệ đau là 13,3%, cỡ mẫu tối thiểu cần lấy là

178 người Ước lượng tỷ lệ người nhiễm không tham gia vào nghiên cứu là 10%, cỡ mẫu cần lấy

là 198 người

Áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, người nhiễm HIV/AIDS ≥18 tuổi đang điều trị ARV tại khoa tham vấn hỗ trợ cộng đồng Quận

8, có mặt tại thời điểm nghiên cứu được nhân viên trung tâm mời tham gia vào nghiên cứu, điều tra viên giải thích rõ ràng về mục tiêu của nghiên cứu, đối tượng sẵn sàng tham gia nghiên cứu được yêu cầu ký văn bản đồng ý tham gia nghiên cứu trước khi được phỏng vấn Người nhiễm HIV/AIDS đang có chấn thương, phẫu thuật trong vòng một tháng gần đây, không tìm thấy hồ sơ bệnh án, không thể trả lời phỏng vấn

do khiếm khuyết về nghe nói được loại ra khỏi nghiên cứu

Phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu

Điều tra viên phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu theo bộ câu hỏi soạn sẵn bao gồm các đặc điểm của đối tượng như tuổi (năm), nhóm tuổi (≤40, >40), giới (nam, nữ), trình độ học vấn (không biết đọc viết, cấp 1, cấp 2, cấp 3, trên cấp 3), hôn nhân (độc thân, sống chung với bạn tình, kết hôn, ly hôn, ly dị, góa), nghề nghiệp (công nhân, viên chức, buôn bán, lao động tự do, thất nghiệp, khác), thu nhập (ổn định, không ổn định, không có thu nhập), hút thuốc lá (có, không), uống rượu bia (có, không), sử dụng ma túy (có, không), điều trị Methadone (có, không), thời gian nhiễm HIV (năm), thời gian chẩn đoán (≤1 năm, 2-5 năm, >5 năm), thời gian điều trị ARV (≤1 năm, 2-5 năm, >5 năm), phác đồ điều trị (phác đồ 1, phác đồ 2), giai đoạn lâm sàng (giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn 3, giai đoạn 4), số lượng tế bào CD4+ (<500 tế bào/mm3,≥500 tế bào/mm3), tuân thủ điều trị (tốt, không tốt), bệnh mạn tính (có, không), nhiễm trùng cơ hội (có, không) và tình trạng đau trong 24 giờ Bệnh mạn tính là có nếu người nhiễm có một trong các loại bệnh viêm gan B, C, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận mạn Nhiễm trùng cơ hội là có nếu người nhiễm có một trong các bệnh như lao,

Trang 4

nấm, viêm phổi, tiêu chảy Hai biến số này được

thu thập qua phỏng vấn bệnh nhân

Thang đo Brief Pain Inventory short form

(BPI – SF)

Đau được đánh giá bằng thang đo BPI-SF,

công cụ này được sử dụng rộng rãi để đánh giá

đau trên toàn thế giới Tính giá trị và tin cậy của

BPI đã được chứng minh trong nhiều nghiên

cứu với Cronbach’s alpha dao động từ 0,78 đến

0,96(10) Thang đo được chuyển ngữ qua Tiếng

Việt năm 1988 bởi chính tác giả Cleeland mang

tên Thang đánh giá đau rút gọn tiếng Việt(11) và

được sử dụng trong các nghiên cứu ở Việt Nam

trên nhiều đối tượng trong đó có người nhiễm

HIV(12) Bộ câu hỏi gồm 9 câu hỏi liên tiếp liên

quan đến 2 vấn đề chính là cường độ đau và ảnh

hưởng của đau đến các hoạt động hằng ngày

Cường độ đau: tại 2 thời điểm là trong 24 giờ

qua (gồm 3 khía cạnh đau tệ nhất, đau nhẹ nhất

và đau vừa phải, tương ứng với câu hỏi 3, 4, 5)

và đau tại thời điểm phỏng vấn (khía cạnh đau

hiện tại, tương ứng câu hỏi 6) Mỗi khía cạnh

đau có cường độ đau nhận 11 giá trị từ 0 đến 10,

với 0 là không đau và 10 là đau tới mức không

tưởng tượng được, sau đó chia ra các mức độ

đau với cường độ đau tương ứng gồm không

đau (0), đau mức độ nhẹ (1 - 3), đau mức độ

trung bình (4 - 6) và đau mức độ nặng (7-10)

Ảnh hưởng của đau trong 24 giờ qua: ảnh

hưởng của đau gây ra được đánh giá trên 7 khía

cạnh hoạt động hàng ngày gồm hoạt động nói

chung, tâm trạng, khả năng đi lại, công việc bình

thường (bao gồm cả công việc bên ngoài và việc

nhà), quan hệ với người khác, giấc ngủ và niềm

vui với cuộc sống (tương ứng với câu hỏi số 9: A,

B, C, D, E, F, G), nhận giá trị từ 0 đến 10 với 0 là

không ảnh hưởng và 10 là ảnh hưởng nghiêm

trọng(13) Ngoài ra BPI-SF còn cho phép đánh giá

vị trí đau (câu hỏi 2), liệt kê liệu pháp giảm đau

mà người nhiễm đã dùng trong 24 giờ qua (câu

hỏi 7) và phần tự đánh giá hiệu quả giảm đau

trong 24 giờ qua (câu hỏi 8)(14)

Nghiên cứu thử

Trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu thử trên 30 người nhiễm HIV đang điều trị tại đây

Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số Cronbach’s alpha của thang đo BPI-SF là 0,93 ở cả 2 khía cạnh cường độ đau và cường độ ảnh hưởng của đau

Phân tích thống kê

Sử dụng tần số và tỷ lệ phần trăm để mô tả cho các biến về đặc điểm dân số xã hội như nhóm tuổi, giới tính, hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, hút thuốc lá, uống rượu bia,

sử dụng ma túy, điều trị Methadone, thời gian nhiễm HIV, thời gian điều trị ARV, phác đồ điều trị, giai đoạn lâm sàng, số lượng tế bào CD4+ (<500, ≥500 tế bào/mm3), tuân thủ điều trị, bệnh mạn tính kèm theo và nhiễm trùng cơ hội Tình trạng đau cũng được mô tả bằng tần

số và tỷ lệ %

Kiểm định Chi bình phương được dùng để xét liên quan giữa nhóm tuổi, giới tính, hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, hút thuốc

lá, uống rượu bia, sử dụng ma túy, điều trị Methadone, thời gian nhiễm HIV, thời gian điều trị ARV, phác đồ điều trị, giai đoạn lâm sàng, số lượng tế bào CD4+ (tế bào/mm3), tuân thủ điều trị, bệnh mạn tính kèm theo, nhiễm trùng cơ hội với tình trạng đau Kiểm định được xem là có ý nghĩa khi giá trị p <0,05

Tỉ số tỷ lệ hiện mắc PR (Prevalance Ratio) và khoảng tin cậy 95% được dùng để đo lường mức

độ liên quan đến đau Những biến số có giá trị p

≤0,2 trong phân tích đơn biến gồm hôn nhân, học vấn, hút thuốc lá, uống rượu bia, điều trị Methadone, thời gian nhiễm HIV, thời gian điều trị ARV, phác đồ điều trị, tuân thủ điều trị và bệnh mạn tính kèm theo được chọn đưa vào mô hình hồi quy Poisson đa biến số để đánh giá mối liên quan với tình trạng đau

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y

Trang 5

Dược TP HCM, số 71/HĐĐĐ-ĐHYD ngày

16/01/2020

KẾT QUẢ

Sau khi được giải thích rõ về mục tiêu của

nghiên cứu thì có 315 người nhiễm HIV đang

điều trị ARV tại Khoa tham vấn và hỗ trợ cộng

đồng thuộc Trung tâm Y tế Quận 8 đồng ý tham

gia nghiên cứu Tuổi trung bình của 315 người

nhiễm HIV là 37,7 ± 8,2, nhỏ nhất là 19 tuổi và

lớn nhất là 70 tuổi Thời gian được chẩn đoán

HIV trung bình 7,6 ± 4,7 năm, nhỏ nhất là 4

tháng, lớn nhất là 20 năm Thời gian điều trị

ARV trung bình là 6,5 ± 4,0 năm, nhỏ nhất là 4

tháng và lớn nhất là 17 năm Các đặc điểm của

mẫu nghiên cứu được mô tả trong Bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n = 315)

(%)

Nhóm tuổi (≤40 tuổi) 188 59,7 Thời gian chẩn đoán HIV

Giới tính (Nam) 225 71,4 ≤ 1 năm 39 12,4

Độc thân 140 44,4 > 5 năm 203 64,4

Kết hôn/sống chung 152 48,3 Thời gian điều trị ARV

Ly thân/ly dị/góa 23 7,3 ≤ 1 năm 42 12,9

Không biết đọc, viết 14 4,5 > 5 năm 188 59,7

(≥500 TB/mm 3

) 102 32,4 Cấp 2 127 40,3 Giai đoạn lâm

sàng (GĐ 1) 301 95,6 Cấp 3 64 20,3 Phác đồ điều trị

(Phác đồ 1) 222 70,5 Trên cấp 3 51 16,2 Tuân thủ điều

trị (Tốt) 224 71,1 Nghề nghiệp (Tự do) 118 37,4 Nhiễm trùng cơ hội (Có) 27 8,6

Thu nhập (Ổn định) 181 57,5

Bệnh mạn tính

đi kèm (Có) 54 17,1

Loại bệnh mạn tính đi kèm

(n=54)

(%)

Hút thuốc lá (Có) 107 34,0 Viêm gan B, C 45 83,3

Sử dụng rượu bia

Sử dụng ma tuy (Có) 11 3,5 Đái tháo đường 5 9,3 Điều trị Methadone

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy hầu hết đối

tượng tham gia nghiên cứu là nam (71,4%), nhóm tuổi ≤40 (59,7%), người đã kết hôn hoặc sống chung với bạn tình (48,3%), trình độ học vấn cấp 2 (40,3%), lao động tự do (37,4%) có thu nhập ổn định (57,5%) Hơn 1/3 người tham gia nghiên cứu có hút thuốc lá và sử dụng rượu bia Tỷ lệ sử dụng ma túy và điều trị Methadone chiếm một lượng nhỏ lần lượt là 3,5% và 9,5% Thời gian chẩn đoán HIV và điều trị ARV trên 5 năm ở những người tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất Hầu hết người nhiễm HIV hiện đang ở giai đoạn lâm sàng một (95,6%), điều trị theo phác đồ một (70,5%) và tuân thủ điều trị tốt (71,1%) Trong

315 người tham gia nghiên cứu thì có 54 người (17,1%) có bệnh mạn tính đi kèm Trong đó, viêm gan chiếm cao nhất (83,3%), kế đến là tăng huyết áp (13,3%), một số ít người mắc đái tháo đường (9,3%) hoặc bệnh thận mạn (5,6%)

Tỷ lệ đau ở người nhiễm trong 24 giờ qua là 12,4% (n=39/315) Đau ở mức độ nhẹ đến trung bình Điểm trung bình của cơn đau nặng nhất là 6,2 ± 1,9; cơn đau vừa phải là 4,2 ± 1,6, cơn đau nhẹ là 2,4 ± 1,2 và cơn đau hiện tại là 3,1 ± 2,3

Đau ảnh hưởng đến tâm trạng người nhiễm nhiều nhất với 92,3%, kế tiếp là sinh hoạt thông thường (87,2%), công việc (77,0%), niềm vui sống

(74,3%), giấc ngủ (69,2%) (Bảng 2)

Bảng 2: Đặc điểm tình trạng đau ở người nhiễm HIV/AIDS có báo cáo đau (n=39)

Nặng nhất

Nhẹ nhất

Trang 6

Cơn đau Mức độ đau Tần số Tỷ lệ % Trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ đau tổng thể

Vừa phải

Hiện tại

Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến tình trạng đau (n=315)

PR thô

PR hc

(KTC hc 95%)

Điều trị Methadone

Hút thuốc lá

Thời gian nhiễm HIV (năm)

PR hc : PR hiệu chỉnh KTC hc : Khoảng tin cậy hiệu chỉnh KTC thô : Khoảng tin cậy thô

PR thô được tính bằng mô hình hồi quy Poisson đơn biến số

PR hiệu chỉnh được tính bằng mô hình hồi quy Poisson đa biến số

Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tình trạng đau với các yếu tố giới

tính, nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ

học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng sử

dụng rượu bia, ma túy, bệnh đi kèm, nhiễm

trùng cơ hội, số lượng tế bào CD4 và sự tuân thủ

điều trị ARV Phân tích hồi quy Poisson đơn

biến cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng

đau với các đặc tính như hút thuốc lá, điều trị

Methadone, thời gian nhiễm HIV và thời gian

điều trị ARV Tuy nhiên, khi đưa các biến số có p

≤0,2 vào mô hình hồi quy Poisson đa biến chỉ

còn yếu tố hút thuốc lá và thời gian nhiễm HIV

liên quan với tình trạng đau Những người hút

thuốc lá trong một tháng vừa qua có tỷ lệ đau

cao gấp 2,24 lần so với những người không hút

thuốc lá (PR=2,24; KTC 95%: 1,15 – 4,36; p=0,02)

Những người có số năm nhiễm HIV >5 năm có

tỷ lệ đau cao gấp 4,93 lần so với những người có

số năm nhiễm HIV 5 năm (PR=4,93, KTC95%:

1,51-16,09, p <0,01) (Bảng 3)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ đau và các đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đau ở những người nhiễm HIV điều trị tại Trung tâm y tế quận 8 là 12,4% thấp hơn các nghiên cứu trên thế giới, nhưng tương đương với tỷ lệ đau từ nghiên cứu thử được dùng để ước lượng cỡ mẫu Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Trần Xuân Bách (10,9%) thực hiện trên

400 bệnh nhân nhiễm HIV đại diện cho 6 tỉnh thành trên cả nước vào năm 2008(8) Tuy nhiên, tỷ

lệ này lại thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Phạm Thị Vân Anh và cộng sự (90%, n=354) thực hiện trên đối tượng nhiễm HIV có sử dụng ma túy tiêm tĩnh mạch tại Hải Phòng năm 2013(13)

Sự khác biệt lớn như vậy có thể do hai nghiên cứu được thực hiện tại hai thời điểm khác nhau, người nhiễm trong nghiên cứu này là người được điều trị ngoại trú và chưa có triệu chứng, trong khi nghiên cứu tại Hải Phòng lại thực hiện trên người nhiễm điều trị nội trú có sử dụng ma

Trang 7

túy tiêm tĩnh mạch, do đó sẽ có những đặc điểm

khác nhau như giai đoạn lâm sàng nặng hơn(13)

Một số nghiên cứu khác trên thế giới thực hiện

trên người nhiễm HIV ngoại trú cũng cho thấy

tỷ lệ đau thấp hơn nhiều so với bệnh nhân nội

trú như ở Nigeria (27,8%)(15), Ấn Độ (24,5%)(16) và

Thái Lan (22,0%)(17) Một tổng quan hệ thống với

mục tiêu kiểm tra mức độ phổ biến của cơn đau

ở người nhiễm HIV trên thế giới cho thấy có sự

thay đổi về tỷ lệ đau dao động từ 54% đến

83%(18) Sự khác biệt về văn hóa, địa lý, tình trạng

kinh tế của mỗi quốc gia và công cụ đánh giá

đau (thang đo BPI và thang đo Wisconsin Brief

Pain Questionare) đã tạo ra sự khác biệt về tỷ lệ

đau ở các nghiên cứu khác nhau

Các yếu tố liên quan đến tình trạng đau

Theo kết quả phân tích cho thấy không có

mối liên quan giữa tình trạng đau với các yếu tố

tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn,

nghề nghiệp, công việc tạo thu nhập Tuy nhiên

có sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi

với các nghiên cứu khác trên thế giới Cụ thể,

nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy, có mối liên

quan giữa tình trạng đau với giới, người nhiễm

nữ có tỷ lệ đau cao gấp 2 lần nam giới (p=0,01)

Người nhiễm có học vấn từ tiểu học trở xuống

có tỷ đau cao gấp 2,5 lần so với nhóm học vấn

trên tiểu học Đồng thời người nhiễm có thu

nhập thấp có tỷ lệ đau cao hơn 2,6 lần so với

nhóm có thu nhập cao(17) Nghiên cứu ở San

Francisco cũng cho thấy có mối liên quan giữa

nữ giới (p <0,001) và trình độ học vấn thấp dưới

cấp hai (p=0,005) với tình trạng đau nặng(19) Một

nghiên cứu khác ở Ethiopia cho thấy nữ giới có

tỷ lệ đau cao gấp 1,8 lần so với nam giới (KTC

95%: 1,1 – 2,9, p=0,02)(20) và không tìm thấy mối

liên quan giữa tình trạng đau với các yếu tố sử

dụng ma túy và uống rượu bia (p >0,05) Điều

này cũng được kết luận trong nghiên cứu ở

những người vô gia cư nhiễm HIV tại San

Francisco(19) Tuy nhiên, nghiên cứu ở Ethiopia

(2017) cho thấy người nhiễm uống rượu bia có

khả năng bị đau cao hơn 3 lần so với người không sử dụng rượu bia (ORhc=3,3, KTC 95%: 1,5 – 7,2, p <0,05)(20)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

có mối liên quan giữa tình trạng đau với các yếu

tố hút thuốc lá và điều trị Methadone Cụ thể, nhóm hút thuốc lá có tỷ lệ đau cao gấp 3,18 lần

so với nhóm không hút (p=0,001) Ở nhóm điều trị Methadone có tỷ lệ đau cao hơn 2,45 lần so với nhóm không điều trị (KTC95%: 1,24 – 4,84, p=0,010) Tuy nhiên khi đưa vào mô hình hồi quy Poisson đa biến, chỉ còn yếu tố hút thuốc lá làm tăng tình trạng đau (PRhc=2,24, KTChc 95%:

1,15–4,36, phc=0,018) Hút thuốc lá có thể làm giảm hiệu quả điều trị HIV, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong, giảm đáp ứng với điều trị ARV, suy giảm chức năng miễn dịch, giảm chức năng nhận thức, giảm chức năng phổi và tăng tỷ

lệ bệnh tim mạch, do đó hút thuốc lá sẽ gây ra các phản ứng viêm bổ sung ngoài tình trạng viêm mạn tính do HIV gây ra

Có mối liên quan giữa tình trạng đau với thời gian nhiễm HIV Những người có thời gian nhiễm HIV >5 năm có tỷ lệ đau cao gấp 4,93 lần

so với nhóm 5 năm (KTC 95%: 1,51 – 16,09, p=0,008) Điều này cho thấy, đối với những người nhiễm có thời gian nhiễm bệnh kéo dài thì khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng như các bệnh lý khác càng cao làm tăng các triệu chứng và tác động tiêu cực đến đau

Ở mô hình hồi quy Poisson đơn biến, chúng tôi tìm thấy có mối liên quan giữa tình trạng đau với thời gian điều trị ARV (PR=2,62, KTC 95%:

1,24 – 5,51, p=0,011) Tuy nhiên, khi đưa vào mô hình hồi quy Poisson đa biến, sự khác biệt này lại không có ý nghĩa thống kê (p=0,065) Khác với kết quả của chúng tôi, các nghiên cứu ở Thái Lan và Brazil lại tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa tình trạng đau với thời gian điều trị ARV, những người cảm thấy đau đã được điều trị ARV trong khoảng thời gian dài hơn (5 năm(17) Việc sử dụng ARV kéo dài có thể gây ra tác

Trang 8

dụng phụ về thần kinh, chẳng hạn như đau thần

kinh ngoại biên(4)

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu này có một số hạn chế Thiết kế

nghiên cứu cắt ngang mô tả, do đó, không theo

dõi sự thay đổi trong quá trình điều trị và diễn

tiến của đau, đồng thời không xác định mối liên

hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan tìm thấy

với kết cuộc đau mạn tính, như hút thuốc lá làm

tăng tỷ lệ đau hay do đau nhiều khiến người

nhiễm có khuynh hướng hút thuốc lá nhiều hơn

để giảm đau Nghiên cứu chọn mẫu thuận tiện,

kết quả nghiên cứu có giá trị bên ngoài hạn chế

Tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện trên 315 người

nhiễm, lớn hơn cỡ mẫu ước lượng tối thiểu cần

thiết cho nghiên cứu (n=178) và được thực hiện

chặt chẽ theo đề cương nghiên cứu, bộ công cụ

được nghiên cứu thử trước khi thực hiện nghiên

cứu chính thức; do đó, kết quả nghiên cứu có giá

trị bên trong tốt

KẾT LUẬN

Đặc điểm về dân số xã hội của những

người tham gia nghiên cứu tương tự với kết

quả của các nghiên cứu khác trên những người

nhiễm HIV đang điều trị ARV tại TP Hồ Chí

Minh cũng như trong cả nước với những đặc

điểm nổi bật như nam nhiều hơn nữ, nhóm

tuổi ≤40 nhiều hơn, học vấn thấp và đa số là

lao động tự do

Kết quả nghiên cứu cho thấy những người

có các đặc điểm như hút thuốc lá, thời gian

nhiễm HIV>5 năm thì tỷ lệ đau cao hơn so với

những người không có các đặc điểm này

Từ những kết quả nêu trên, chúng tôi nghĩ

rằng bác sỹ lâm sàng cần quan tâm hơn, hỏi

bệnh kỹ hơn trong mỗi lần thăm khám và

đánh giá đau như một hoạt động thường quy,

đặc biệt đối với những người nhiễm HIV>5

năm và có sử dụng thuốc lá, để phát hiện và

điều trị đau sớm giúp tăng chất lượng điều trị

và chất lượng sống của người nhiễm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/hiv-aids

2 Bộ Y Tế (2021) Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm

2020 URL: https://luatvietnam.vn/y-te/bao-cao-124-bc-byt-2021-ket-qua-phong-chong-hiv-aids-nam-2020-198258-d6.html

3 Thủ Tướng Chính Phủ (2020) Quyết định số 1246/QĐ-TTg của

Thủ Tướng Chính Phủ về phê duyệt Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 URL:

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hetho ngvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&document_id=2

00774

4 Merlin JS (2015) Chronic Pain in Patients With HIV Infection:

What Clinicians Need To Know Top Antivir Med, 23(3):120-4

5 Kimberly G, Ly Ngoc Kinh, Luong Ngoc Khue (2006)

Palliative care in Vietnam: findings from a rapid situation

analysis in five provinces In: Kimberly Green Palliative care in

Vietnam: findings from a rapid situation analysis in five

provinces Vietnam Ministry of Health, Ha Noi

6 Eric LK, Juliet J (2010) Quan điểm của bệnh nhân và thân nhân

trong việc các nguyên tắc đánh giá và giảm đau Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 14(4):789-797

7 Tran BX, Ohinmaa A, Nguyen LT, Nguyen TA, Nguyen TH (2011) Determinants of health-related quality of life in adults

living with HIV in Vietnam AIDS Care, 23(10):1236-45

8 Tran BX, Duong AT, Nguyen LT, et al (2013) Financial burden

of health care for HIV/AIDS patients in Vietnam Trop Med Int Health, 18(2):212-8

9 Ngành Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh (2017) Thành phố Hồ

Chí Minh chuẩn bị mua thẻ BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS URL: http://medinet.hochiminhcity.gov.vn/bao- hiem-y-te/thanh-pho-ho-chi-minh-chuan-bi-mua-the-bhyt-cho-nguoi-nhiem-hivaids-c4622-3071.aspx

10 Del BC, Izzi I, Chiarotti F, et al (2001) Multidimensional

aspects of pain in HIV-infected individuals AIDS Patient Care STDS, 15(2):95-102

11 Cleeland CS, Ladinsky JL, Serlin RC, Nugyen CT (1988)

Multidimensional measurement of cancer pain: comparisons of

US and Vietnamese patients J Pain Symptom Manage,

3(1):23-27

12 Phạm Thị Vân Anh, Bùi Thị Bích Thủy, Vũ Trường Sơn, et al (2013) Tỷ lệ và ảnh hưởng của đau đến cuộc sống của những bệnh nhân nhiễm HIV sử dụng ma túy tĩnh mạch tại Hải

Phòng Y Học Thực Hành, 875(7):29-32

13 Charles SC (2009) Development of the Brief Pain Inventory In:

Charles S Cleeland The Brief Pain Inventory User Guide,

pp.4-11 The University of Texas MD Anderson Cancer Center,

Texas

14 Bộ Y Tế (2006) Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người

bệnh ung thư và AIDS, pp 57 Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội

15 Wahab KW, Salami AK (2011) Pain as a Symptom in Patients Living With HIV/AIDS Seen at the Outpatient Clinic of a

Nigerian Tertiary Hospital J Int Assoc Physicians AIDS Care (Chic), 10(1):35-9

Trang 9

16 Nair SN, Mary TR, Prarthana S, Harrison P (2009) Prevalence

of Pain in Patients with HIV/AIDS: A Cross-sectional Survey in

a South Indian State Indian J Palliat Care, 15(1):67-70

17 Robbins NM, Chaiklang K, Supparatpinyo K (2013)

Undertreatment of Pain in Human Immunodeficiency Virus

Positive Adults in Thailand J Pain Symptom Manage,

45(6):1061–1072

18 Parker R, Stein DJ, Jelsma J (2014) Pain in people living with

HIV/AIDS: a systematic review J Int AIDS Soc, 17(1):18719

19 Miaskowski C, Penko JM, Guzman D et al (2011) Occurrence and characteristics of chronic pain in a community-based

cohort of indigent adults living with HIV infection J Pain,

12(9):1004-16

20 Azagew AW, Woreta HK, Tilahun AD, Anlay DZ (2017) High prevalence of pain among adult HIV-infected patients at

University of Gondar Hospital, Northwest Ethiopia J Pain Res,

10:2461-2469

Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=315) - Đau và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại khoa Tham vấn hỗ trợ cộng đồng quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=315) (Trang 5)
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến tình trạng đau (n=315) - Đau và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại khoa Tham vấn hỗ trợ cộng đồng quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng đau (n=315) (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w