Việt Nam nằm trong 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới. Bệnh nhân lao phải đối mặt với nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nhằm hưởng ứng mục tiêu chấm dứt bệnh lao vào năm 2030, việc tiến hành nghiên cứu chất lượng cuộc sống (CLCS) và các yếu tố liên quan của bệnh nhân lao là cần thiết. Bài viết trình bày xác định điểm CLCS và các yếu tố liên quan bằng bảng câu hỏi WHOQoL-BREF.
Trang 1em Cần có đánh giá riêng về hài lòng đối với
từng dịch vụ để có kế hoạch cải thiện phù hợp
Nghiên cứu tìm thấy một số yếu tố liên quan
đến sự hài lòng Phân tích mối liên quan đơn
biến có thể không phản ánh chính xác độ mạnh
mối liên quan, được đo bằng tỷ số hiện mắc PR
Do điều kiện kinh phí, thời gian và nguồn lực
cho phép nên nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực
hiện trên đối tượng người bệnh ngoại trú và cỡ
mẫu chưa đủ lớn để phát hiện đầy đủ các mối
liên quan giữa chất lượng dịch vụ của Trạm Y tế
xã Glar và sự hài lòng của người bệnh đến khám
và điều trị tại đây Tuy nhiên, điểm mạnh của
nghiên cứu là bộ công cụ đo lường trong nghiên
cứu này dựa vào mẫu khảo sát của Bộ Y tế đã
được nghiên cứu triển khai một cách chi tiết, cho
nên kết quả sẽ chính xác hơn và hiểu được phần
nào nhu cầu của người bệnh đang điều trị ngoại
trú tại TYT xã Glar Công bố được đưa ra nhằm
đề xuất những khuyến nghị giúp TYT cải cách
tốt hơn về chất lượng dịch vụ Thông tin trong
bộ câu hỏi được thu thập bằng phương pháp
phỏng vấn mặt đối mặt giúp hạn chế bỏ sót câu
trả lời, kiểm soát sai lệch thông tin
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê (2003), Báo cáo chuyên đề chất
lượng dịch vụ tại trạm y tế xã phường năm 2001-2002, Hà Nội
2 Nguyễn Duy Luật và Hoàng Trung Kiên (2010) Nghiên cứu
thực trạng công tác khám chữa bệnh tại trạm y tế xã Ngũ Hiệp,
huyện Thanh Trì, Hà Nội Nghiên Cứu Y Học, 70(50):124-130
3 Trần Thị Thoa, Trương Việt Dũng và Phạm Quốc Bảo (2010)
Nghiên cứu thực trạng tiếp cận thuốc, thuốc thiết yếu tại một số
Trạm Y tế xã thuộc 24 tỉnh Nghiên Cứu Y Học, 70(5):74-79
4 Lê Quang Cường, Lý Ngọc Kính, Khương Anh Tuấn, et al
(2011), Nghiên cứu thực trạng quá tải, dưới tải của hệ thống
bệnh viện các tuyến và đề xuất giải pháp khắc phục, pp.1-10,
Viện Chiến Lược và Chính Sách Y Tế, Hà Nội
5 Tổng cục thống kê (2013), Kết quả khảo sát mức sống dân cư
Việt Nam năm 2012 In: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế,
pp.175 NXB Thống Kê, Hà Nội
6 Donabedian A (2005) Evaluating the quality of medical care
Milbank Q, 83(4):691-729
7 Fitzpatrick R (1991) Surveys of patients satisfaction:
I Important general considerations BMJ, 302(6781):887-889
8 Xã Glar (2020) Xã Glar – huyện Đăk Đoa – tỉnh Gia Lai URL:
http://dakdoa.gialai.gov.vn/Xa-Glar/Gioi-thieu/Lich-su-lanh-%C4%91ao-qua-cac-thoi-ky-(1
9 Bộ Y tế (2013) Quyết định số 4448/QĐ-BYT về việc phê duyệt
đề án Xác định phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ y tế công
10 Pérez de los Cobos J, Fidel G, Escuder G, et al (2004) A satisfaction survey of opioid-dependent clients at methadone
treatment centres in Spain Drug Alcohol Depend, 73(3):307-313
11 Nguyễn Trà My (2016) Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế trước , trong , và sau khi các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 2 huyện Lục
Yên và Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái năm 2016 Khóa Luận Cử Nhân Y
Tế Công Cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
12 Trần Phan Tây (2014) Sự hài lòng của bệnh nhân khi đến khám tại Trung tâm Y tế Thị xã Thuận An- Bình Dương tháng 6 năm
2014 Luận Văn Thạc Sĩ Y Tế Công Cộng, Đại học Y tế công cộng
13 Đặng Thu Hường (2015) Đánh giá sự hài lòng của người bệnh nội trú đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các khoa điều trị thuộc khối ngoại bệnh viện đa khoa Xanh-pôn, Hà
Nội Nghiên Cứu Y Học, 72(1):146-150
14 Trần Sỹ Thắng (2016) Khảo sát hài lòng của bệnh nhân nội trú
đối với sự phục vụ củ điều dưỡng tại BVĐK tỉnh Hà Tĩnh Luận
Án Tiến Sĩ Y Tế Công Cộng, Đại học Y tế Công Cộng
15 Lê Thị Trúc (2012) Tỷ lệ trầm cảm sau sinh và các yếu tố liên
quan ở phụ nữ có con dưới 1 tuổi tại xã Xuân Bình, huyện Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên năm 2012 Khóa Luận Cử Nhận Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
16 Huỳnh Thị Thu Huyền (2015) Tỷ lệ trầm cảm sau sinh và các
yếu tố liên quan ở phụ nữ có con dưới 1 tuổi tại phường 9,
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên năm 2014 Khóa Luận Cử Nhận Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
17 Bệnh viện Đa khoa Đắk Lắk (2017) Báo cáo khảo sát hài lòng người bệnh 6 tháng đầu năm 2017 URL:
http://benhviendaklak.org.vn/?language=vi&nv=news&op=Ban -tin-noi-bo/Ket-qua-khao-sat-su-hai-long-nguoi-benh-6-thang-dau-nam-2017-187
18 Nguyễn Thị Đài Nguyên (2017) Tỷ lệ bà mẹ hài lòng khi đưa
trẻ đi tiêm chủng mở rộng tại các trạm y tế huyện Tánh Linh,
Bình Thuận năm 2018 Khóa Luận Cử Nhân Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
19 Dương Văn Lợt, Y Vũ, Đinh Quốc Tú, Nguyễn Thị Lệ Hằng,
Dương Thị Hồng Vânc(2013) Sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Glei trong tháng 6 năm
2016 Nghiên cứu khoa học tại đơn vị Trung tâm Y tế huyện
Đăk Glei
20 Bộ Y Tế - Bộ Tài Chính (2014), Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế số 41/2014/TTLT-BYT-BTC
Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022
Trang 2CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA BỆNH NHÂN LAO ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Đức Duy1
, Ngô Thanh Bình2
, Huỳnh Ngọc Vân Anh3 TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Việt Nam nằm trong 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới Bệnh nhân lao phải
đối mặt với nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Nhằm hưởng ứng mục tiêu chấm dứt bệnh
lao vào năm 2030, việc tiến hành nghiên cứu chất lượng cuộc sống (CLCS) và các yếu tố liên quan của bệnh nhân
lao là cần thiết
Mục tiêu: Xác định điểm CLCS và các yếu tố liên quan bằng bảng câu hỏi WHOQoL-BREF
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 308 bệnh nhân lao điều trị nội trú tại
bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Chất lượng cuộc sống được đánh giá qua bộ câu hỏi WHOQoL-BREF và các yếu tố
liên quan được thể hiện qua mô hình hồi qui đa biến
Kết quả: Điểm CLCS là 53,7 ± 10,5, điểm số thấp nhất ở lĩnh vực sức thể chất 46,2 ± 15,1, điểm số cao nhất
ở lĩnh vực sức khỏe tâm lí 58,5 ± 12,8 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (p <0,05) là nhóm tuổi, học
vấn, nghề nghiệp, hôn nhân, tình trạng chung sống, tình trạng kinh tế và bệnh mạn tính
Kết luận: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao tương đối thấp, thấp nhất là sức khỏe thể chất, vì vây,
chú trọng nâng cao sức khỏe của bệnh nhân có các yếu tố liên quan và thiết kế các bài tập vận động kết hợp trong
quá trình điều trị
Từ khóa: chất lượng cuộc sống, bệnh nhân lao
ABSTRACT
QUALITY OF LIFE AND RELATED FACTORS IN TUBERCULOSIS TREATMENT
AT PHAM NGOC THACH HOSPITAL, HCM CITY
Le Duc Duy, Ngo Thanh Binh, Huynh Ngoc Van Anh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 301 - 307
Background: Vietnam is among the 30 countries with the highest TB burden in the world TB patients have
to experience many Hệ số gócoblems that affect their quality of life In order to meet the goal of ending TB by
2030, it is necessary to conduct research on quality of life and related factors of TB patients
Objectives: Determination of quality of life score and related factors using the WHOQoL-BREF
questionnaire
Method: Cross-sectional study on 308 TB patients inpatient treatment at Pham Ngoc Thach hospital
Quality of life is assessed through the WHOQoL-BREF questionnaire and related factors are shown through a
multivariate regression model
Result: The QoL score was 53.7 ± 10.5, the lowest score in the physical health area was 46.2 ± 15.1, the
highest score in the psychological health area was 58.5 ± 12.8 Factors related to quality of life (p <0.05) are age
group, education, occupation, marriage, cohabitation status, economic status and chronic disease
1 Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP HCM 2 Bộ môn Lao - Khoa Y, Đại học Y Dược TP HCM
3 Bộ môn Thống kê Y học và Tin học - Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP HCM
Tác giả liên lạc: ThS Huỳnh Ngọc Vân Anh ĐT: 0909 944 845 Email: hnvanhytcc@ump.edu.vn
Trang 3Conclusion: The quality of life of TB patients is relatively low, the lowest is physical health, therefore,
focusing on imHệ số gócoving the patient's health has related factors and designing combined motor exercises in
the treatment course
Keywords: quality of life, TB patient
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là một căn bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm tác động tiêu cực đến sức khỏe dân số, là 1
trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở
các nước có nền kinh tế thấp và trung bình
thấp(1) Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong 30
nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới,
ước tính năm 2019, Việt Nam có 170.000 ca mắc
lao và 9.400 người tử vong do lao(2)
Bệnh nhân lao phải đối mặt với nhiều vấn đề
gây cản trở quá trình điều trị và ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân(3,4) Đã có
nhiều nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân lao thông qua các bộ công cụ như
GHQ 12(5), SF-36(6), WHOQoL-BREF(3,7)
Bộ công cụ WHOQoL-BREF (đánh giá CLCS
theo tổ chức Y tế Thế giới- Bản rút gọn) sẽ hữu
ích nhất trong các nghiên cứu yêu cầu đánh giá
ngắn gọn về chất lượng cuốc sống Tính đến
năm 2020, bộ công cụ đã được chuẩn hóa cho 76
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam(8)
Tại Việt Nam, bộ công cụ WHOQoL-BREF đã
được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống
trên nhiều lĩnh vực cho thấy độ tin cậy của công
cụ trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân lao
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là một trong
những bệnh viện được phân công khám và chữa
bệnh chuyên khoa Lao và Bệnh Phổi các tỉnh
Miền Nam Trong 9 tháng đầu năm 2020, số
người xét nghiệm đàm phát hiện lao tại bệnh
viện Phạm Ngọc Thạch là 130.172 (chiếm 1,6%
dân số cả nước)(9) Là một trong những bệnh viện
hàng đầu trong việc khám và điều trị bệnh lao,
chúng tôi nghĩ việc tiến hành nghiên cứu chất
lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân lao tại
bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là điều cần thiết để
góp phần vào việc nâng cao hiệu quả điều trị
Mục tiêu
Xác định điểm CLCS theo thang đo WHOQoL-BREF và các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao điều trị nội trú tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân lao từ 18 tuổi trở lên đang điều trị nội trú tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu
Được tính dựa vào công thức thức ước lượng giá trị trung bình Dựa theo nghiên cứu của tác giả Sartika I(7) tiến hành tại Indonesia năm 2015, điểm chất lượng cuộc sống là 45,3 ± 23,3, chúng tôi chọn sai số biên d là 2,6 và kết quả ước lượng cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 308 Chúng tôi thực hiện phương pháp chọn mẫu liên tiếp Sau khi tiếp cận và giải thích mục tiêu của nghiên cứu, những bệnh nhân đang điều trị nội trú tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được ký văn bản đồng ý tham gia và được hỏi những câu hỏi liên quan đến chất lượng cuộc sống bằng thang đo chất lượng sống theo Tổ chức y tế Thế giới (WHOQoL BREF)
Bộ công cụ
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn bao gồm những thông tin về đặc điểm dân số (11 câu), tình trạng bệnh lí của bệnh nhân (6 câu) và những câu hỏi về chất lượng cuộc sống theo WHOQoL-BREF Bộ câu hỏi về chất lượng cuộc sống gồm 26 câu ở 4 lĩnh vực bao gồm: thể chất, tâm lí, quan hệ xã hội và môi trường sống
Thang điểm đánh giá sẽ được qui đổi qua thang điểm 100 theo bảng chuyển đổi của WHO, điểm
Trang 4càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt(10)
Phân tích thống kê
Sử dụng tần số và tỉ lệ phần trăm để mô tả
cho các biến về đặc điểm dân số xã hội (như
nhóm tuổi, giới tính, dân tộc, nơi sinh, tôn giáo,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn
nhân, tình trạng chung sống, tình trạng kinh tế),
bệnh mạn tính đi kèm, phân loại chẩn đoán lao,
chất lượng cuộc sống tự đánh giá và mức độ hài
lòng sức khỏe của bản thân Điểm chất lượng
cuộc sống được mô tả bằng trung bình và độ
lệch chuẩn
Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến được sử
dụng trong nghiên cứu để xác định các yếu tố
thực sự có liên quan đến CLCS Các phép kiểm
được xem là có ý nghĩa thống kê khi p <0,05
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng
Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y
Dược TP HCM, số: 107/ĐHYD-HĐĐĐ ngày
4/02/2021 và của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch số
458/PNT-HĐĐĐ ngày 16/4/2021
KẾT QUẢ
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2021 đến tháng 5/2021 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Có 309 bệnh nhân tiếp cận được và tất cả đều đồng ý tham gia nghiên cứu, tuy nhiên có 1 bệnh nhân chưa đủ 18 tuổi nên kết quả nghiên cứu được phân tích trên 308 bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu
Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu
Trong số 308 bệnh nhân, tỉ lệ tham gia của nam giới cao hơn nữ giới, độ tuổi trung bình tham gia nghiên cứu là 47,7 ± 15,8 tuổi, tuổi nhỏ nhất 19 và tuổi lớn nhất là 91 tuổi Phần lớn đối tượng nghiên cứu tập trung trong độ tuổi <60 tuổi, chiếm tỉ lệ 74,0% Dân tộc kinh chiếm 89,6% Về tôn giáo, có 58,4% đối tượng không theo tôn giáo nào, 26% đối tượng theo Phật giáo, 15,6% theo tôn giáo khác Dân số trong nghiên cứu chủ yếu sống ở thành thị, chiếm 64,9%, đối tượng sống ở vùng nông
thôn chiếm 35,1% (Bảng 1)
Bảng 1 Một số đặc điểm dân số của bệnh nhân lao (n=308)
Giới tính
Nam
Nữ
220
88
71,4 38,6
Tôn giáo Không tôn giáo Phật giáo Khác
180
80
48
58,4 26,0 15,6 Nhóm tuổi
<60 tuổi
≥60 tuổi
228
80
74,0 26,0
Nơi sinh sống Thành thị Nông thôn
200
108
64,9 35,1 Dân tộc
Kinh
Khác
276
32
89,6 10,4
Bảng 2 Đặc điểm kinh tế xã hội của bệnh nhân lao (n=308)
Trình độ học vấn
Dưới cấp I/mù chữ
Cấp I/cấp II
Từ cấp III trở lên
68
89
151
22,1 28,9 49,0
Sống với người thân
Có Không
265
43
86,0 14,0 Nghề nghiệp
Nghỉ hưu/Nội trợ/Thất nghiệp
Nông dân/Công nhân
Tự do/Buôn bán
Nhân viên văn phòng
98
86
82
42
31,8 27,9 26,6 13,7
Người chăm sóc
Có Không
214
94
69,5 30,5 Tình trạng hôn nhân
Kết hôn Độc thân /Li hôn/Góa
211
97
68,5 31,5
Tình trạng kinh tế Khó khăn Không khó khăn
43
265
14,0 86,0
Trang 5Người bệnh có trình độ học vấn từ cấp III trở
lên chiếm tỉ lệ cao nhất là 49,0% Nhóm nghề
nghiệp nghỉ hưu/nội trợ/thất nghiệp chiếm tỉ lệ
cao nhất (31,8%) trong nhóm nghề nghiệp Các
đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu đã kết
hôn với tỉ lệ 68,5% Nhóm đối tượng sống chung
với người thân chiếm 86,0% Bệnh nhân có
người chăm sóc chiếm 69,5% Về tình trạng kinh
tế, nhóm có tình trạng kinh tế khó khăn chiếm tỉ
lệ thấp nhất với 14,0% (Bảng 2)
Bảng 3 Quá trình điều trị bệnh lao (n=308)
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%) Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%)
Phân loại chẩn
đoán
Lao phổi
Lao ngoài phổi
244
64
79,2 20,8
Tình trạng lao ABF (+)
Có Không
122
186
39,6 60,4 Giai đoạn điều trị
Bắt đầu điều trị
Giai đoạn tấn công
Giai đoạn cũng cố
52
252
4
16,9 81,8 1,3
Lao kháng thuốc
Có Không
38
270
12,3 87,7
Tỉ lệ đối tượng được chẩn đoán lao phổi
chiếm tỉ lệ đa số với 79,2%, lao ngoài phổi chiếm
20,8% Đối tượng trong nhóm giai đoạn bắt đầu
điều trị chiếm tỉ lệ 16,9%, nhóm giai đoạn tấn
công chiếm tỉ lệ cao nhất với 81,8%, nhóm đối
tượng trong giai đoạn cũng cố chiếm 1,3%
Nhóm đối tượng có kết quả xét nghiệm AFB(+)
chiếm tỉ lệ 39,6% Nhóm đối tượng có tình trạng
lao kháng thuốc chiếm tỉ lệ 12,3% (Bảng 3)
Bảng 4 Các bệnh mạn tính tìm thấy trong nghiên
cứu (n=158)
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%) Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%)
Các bệnh kèm
Tăng huyết áp
Đái tháo đường
Bệnh xương khớp
Bệnh phổi mạn tính
95
43
28
20
30,8 14,0 9,1 6,5
HIV/AIDS Viêm gan Suy thận
16
13
7
5,2 4,2 2,3
Trong bệnh mạn tính kèm theo, các bệnh lí chiếm đa số là: tăng huyết áp, đái tháo đường, HIV/AIDS, bệnh phổi mạn tính với tỉ lệ lần lượt
là 30,8%, 14,0%, 9,1% và 6,5% (Bảng 4)
Chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân lao
Bảng 5 Chất lượng cuộc sống tự đánh giá của bệnh
nhân lao (n=308)
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%) Đặc điểm Tần số Tỉ lệ
(%)
CLCS Rất kém Kém Bình thường Tốt
23
76
183
26
7,5 24,7 59,4 8,4
Mức độ hài lòng về sức khỏe Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường Hài lòng
41
170
96
1
13,3 55,2 31,2 0,3
Có 59,4% đối tượng tham gia nghiên cứu đánh gía CLCS của mình bình thường chiếm tỉ lệ cao nhất, tỉ lệ bệnh nhân đánh giá CLCS tốt chỉ đạt 8,4% Đa số đối tượng đều không hài lòng về sức khỏe bản thân, chiếm tỉ lệ 55,2% Tỉ lệ bệnh nhân hài lòng với sức khỏe của mình chỉ đạt
0,3% (Bảng 5)
Bảng 6 Điểm thang đo CLCS theo thang đo
WHOQoL-BREF (n=308)
Đặc tính TB ± ĐLC Giá trị nhỏ nhất lớn nhất Giá trị
Kết quả cho thấy, điểm CLCS chung của bệnh nhân lao trong nghiên cứu là 53,7 ± 10,5
Trong đó, lĩnh vực sức khỏe thể chất có điểm thấp nhất là 46,2 ± 15,1 và lĩnh vực sức khỏe tâm
lí có số điểm cao nhất là 58,5 ± 12,8 Số điểm của các lĩnh vực quan hệ xã hội và môi trường sống
lần lượt là 53,0 ± 11,3 và 57,1 ± 11,3 (Bảng 6)
Bảng 7 Các yếu tố liên quan đến CLCS và các lĩnh vực (n=308)
Đặc điểm
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Nhóm tuổi
≥60 tuổi
-8,7 (-12,4 – -5,0)***
-6,7
-5,0 (-7,7 – -2,4)***
Học vấn
Dưới cấp I/mù chữ
Cấp I/cấp II
Từ cấp III trở lên
5,1 (1,7 – 8,6)**
8,6 (5,0 –12,2)***
4,1 (0,9 – 7,2)*
6,9 (3,6 – 10,2)***
1,9 (-1,8 – 5,6) 6,7 (2,8 – 10.6)**
2,6 ( -0,3 – 5,6) 7,9 (4,7 –11,1)***
3,4 (1,0 – 5,9)**
7,5 (4,9 – 10,1)***
Trang 6Đặc điểm
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Hệ số hồi qui (KTC 95%)
Nghề nghiệp
Nhân viên văn phòng
Nông dân/Công nhân
Nghỉ hưu/nội trợ/thất
nghiệp
Tự do/buôn bán
-2,6 (-6,2 – 1,1) 7,0 (11,0 – -3,0)***
-3,2 (-6,9 – 0,5)
-4,3 (-7,7 – -0,9)*
-4,3 (-7,9 – -0,6)*
-3,4 (-6,8 – 0,0)
8,1 (12,1 – -4,1)***
-3,9 (-8,2 – 0,4) -5,2 (-9,2 – -1,2)**
-7,4 (-10,6 – -4,2)***
-4,7 (-8,1 – -1,1)*
-2,4 (-5,6– 0,8)
-5,6 (-8,2 – -3,0)***
-5,0 (-7,8 – -2,1)**
-3,6 (-6,2 – -0,9)**
Tình trạng hôn nhân
Sống chung với người
thân
Có
-6,3 (-10,9 – -1,7)**
-7,4
Tình trạng kinh tế
Bệnh mạn tính
-4,1 (-6,0 – -2,3)***
*: p <0,05 **: p <0,01 ***: p <0,001
Mô hinh hồi qui tuyến tính đa biến chỉ ra
các yếu tố liên quan đến CLCS và các lĩnh vực,
các yếu tố liên quan bao gồm: nhóm tuổi, học
vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, sống
chung với người thân, tình trạng kinh tế và
bệnh mạn tính Tuổi càng cao CLCS càng
giảm Trình độ học vấn tỉ lệ thuận với CLCS
Những bệnh nhân trong nhóm độc thân/li
hôn/góa có CLCS giảm Những bệnh nhân có
kinh tế khó khăn hoặc mắc bệnh mạn tính kèm
theo có CLCS giảm (Bảng 7)
BÀN LUẬN
Kết quả điểm CLCS trên cả 4 lĩnh vực của
thang đo WHOQoL-BREF mà nghiên cứu thu
được là 53,7 ± 10,5 Nhìn chung kết quả này cao
hơn so với nghiên cứu của Sartika I thực hiện ở
Indonesia trên cùng đối tượng bệnh nhân lao
được đánh giá trên thang đo WHOQoL-BREF
(45,3 ± 25,3)(7)
Xét trong 4 lĩnh vực, lĩnh vực có điểm số cao
nhất là sức khỏe tâm lí (58,5 ± 12,8) và điểm lĩnh
vực thấp nhất là sức khỏe thể chất (46,2 ± 15,1)
Kết quả sức khỏe thể chất có điểm thấp nhất phù
hợp với kết quả của nghiên cứu Sartika I(7),
nghiên cứu của Aggarwal AN(11) Sự tương đồng
của các nghiên cứu cho thấy việc mắc lao ảnh
hưởng nhiều đến sức khỏe thể chất của người
bệnh Mặt khác, lĩnh vực sức khỏe tâm lí có điểm
số cao nhất, kết quả này tương tự với kết quả của nhóm tác giả Sartika I(7), tuy nhiên lại khác với 2 nghiên cứu của tác giả Adeyeye OO(3) và tác giả Aggarwal AN(11) Nghiên cứu của Adeyeye OO trên 260 bệnh nhân lao cho thấy điểm số trên lĩnh vực quan hệ xã hội cao nhất trong 4 lĩnh vực (70,8 ± 18,1)(3) Còn nghiên cứu của tác giả Aggarwal AN cũng cho thấy điểm lĩnh vực quan
hệ xã hội cao nhất trong 4 lĩnh vực (59,0 ± 17,3)(11) Sự khác biệt này có lẽ là do mỗi quốc gia
có một mức sống, môi trường sống khác nhau, nền kinh tế và sự phát triển khác nhau Vì vậy,
sẽ gây ra sự khác biệt trong phân bố điểm số CLCS khi đánh giá trên 4 lĩnh vực riêng biệt
Ở phần câu hỏi tự đánh giá bản thân, có 59,4% đối tượng đánh giá CLCS của mình ở mức
độ bình thường và có 55,2% không hài lòng về sức khỏe của bản thân Kết quả này phù hợp với điểm số ở lĩnh vực sức khỏe thể chất thấp nhất trong tất cả lĩnh vực
Các yếu tố liên quan đến CLCS
Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi của người bệnh và các lĩnh vực của thang đo như sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lí
và CLCS Cụ thể điểm số ở nhóm dưới 60 tuổi cao hơn nhóm từ 60 trở lên Nghiên cứu của
Trang 7Darvishpoor KA(12) và Kittikraisak W(13) nói về
bệnh lao cũng nhận thấy tuổi càng lớn chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân càng giảm
Trình độ học vấn của người bệnh càng cao,
CLCS của người bệnh càng tốt Trình độ học vấn
càng cao, con người có ý thức hơn trong việc
chăm sóc bản thân dẫn đến việc tăng cường sức
khỏe thể chất Mặt khác, giáo dục dẫn đến cải
thiện về tình trạng việc làm, các vấn đề xã hội và
tài chính làm giảm bớt tâm lí lo lắng của người
bệnh, tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ y
tế(12,14,15)
Nghề nghiệp của bệnh nhân có mối liên
quan với CLCS ở mọi lĩnh vực Cụ thể là nhóm
nghỉ hưu/nội trợ/thất nghiệp có điểm CLCS thấp
nhất ở hầu hết các lĩnh vực Có thể giải thích
rằng sự suy giảm sức khỏe thể chất làm giảm
khả năng lao động của người bệnh đồng thời
mắc bệnh truyền nhiễm khiến họ ít có cơ hội
được tuyển dụng(3,11,14,15)
Tình trạng hôn nhân, tình trạng chung sống
tác động đến CLCS ở hầu hết các lĩnh vực ngoại
trừ lĩnh vực quan hệ xã hội Cụ thể là nhóm độc
thân/li hôn/góa có điểm chất lượng cuộc sống
thấp hơn nhóm đã kết hôn Kết quả này có thể
giải thích là do những người trong nhóm độc
thân/li hôn/góa là người già nên điểm chất lượng
cuộc sống trung bình thấp hơn nhóm kết
hôn(3,6,16)
Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan
giữa tình trạng kinh tế với CLCS ở hầu hết các
lĩnh vực, ngoại trừ lĩnh vực sức khỏe thể chất
Kết quả tương đồng với các nghiên cứu(3,15) Mặc
dù được cấp thuốc miễn phí nhưng do quá trình
điều trị kéo dài nhiều chi phí phát sinh, việc này
ảnh hưởng đến những người có tình trạng kinh
tế khó khăn do vừa điều trị bệnh vừa phải suy
nghĩ cách trang trải cuộc sống Những người này
thường dành thời gian cho việc để trang trải
cuộc sống và công việc của họ thường nặng nhọc
hơn nên có thể giải thích vì sao lĩnh vực quan hệ
xã hội và môi trường sống của họ thấp hơn
nhóm khác
Bệnh mạn tính có liên quan hầu hết với các
lĩnh vực của thang đo CLCS Những người mắc bệnh mạn tính kèm theo có CLCS thấp hơn những người không mắc bệnh mạn tính Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Đỗ Phúc Như Nguyện(14) Các bệnh mạn tính cùng tồn tại,
có nhiều khả năng làm CLCS(17) Điểm mạnh trong nghiên cứu của chúng tôi
là sử dụng thang đo chuẩn hóa, có độ tin cậy cao
và tính giá trị cao Nghiên cứu góp phần khẳng định lại các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân lao Tuy nhiên, đây chỉ là một nghiên cứu cắt ngang nên không thể suy luận ra quan
hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan với CLCS của bệnh nhân và nghiên cứu chưa có nhóm chứng để so sánh So với nghiên cứu của tác giả
Đỗ Phúc Như Nguyện(14) cùng tiến hành tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch thì cỡ mẫu của chúng tôi lơn hơn và sử dụng thang đo WHOQoL-BREF
Ngoài những điểm giống nhau trong mối liên quan giữa CLCS với các đặc điểm dân số, kinh tế
xã hội và bệnh mạn tính kèm theo, chúng tôi chưa tìm ra được mối quan hệ giữa CLCS với quá trình điều trị bệnh lao như trong nghiên cứu của tác giả Như Nguyện
KẾT LUẬN
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao còn thấp Các yếu tố có liên quan đến CLCS và các lĩnh vực là nhóm tuổi, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, chung sống với người thân, tình trạng kinh tế và bệnh mạn tính
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Health Organization (2020) The top 10 the causes of
death, https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/the-top-10-causes-of-death, accessed on 24 Nov 2021
2 World Health Organization (2020) Global tuberculosis report
2020, https://www.who.int/publications/i/item/9789240013131, accessed on 24 Nov 2021
3 Adeyeye OO, Ogunleye OO, Coker A, et al (2014) Factors Influencing Quality of Life and Predictors of Low Quality of Life Scores in Patients on Treatment for Pulmonary Tuberculosis: A
Cross Sectional Study J Public Health Afr, 5(2):366
4 Datta S, Gilman RH, Montoya R, et al (2020) Quality of life, tuberculosis and treatment outcome; a case-control and nested
cohort study Eur Respir J, 56(2):1900495
5 Aydin IO, Uluşahin A (2001) Depression, anxiety comorbidity, and disability in tuberculosis and chronic obstructive
pulmonary disease patients: applicability of GHQ-12 Gen Hosp Psychiatry, 23(2):77-83
Trang 86 Mamani M, Majzoobi MM, Ghahfarokhi SM, Esna-Ashari F,
Keramat F (2014) Assessment of Health-related Quality of Life
among Patients with Tuberculosis in Hamadan, Western Iran
Oman Med J, 29(2):102-105
7 Sartika I, Insani WN, Abdulah R (2019) Assessment of
Health-Related Quality of Life among Tuberculosis Patients in a Public
Primary Care Facility in Indonesia J Glob Infect Dis,
11(3):102-106
8 World Health Organization (2020) WHOQOL: Measuring
https://www.who.int/tools/whoqol/whoqol-bref
9 Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (2020) Chương trình phòng
chống lao: Hội nghị Sơ kết hoạt động 9 tháng đầu năm 2020
URL:
https://hcdc.vn/category/van-de-suc-khoe/chuong-trinh-
phong-chong-lao-hoi-nghi-so-ket-hoat-dong-9-thang-dau-nam-2020-82312cafef8d971131463ff3454aebbc.html
10 World Health Organization (1996) Whoqol-Bref Introduction,
Administration, Scoring And Generic Version Of The
https://www.who.int/mental_health/media/en/76.pdf
11 Aggarwal AN, Gupta D, Janmeja AK, Jindal SK (2013)
Assessment of health-related quality of life in patients with
pulmonary tuberculosis under programme conditions Int J
Tuberc Lung Dis, 17(7):947-953
12 Darvishpoor KA, Masjedi MR (2015) Factors Associated with Health-Related Quality of Life in Tuberculosis Patients Referred
to the National Research Institute of Tuberculosis and Lung
Disease in Tehran Tuberc Respir Dis, 78(4):309-314
13 Kittikraisak W, Kingkaew P, Teerawattananon Y, et al (2012)
Health related quality of life among patients with tuberculosis
and HIV in Thailand PLoS ONE, 7(1):e29775
14 Đỗ Phúc Như Nguyện (2019) Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đang điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm
2017 Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 23(5):490
15 Chung WS, Lan YL, Yang MC (2012) Psychometric testing of the short version of the world health organization quality of life (WHOQOL-BREF) questionnaire among pulmonary
tuberculosis patients in Taiwan BMC Public Health, 12:630
16 Louw J, Peltzer K, Naidoo P et al (2012) Quality of life among tuberculosis (TB), TB retreatment and/or TB-HIV co-infected primary public health care patients in three districts in South
Africa Health Qual Life Outcomes, 10:77
17 Megari K (2013) Quality of Life in Chronic Disease Patients
Health Psychol Res, 1(3):e27
Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022