Phá thai là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong mẹ tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam những nghiên cứu đi sâu tiếp cận các nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá thai thường rất hạn chế. Bài viết trình bày việc tìm hiểu nguyên nhân phá thai và các yếu tố liên quan của thai phụ đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trang 1NGUYÊN NHÂN PHÁ THAI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ
ĐẾN TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Đỗ Thị Nhung 1 , Trịnh Thị Hoàng Oanh 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phá thai là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong mẹ tại các nước đang phát triển Tại Việt
Nam những nghiên cứu đi sâu tiếp cận các nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá thai thường rất hạn chế
Mục tiêu: Tìm hiểu nguyên nhân phá thai và các yếu tố liên quan của thai phụ đến Trung tâm Kiểm soát
bệnh tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính được thực hiện với 15 phỏng vấn sâu
(thai phụ và các bác sỹ/nữ hộ sinh) Nghiên cứu cắt ngang với kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, đã phỏng vấn
354 thai phụ với bộ câu hỏi có cấu trúc nhằm ước lượng tỷ lệ (%) các nguyên nhân phá thai
Kết quả: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định phá thai: đã đủ số con (65,5%), kinh tế (34,2%),
con còn nhỏ (17,0%), sức khỏe của mẹ (13,6%), tính chất công việc, nghề nghiệp (10,0%), chưa có gia đình
(9,3%), chồng/bạn tình không đồng ý (4,8%), khác (4,5%), sức khỏe của thai (4,0%) Có mối liên quan giữa
nguyên nhân phá thai với sự hỗ trợ về tinh thần vật chất và tình trạng sức khỏe của mẹ trong thời gian
mang thai (p <0,05)
Kết luận: Thai phụ lựa chọn phá thai do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là đã đủ số con và hạn chế
kinh tế Cần tăng cường hoạt động truyền thông về biện pháp tránh thai đối với cả nam và nữ trong độ
tuổi sinh sản
Từ khóa: phá thai, nguyên nhân phá thai, yếu tố liên quan, định tính
ABSTRACT
CAUSES OF ABORTION AND RELATED FACTORS AMONG PREGNANT WOMEN ADMITTED TO
THE CENTER FOR DISEASE CONTROL OF BA RIA - VUNG TAU PROVINCE
Do Thi Nhung, Trinh Thi Hoang Oanh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 285 - 293
Background: Abortion is the leading cause of maternal death in developing countries In Vietnam, there are
very few in-depth studies that approach the causes of abortion
Objectives: Understanding the causes of abortion and their related factors among pregnant women who
were admitted to the Center for Disease Control of Ba Ria - Vung Tau province
Methods: A qualitative study was carried out with 15 in-depth interviews (pregnant women and
doctors/midwives) In order to estimate the prevalence of causes of abortion, a cross-sectional study was conducted
using convenient sampling to interview 354 pregnant women with a structured questionnaire
Results: There are many reasons for deciding to have an abortion: having enough children (65.5%),
economy (34.2%), too soon after having had a child (17.0%), mother's health (13.6%), nature of work, occupation
(10.0%), unmarried (9.3%), husband/partner disagrees (4.8%), other causes (4.5%), fetal's health (4.0%) There
is a relationship between the cause of abortion with mental material support and the mother's health status during
pregnancy (p <0.05)
1 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 2 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN Đỗ Thị Nhung ĐT: 0767573721 Email: dothinhung.ytcc@gmail.com
Trang 2Conclusions: Pregnant women choose abortion for many reasons, mainly due to having enough children
and economic limitations It is necessary to promote communication programs on contraception methods
Keywords: abortion, causes of abortion, related factors, qualitative
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phá thai là một nội dung rất quan trọng
trong sức khỏe sinh sản (SKSS) Trên thế giới gần
8% các ca tử vong mẹ liên quan đến phá thai và
99,5% xảy ra ở các nước đang phát triển(1)
Năm 2015 của Quỹ dân số Liên hợp quốc và
Bộ Y tế cho kết quả Tổng tỷ suất phá thai ở Việt
Nam là 0,42, nghĩa là cứ 5 phụ nữ sẽ có 2 người
đã từng phá thai ít nhất 1 lần trong toàn bộ giai
đoạn sinh sản(2) Hiện nay, những nghiên cứu về
phá thai ở Việt Nam thường tập trung đánh giá
hiệu quả của các phương pháp phá thai, nghiên
cứu đi sâu tiếp cận các nguyên nhân dẫn đến
tình trạng phá thai thường rất hạn chế Đa phần
các nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng
nên khó có thể diễn tả đầy đủ các nguyên nhân
dẫn đến phá thai của phụ nữ
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR – VT) theo Niên
giám thống kê năm 2019 sơ bộ có 1.152.200
người, trong đó nữ chiếm 50% dân số(3) Theo
báo cáo sức khỏe sinh sản của tỉnh BR - VT tỷ lệ
phá thai tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật
(KSBT) luôn đứng đầu trong các cơ sở y tế công
lập tại tỉnh Năm 2018 là 1.029 ca trên 1.236 ca
chiếm tỷ lệ 83,3%(4), năm 2019 là 1.119 ca trên
1.226 ca chiếm tỷ lệ 91,3%(5) Do tỷ lệ phá thai
hàng năm tại Trung tâm KSBT luôn chiếm trên
80% tổng số ca phá thai tại các cơ sở y tế công lập
tại tỉnh BR – VT, nên việc nghiên cứu tại Trung
tâm KSBT sẽ giúp cho mẫu nghiên cứu đa dạng,
đầy đủ và mang tính đại diện về đặc điểm dân
số – xã hội tại tỉnh BR – VT
Từ những lý do trên nghiên cứu “Nguyên
nhân phá thai và các yếu tố liên quan của phụ
nữ đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu” được thực hiện Kết quả của nghiên
cứu sẽ giúp ngành Y tế tỉnh BR – VT có những
chiến lược hoạt động để giảm thiểu tình trạng
phá thai, góp phần cải thiện sức khỏe sinh sản
của phụ nữ
Mục tiêu
Tìm hiểu nguyên nhân phá thai và các yếu tố liên quan (đặc điểm dân số xã hội, tiền sử sản khoa) của phụ nữ đến Trung tâm Kiểm soát
bệnh tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu: Phụ nữ đến phá thai và bác
sỹ hoặc nữ hộ sinh làm việc tại Phòng khám chuyên khoa phụ sản của Trung tâm KSBT tỉnh
BR – VT năm 2021 Dân số chọn mẫu: Phụ nữ đến phá thai và bác sỹ hoặc nữ hộ sinh làm việc tại tại Phòng khám chuyên khoa phụ sản của Trung tâm KSBT tỉnh BR – VT trong thời gian từ ngày 01/4/2021 – 17/6/2021
Tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra
Đối tượng phụ nữ đến phá thai
Tiêu chí chọn vào: Phụ nữ từ 18 tuổi trở lên đến phá thai tại Phòng khám chuyên khoa Phụ sản của Trung tâm KSBT tỉnh BR – VT; có trạng thái tinh thần tỉnh táo, có đủ sức khỏe để tham gia phỏng vấn, có khả năng nghe hiểu và giao tiếp được; có đơn xin tự nguyện phá thai và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra: Đối tượng đến làm thủ thuật sau khi đã sảy thai hoặc thai chết lưu; đối tượng
bỏ ngang cuộc phỏng vấn (trong nghiên cứu định tính)
Đối tượng nhân viên y tế
Tiêu chí chọn vào: Bác sỹ hoặc nữ hộ sinh làm việc tại Phòng khám chuyên khoa Phụ sản của Trung tâm KSBT tỉnh BR – VT trong thời gian nghiên cứu; có khả năng cung cấp thông tin
và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra: Đối tượng bỏ ngang cuộc phỏng vấn
Trang 3Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu (NC) định tính (phỏng vấn sâu)
và nghiên cứu định lượng (cắt ngang)
Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
NC định tính: chọn mẫu có chủ đích
NC định lượng: chọn mẫu thuận tiện
Cách tính cỡ mẫu trong NC định lượng
Sử dụng công thức ước tính một tỷ lệ cho
nghiên cứu cắt ngang:
n: cỡ mẫu cần thiết; Z: trị số phân phối
chuẩn; α: xác suất sai lầm loại I (α=0,05); p: tỷ lệ
phá thai do nguyên nhân đã đủ số con mong
muốn 32,4%(6); d: độ chính xác (hay sai số cho
phép, d=0,05) Dự trù mất mẫu 5%, cỡ mẫu cần
thiết tối thiểu 354 phụ nữ
Bộ công cụ và phương pháp thu thập thông tin
Nghiên cứu định tính: Sau khi thai phụ đã có
đơn tự nguyện phá thai, nhờ các cán bộ trong
Phòng khám giới thiệu thai phụ theo tiêu chí
chọn mẫu có chủ đích, với đối tượng bác sỹ/nữ
hộ sinh mời cán bộ tại Phòng khám tham dự
phỏng vấn Nếu đối tượng đồng ý thì sẽ tiến
hành phỏng vấn sâu (PVS), nếu không đồng ý
thì lựa chọn đối tượng khác đến khi đủ mẫu
nghiên cứu Sử dụng bảng hướng dẫn PVS, có
ghi âm cuộc phỏng vấn và ghi chép lại nội dung,
cử chỉ, biểu cảm của đối tượng trong khi phỏng
vấn Thông tin được mã hóa và lưu trữ cẩn thận
Nghiên cứu định lượng: Sau khi thai phụ đã
có đơn tự nguyện phá thai, nhờ các cán bộ trong
Phòng khám giới thiệu các thai phụ theo tiêu chí
chọn vào Nếu đối tượng đồng ý thì sẽ tiến hành
phỏng vấn, nếu không đồng ý thì lựa chọn đối
tượng khác đến khi đủ mẫu nghiên cứu Sử
dụng bộ câu hỏi soạn sẵn có cấu trúc gồm 7
phần, bao gồm thông tin cá nhân, tiền sử sản
khoa, thông tin lần phá thai này, thông tin về
chồng/bạn tình của đối tượng, dịch vụ phá thai,
kiến thức về biện pháp tránh thai (BPTT)(7,8), thực hành các BPTT(7,8)
Kiểm soát sai lệch chọn lựa: Chọn đúng đối tượng theo mục tiêu nghiên cứu và tiêu chí chọn vào
Xử lý và phân tích dữ kiện
Nghiên cứu định tính: Kết quả nghiên cứu được tổng hợp, trình bày và báo cáo bằng phần mềm Microsoft Word 2010, Microsoft Excel 2010, Stata14 và phần mềm Nvivo 12; dữ liệu định tính mô tả theo mục tiêu nghiên cứu dưới dạng văn bản
Nghiên cứu định lượng: Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm Stata 14; tần số và tỷ lệ được sử dụng đối với các biến số định tính; trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng đối với biến định lượng phân phối bình thường hoặc trung vị và khoảng
tứ phân vị nếu biến định lượng phân phối không bình thường; dùng kiểm định Chi bình phương đối với những biến nhị giá để xét mối liên quan giữa nguyên nhân phá thai với đặc điểm cá nhân của mẹ, nếu có trên 20% tổng số vọng trị nhỏ hơn 5 hoặc 1 ô có giá trị nhỏ hơn 1 thì chọn kiểm định Fisher; mô hình hồi quy Poisson để xác định mối liên quan giữa biến số độc lập là biến danh định hoặc biến thứ tự với biến số phụ thuộc là biến nhị giá; tỷ số tỷ lệ hiện mắc PR và khoảng tin cậy 95% dùng để lượng giá mối liên quan giữa nguyên nhân phá thai với đặc điểm cá nhân của mẹ, tiền sửsản khoa; tiêu chí sử dụng để xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê là p <0,05; mô hình hồi quy đa biến Poisson với tùy chọn Robust được sử dụng
để kiểm soát nhiễu, chọn các biến số có p <0,2 trong mô hình đơn biến và những biến số mà có mối liên quan trên y văn, sau khi phân tích giữ lại các yếu tố có p <0,05
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, số: 178/HĐĐĐ-ĐHYD, ngày 09/3/2021
Trang 4KẾT QUẢ
Đặc tính mẫu nghiên cứu
NC định tính từ ngày 01/4/2021 đến
06/4/2021 thu được 15 PVS, trong đó 10 PVS của
thai phụ đến phá thai (5 phụ nữ nông thôn, 5
phụ nữ thành phố) và 05 PVS của bác sỹ/nữ hộ
sinh Theo đó, độ tuổi trung bình của thai phụ là
31,8 và 100% đang kết hôn Nhân viên y tế có độ
tuổi trung bình là 43, số năm công tác trong lĩnh
vực SKSS trung bình là 18 năm
NC định lượng đã mời 354 thai phụ đến phá
thai tham gia vào nghiên cứu từ ngày 07/4/2021
đến 17/6/2021, với tỷ lệ đồng ý tham gia 100%
Bảng 1: Đặc điểm dân số xã hội của thai phụ (n=354)
Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
Dân tộc
Tôn giáo
Sử dụng BPTT
Kết quả Bảng 1 cho thấy trong 354 thai phụ
tham gia nghiên cứu định lượng chủ yếu trong
nhóm tuổi 25 – 35 (47,5%), hầu hết thuộc dân tộc
Kinh (97,7%) và không theo tôn giáo nào (65,3%)
Trong lần mang thai này tỷ lệ thai phụ có sử
dụng BPTT chiếm gần 50%
Bảng 2: Kiến thức đúng và thực hành đúng về BPTT
(n=354)
Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kiến thức
Thực hành
Bảng 2 cho thấy đa phần thai phụ có chưa
thai phụ có thực hành chưa đúng về BPTT
Nguyên nhân phá thai
Khi nói về nguyên nhân phá thai các thai phụ nói đến rất nhiều lý do dẫn đến quyết định phá thai như là do họ đã đủ số con mong muốn, không đủ kinh tế, sức khỏe của mẹ, sức khỏe của thai, có người do chồng hay bạn tình không muốn để sinh, có người do tính chất công việc
“Chị có 3 đứa con rồi, đủ trai gái cả, mang thai làm gì nữa em.”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, nông thôn, 40 tuổi)
“Bây giờ kinh tế cũng không cho phép.”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, thành phố, 29 tuổi)
“công việc của mình à nó chưa được ổn định phải đi làm mà nếu như mà sanh nó ra thì mình phải mất việc.”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, thành phố, 30 tuổi)
“chị cũng lớn tuổi rồi sức khỏe nó cũng không có được giống như ngày xưa nữa”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, nông thôn, 38 tuổi)
“Em có nói em có thai, anh ý cũng suy nghĩ mới bảo em bỏ đi”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, nông thôn, 25 tuổi)
“con nó còn nhỏ quá thì sanh nó ra thì tội nó”
(Phỏng vấn sâu, thai phụ, thành phố, 30 tuổi) Nhân viên y tế cũng bổ sung thêm một nguyên nhân phá thai là do một số phụ nữ chưa
có gia đình
“Một số người thì ví dụ chưa kết hôn thì là là như có có thai rồi thì đấy là những cái ngoài ý muốn của người phụ nữ đó.”
(Phỏng vấn sâu, nữ nhân viên y tế, 34 tuổi)
NC định lượng cũng cho kết quả có nhiều nguyên nhân khiến thai phụ lựa chọn phá thai
Hình 1A cho thấy nguyên nhân phá thai cao
nhất là do đã đủ số con mong muốn (65,5%), sau
đó là các nguyên nhân như không đủ kinh tế, con còn nhỏ, sức khỏe của mẹ, thấp nhất là do
sức khỏe của thai (4,0%) Hình 1B cho thấy trong
số những nguyên nhân phá thai đã lựa chọn, gần một nửa thai phụ chọn nguyên nhân chính
Trang 5Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân phá thai
Kết quả Bảng 3 cho thấy có mối liên quan
giữa nguyên nhân phá thai do đã đủ số con
mong muốn với sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất (phc <0,05), số con hiện có (phc <0,001), giới tính con hiện có (phc<0,01)
A
65.5 34.2
17.0 13.6 10.0 9.3 4.8 4.5 4.0
Đã đủ số con mong muốn
Không đủ kinh tế Con còn nhỏ Sức khỏe của mẹ Tính chất công việc, nghề nghiệp
Chưa có gia đình Chồng/bạn tình không đồng ý
Khác Sức khỏe của thai
%
B
48,6 17,0
9,9 8,2 7,6 3,4 2,0 2,0 1,4
Đã đủ số con mong muốn Không đủ kinh tế Con còn nhỏ Sức khỏe của mẹ Chưa có gia đình
Khác Tính chất công việc, nghề nghiệp
Sức khỏe của thai Chồng/bạn tình không đồng ý
%
Hình 1: A Tỷ lệ các nguyên nhân phá thai; B Tỷ lệ các nguyên nhân chính dẫn đến phá thai (n=354)
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân phá thai do đã đủ số con mong muốn
Đặc điểm Đủ số con mong muốn n (%) PR thô
(KTC thô 95%) p thô
PR hc (KTC hc 95%) p hc
Hỗ trợ về tinh thần và vật chất
Giới tính con hiện có
*Phép kiểm khuynh hướng PR: Prevalence Ratio (Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) KTC: Khoảng tin cậy; hc: hiệu chỉnh
Bảng 4: Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân phá thai do không đủ kinh tế
Đặc điểm Không đủ kinh tế n (%) PR thô
(KTC thô 95%) p thô
PR hc (KTC hc 95%) p hc
Hỗ trợ về tinh thần và vật chất
Tình trạng sức khỏe
PR: Prevalence Ratio (Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) KTC: Khoảng tin cậy; hc: hiệu chỉnh
Trang 6Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân phá thai do con còn nhỏ
Đặc điểm Con còn nhỏ n
(%)
PR thô (KTC thô 95%) p thô
PR hc (KTC hc 95%) p hc
Nhóm tuổi mẹ
Tôn giáo
PR: Prevalence Ratio (Tỷ số tỷ lệ hiện mắc); KTC: Khoảng tin cậy; hc: hiệu chỉnh
Bảng 6: Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân phá thai do sức khỏe của mẹ
Đặc điểm Sức khỏe của mẹ
n (%)
PR thô (KTC thô 95%) p thô
PR hc (KTC hc 95%) p hc
Nghề nghiệp
Học sinh, sinh viên/nội trợ/thất
Tình trạng sức khỏe
PR: Prevalence Ratio (Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) KTC: Khoảng tin cậy hc: hiệu chỉnh
Kết quả Bảng 4 cho thấy có mối liên quan
giữa nguyên nhân phá thai do không đủ kinh tế
với sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất (phc <0,001),
tình trạng sức khỏe của thai phụ (phc <0,05)
Kết quả Bảng 5 cho thấy có mối liên quan
giữa nguyên nhân phá thai do con còn nhỏ với
nhóm tuổi mẹ (phc <0,01), tôn giáo mẹ (phc <0,05)
Kết quả Bảng 6 cho thấy có mối liên quan
giữa nguyên nhân phá thai do sức khỏe của mẹ
với nghề nghiệp mẹ (phc <0,05), tình trạng sức
khỏe mẹ (phc <0,05)
BÀN LUẬN
Nghiên cứu cắt ngang trên 354 thai phụ,
nhóm tuổi từ 25 đến 35 chiếm tỷ lệ nhiều nhất
(47,5%) Nghiên cứu của Phạm Thị Trang tại
bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng cho thấy hầu hết
phụ nữ phá thai trong nhóm tuổi từ 25 đến 35
(59,8%)(6) Điều này có thể lý giải do 25 đến 35 là
độ tuổi sinh đẻ, tần suất sinh hoạt tình dục cao,
hơn những độ tuổi khác Hầu hết thai phụ tham gia nghiên cứu là dân tộc Kinh (97,7%) Điều này phù hợp với cơ cấu về dân tộc của Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất 85,3%(9) Trong nghiên cứu có khoảng gần 50% thai phụ có sử dụng BPTT nhưng thất bại, tỷ lệ này khá cao, điều này phù hợp với tỷ lệ thai phụ có kiến thức chưa đúng về BPTT, theo kết quả thu được tỷ lệ này chiếm gần 60% Ngành Y tế tỉnh BR – VT cần tăng cường truyền thông về các BPTT cho cả đối tượng nam và nữ trong độ tuổi sinh sản
Trong nghiên cứu định tính, khi nói về nguyên nhân phá thai đa phần các đối tượng cho rằng để dẫn đến quyết định phá thai thì có nhiều nguyên nhân: do người phụ nữ đã đủ số con mong muốn, do kinh tế, sức khỏe của thai phụ, sức khỏe của thai, chồng/ bạn tình không muốn sinh, có người do công việc, con còn nhỏ hoặc chưa có gia đình Nhìn chung các nguyên nhân phá thai này cũng tương tự với các nguyên nhân
Trang 7phá thai từ các nghiên cứu trước đây(10,11)
Kết quả rút ra từ nghiên cứu định tính đã
cho biết những nguyên nhân mà phụ nữ thường
quyết định phá thai tại địa phương, qua đó điều
chỉnh lại các lựa chọn về nguyên nhân phá thai
trong nghiên cứu định lượng một cách phù hợp
Nghiên cứu định lượng cho thấy nguyên
nhân phá thai do đã đủ số con mong muốn
chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó lần lượt là các
nguyên nhân như do không đủ kinh tế, do con
còn nhỏ, do sức khỏe của mẹ Nghiên cứu của
Lưu Thị Hồng năm 2010 tại bệnh viện phụ sản
Trung ương cho thấy nguyên nhân phá thai của
phụ nữ như không muốn có con ngay (49,27%),
đang đi học (31,71%), bạn tình (24,88%), gia đình
(17,07%), kinh tế (15,12%), công việc (12,68%),
vấn đề sức khỏe (6,34%), quy định của cơ quan
(2,93%)(12) Sự khác biệt này có thể là do đối
tượng trong nghiên cứu của Lưu Thị Hồng 90%
thuộc 18 – 25 tuổi(12) lúc đó đa phần phụ nữ đang
phấn đấu cho công việc, học tập nên những lý
do không muốn có con lúc này, đang đi học,
kinh tế, công việc chiếm tỷ lệ cao Nghiên cứu
cho thấy đa phần phụ nữ lựa chọn đã đủ số con
mong muốn là nguyên nhân chính quyết định
phá thai Không muốn sinh thêm con cũng là
nguyên nhân phá thai chính của phụ nữ theo kết
quả các nghiên cứu tại 5 quốc gia: Armenia
(2010), Azerbaijan (2006), Georgia (2010), Nepal
(2011), Nga (2011)(13)
Kết quả phân tích đa biến cho kết quả những
thai phụ có hỗ trợ về tinh thần và vật chất phá
thai do nguyên nhân đã đủ số con mong muốn
thấp hơn những thai phụ không được hỗ trợ với
p<0,05 Nguyên nhân ở đây có thể là do những
thai phụ được hỗ trợ về tinh thần và vật chất sẽ
có khả năng sẽ sinh con nếu mang thai khi đã có
đủ con mong muốn Nghiên cứu cũng cho thấy
có mối liên quan mang tính khuynh hướng giữa
nguyên nhân phá thai do đã đủ số con mong
muốn và số con hiện có của thai phụ (p <0,001)
Phần lớn người dân BR – VT muốn sinh 2 con
trở xuống (63%) và BR – VT cũng là tỉnh có mức
sinh thấp trong cả nước(14) Do đó, có thể lý giải khi số con hiện có cao có thể người phụ nữ sẽ lựa chọn phá thai do nguyên nhân đã đủ số con
Nghiên cứu cho thấy những thai phụ đã có con trai và con gái có tỷ lệ phá thai do nguyên nhân
đã đủ con mong muốn cao hơn những thai phụ chỉ có con trai (p <0,01) Một nghiên cứu năm
2019 cho thấy những người miền Nam có tâm lý
ưa thích cả con trai và con gái, khi họ đã đủ con trai và con gái thì họ sẽ rất ít sinh thêm con nữa, điều này trái ngược với tâm lý ưa thích con trai của người miền Bắc(15)
Trong quá trình mang thai người phụ nữ có rất nhiều thay đổi về tâm, sinh lý nên rất cần sự chia sẻ động viên về tinh thần và vật chất từ chồng/bạn tình, người thân, bạn bè Đối với những thai phụ không có nguồn lực kinh tế hay gặp bất cứ khó khăn nào đó việc thiếu sự hỗ trợ
về tinh thần và vật chất có thể là nguyên nhân khiến họ không muốn mang thai Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa nguyên nhân phá thai do không đủ kinh tế và sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất trong thời gian mang thai (p <0,001) Có mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe của thai phụ và nguyên nhân phá thai do không đủ kinh tế (p <0,05) Từ xa xưa ông bà ta
đã đề cao vai trò của sức khỏe “Sức khỏe là vàng”, “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm” con người khi có sức khỏe sẽ làm ra kinh tế Tương tự, người phụ nữ
có sức khỏe họ có thể đi làm để kiếm tiền thì nguyên nhân phá thai do không đủ kinh tế của
họ có thể sẽ không nhiều
Có mối liên quan giữa nhóm tuổi của thai phụ với nguyên nhân phá thai do con còn nhỏ (p <0,01) Nghiên cứu của Pestvenidze E cũng cho kết quả tương tự(16) Đa phần phụ nữ Việt Nam sinh con trong độ tuổi từ 20 đến 29(17) Do vậy có thể trên 35 tuổi phụ nữ sẽ lấy lý do phá thai do con còn nhỏ ít hơn những nhóm tuổi trẻ hơn Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tôn giáo của mẹ và nguyên nhân phá thai do con còn nhỏ (p <0,05), kết quả này khác nghiên cứu
Trang 8tại Georgia năm 2010(16) Kết quả của hai nghiên
cứu có sự không có sự tương đồng có thể do sự
khác biệt về văn hóa, tôn giáo giữa các quốc gia
Những thai phụ có nghề nghiệp buôn bán
phá thai do nguyên nhân sức khỏe của mẹ cao
hơn những thai phụ có nghề nghiệp là nông
dân/công nhân với p <0,05 Thời gian mang
thai do tâm sinh lý thay đổi một số thai phụ sẽ
cảm thấy mệt mỏi, trong khi đó buôn bán là
một nghề thường không có thời gian nghỉ ngơi
cố định, tiếp xúc với nhiều người và đi lại
nhiều, nên có thể thai phụ sẽ lấy nguyên nhân
phá thai do sức khỏe của mẹ cao hơn Tình
trạng sức khỏe không được tốt của thai phụ có
thể là lý do khiến thai phụ lựa chọn nguyên
nhân phá thai do sức khỏe Kết quả của nghiên
cứu cho thấy những thai phụ có sức khỏe bình
thường có tỷ lệ phá thai do sức khỏe của mẹ
thấp hơn những thai phụ có sức khỏe không
khỏe lắm/kém (p <0,05) Nghiên cứu tại Mỹ
cũng cho thấy mối liên quan giữa nguyên
nhân phá thai do sức khỏe và tình trạng sức
khỏe của thai phụ (p <0,05)(18)
Điểm mạnh của nghiên cứu: Kết hợp cả
nghiên cứu định tính và định lượng giúp tìm
hiểu sâu được các nguyên nhân phá thai, điều
tra viên được tập huấn giúp giảm thiểu sai lệch
thông tin, điều tra viên là nữ, địa điểm đảm bảo
tính riêng tư góp phần tăng tính tin cậy của số
liệu, mô hình hồi quy đa biến góp phần tìm ra
những yếu tố liên quan thực sự Điểm hạn chế
của nghiên cứu: Do quá trình xét duyệt y đức
đối tượng phá thai dưới 18 tuổi không được đưa
vào nghiên cứu nên tỷ lệ nguyên nhân phá thai
do chưa kết hôn có thể bị ước lượng non, nghiên
cứu định tính chưa khảo sát trên những đối
tượng liên quan như chồng/bạn tình, bố mẹ của
chồng/vợ, đo lường kiến thức đúng và thực
hành đúng về BPTT chưa theo một công cụ đo
lường chuẩn, việc lấy mẫu thuận tiện nên tính
đại diện có phần nào bị hạn chế, nghiên cứu chỉ
thực hiện xác định mối liên quan của 4 nguyên
đảm bảo lực thống kê của các kiểm định so sánh
KẾT LUẬN
Một phụ nữ khi quyết định phá thai đều có một hay nhiều nguyên nhân, chủ yếu là đã đủ số con và hạn chế kinh tế Cần tăng cường truyền thông về các BPTT cho cả đối tượng nam và nữ trong độ tuổi sinh sản Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa nguyên nhân phá thai với sự
hỗ trợ về tinh thần vật chất và tình trạng sức khỏe của mẹ trong thời gian mang thai Gia đình, đặc biệt là người chồng cần quan tâm, chia
sẻ, động viên với thai phụ về mọi vấn đề trong cuộc sống (tinh thần, vật chất) Trong quá trình mang thai, phụ nữ cần quan tâm đến sức khỏe của chính mình như bổ sung những thực phẩm
có lợi cho sức khỏe, tăng cường hoạt động thể dục, thể thao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Say L, Chou D, Gemmill A, Tunçalp Ö, Moller AB, Daniels J, Gülmezoglu AM, Temmerman M, Alkema L (2014) Global
causes of maternal death: a WHO systematic analysis Lancet Glob Health, 2(6):e323-33
2 UNFPA, Bộ Y tế (2017) Nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch
vụ kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam BYT, pp.1 - 86
3 Tổng cục Thống kê (2020) Niên giám thống kê 2019 In: Tổng
cục Thống kê Niên giám thống kê 2019, pp.51 – 105 NXB Thống
kê, Hà Nội
4 Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản (2018) Báo cáo Thống
kê y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
5 Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản (2019) Báo cáo Thống
kê y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
6 Phạm Thị Trang (2019) Thực trạng bạo lực bạn tình và một số
yếu tố liên quan ở phụ nữ phá thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà
Nội năm 2018 Luận Văn Thạc Sĩ Y Tế Công Cộng, Đại học Y Hà Nội
7 Bộ Y tế (2016) Kế hoạch hóa gia đình In: Bộ Y tế Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, pp.277 -
325 NXB Vụ Sức Khỏe Bà Mẹ-Trẻ Em, Hà Nội
8 Nguyễn Thanh Phong (2017) Nghiên cứu kiến thức, thái độ,
thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số trường Đại học/Cao đẳng thành phố Hà Nội và hiệu quả giải
pháp can thiệp Luận Án Tiến Sĩ Y Học, Đại học Y Hà Nội
9 Ủy Ban dân tộc, Tổng cục Thống kê (2020) Dân số và các đặc trưng nhân khẩu học In: Tổng cục thống kê Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc
thiểu số năm 2019, pp.53 Nhà Xuất Bản Thống kê, Hà Nội
10 Gbagbo FY, Amo-Adjei J, Laar A (2015) Decision-Making for
Induced Abortion in the Accra Metropolis, Ghana Afr J Reprod Health, 19(2):34-42
11 Rehnström Loi U, Lindgren M, Faxelid E, Oguttu M, Klingberg-Allvin M (2018) Decision-making preceding induced abortion:
a qualitative study of women’s experiences in Kisumu, Kenya
Trang 912 Lưu Thị Hồng (2012) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến việc
đi phá thai ở phụ nữ chưa kết hôn tại bệnh viện Phụ sản Trung
ương Phụ Sản, 10(2):208-212
13 Chae S, Desai S, Crowell M, Sedgh G (2017) Reasons why
women have induced abortions: a synthesis of findings from 14
countries Contraception, 96(4):233-241
14 Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2019) Báo cáo kết quả
khảo sát trên mạng: Số con mong muốn của người dân Việt
Nam hiện nay
15 Tổng cục Thống kê (2020) In: Tổng cục Thống kê Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2019: Mất cân bằng giới tính khi sinh xu
hướng, sự khác biệt và các nhân tố ảnh hưởng, pp.24 – 32 Nhà
Xuất Bản Tài Chính, Hà Nội
16 Pestvenidze E, Stray-Pedersen B (2018) Who obtains abortion in
Georgia and why? Int J Womens Health, 10:733-743
17 Cổng thông tin điện tử Chính phủ (2020) Bức tranh tổng thể về
http://baochinhphu.vn/Doi-song/Buc-tranh-tong-the-ve-thuc-trang-muc-sinh-o-Viet-Nam/397811.vgp
18 Biggs MA, Gould H, Foster DG (2013) Understanding why
women seek abortions in the US BMC Womens Health, 13:29
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022