Lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội. Để thực hiện mục tiêu chấm dứt bệnh lao vào năm 2030 thì tuân thủ điều trị là vấn đề tiên quyết. Bài viết trình bày xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân lao đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021.
Trang 1TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở BỆNH NHÂN LAO ĐANG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH NĂM 2021
Danh Thanh Đồng 1 , Lê Nữ Thanh Uyên 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, để lại nhiều
hậu quả nặng nề cho bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội Để thực hiện mục tiêu chấm dứt bệnh lao vào năm
2030 thì tuân thủ điều trị là vấn đề tiên quyết
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân lao đang điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021
Đối tượng và hương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 04/2021 đến tháng 05/2021
trên bệnh nhân lao đang điều trị tại Khoa Khám và điều trị ngoại trú bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Bệnh nhân lao
từ đủ 18 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú tối thiểu 01 tháng được phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt dựa trên bộ
câu hỏi soạn sẵn Thông tin thu thập bao gồm: đặc điểm nền, tình trạng bệnh, gắn kết gia đình, tuân thủ điều trị
Kết quả: Tổng cộng có 198 bệnh nhân lao tham gia nghiên cứu Tỉ lệ tuân thủ điều trị ở mức cao theo thang
đo MMAS-8 là 43,4% Các yếu tố liên quan bao gồm: nhóm tuổi, nhóm nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tình
trạng sử dụng rượu bia, tình trạng hút thuốc lá, tác dụng phụ và gắn kết gia đình
Kết luận: Tỉ lệ tuân thủ điều trị ở mức cao theo thang đo MMAS-8 còn thấp Cần quan tâm nhiều hơn đến
việc dùng thuốc của bệnh nhân lao, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi, làm các nghề tự do/buôn bán, đã kết
hôn, đang hoặc đã sử dụng rượu bia, thuốc lá, gặp tác dụng phụ khi dùng thuốc, có gia đình gắn kết không tốt
hoặc không gắn kết
Từ khóa: tuân thủ điều trị, bệnh lao, Morisky, MMAS-8
ABSTRACT
ADHERENCE AND ASSOCIATED FACTORS AMONG OUT-PATIENTS WITH TUBERCULOSIS AT
PHAM NGOC THACH HOSPITAL, HO CHI MINH CITY, IN 2021
Danh Thanh Dong, Le Nu Thanh Uyen
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 242 - 248
Backgrounds: Tuberculosis (TB) is one of the leading causes of death worldwide, with severe consequences
for themselves, their families and society To achieve the goal of ending TB by 2030, adherence is a prerequisite
Objectives:To identify the proportion of adherence and associated factors among out-patients with
tuberculosis at Pham Ngoc Thach Hospital
Methods: A cross-sectional survey was conducted from April to June 2021 on 198 TB patients being treated
at Department of Examination and Out-patient treatment at Pham Ngoc Thach Hospital All eligible subjects to
participate in the study will be collected by face to face interviews through structured questionaire Tuberculosis
adherence was measured by using the MMAS-8 scale and the cut-off > 8 was identified with high adherence
Results:The results showed that the proportion of high adherence by MMAS-8 scale was 43.4%, The
prevalence of high adherence was associated with age group, educational level, occupational, marital status,
1 Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2alcohol use status, smoking status, side effects and family bonding
Conclusions: The prevalence of TB high adherence was still low by the MMAS-8 scale More attention
should be interested to the drug use of TB patients, especially in patients who were elderly, self-employed,
married, used alcohol, smoking, had side effects, poor family bonding or non-bonding
Keywords: adherence, tuberculosis, morisky, MMAS-8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ nhiều năm nay, lao luôn là một trong
mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên
toàn thế giới Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO), trong năm 2019 thế giới có khoảng
10 triệu người đang bị bệnh lao, 1,4 triệu người
tử vong vì bệnh lao và 500 nghìn người mắc lao
kháng thuốc Việt Nam vẫn là nước có gánh
nặng bệnh lao cao Trong năm 2019, Việt Nam
ghi nhận khoảng 170 nghìn người mắc bệnh lao,
11,4 nghìn người tử vong do bệnh lao, và 8,4
nghìn người là lao kháng thuốc(1) Thành phố Hồ
Chí Minh là thành phố đông dân nhất Việt Nam
và là trung tâm điều hành lao và lao kháng
thuốc khu vực phía Nam Việt Nam Trong 9
tháng đầu năm 2020, số người xét nghiệm đàm
phát hiện lao là 130.172 người (chiếm 1,55% dân
số) Nguồn lây được phát hiện toàn thành phố
là: 10.047 người(2)
Lao kháng thuốc (MDR-TB) tiếp tục là vấn
đề đe dọa đến sức khỏe cộng đồng Trong khi
85% trường hợp lao trên thế giới có thể điều trị
khỏi, nhưng chỉ 57% trường hợp lao đa kháng
thuốc được điều trị thành công(1) Nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng vi khuẩn lao đề kháng
với thuốc là sự không tuân thủ điều trị từ người
bệnh Không tuân thủ điều trị còn dẫn đến nguy
cơ thất bại điều trị, thời gian điều trị kéo dài, tái
phát bệnh và thậm chí là tử vong(3) Tỉ lệ không
tuân thủ điều trị qua các nghiên cứu trên thế giới
dao động từ 24,7% đến 58,2%(4,5,6,7,8); còn tại Việt
Nam, tỉ lệ không tuân thủ điều trị dao động từ
20,2% đến 63,6%(9,10,11,12,12)
Để thực hiện mục tiêu chấm dứt bệnh lao
vào năm 2030 trong Hội nghị “Hưởng ứng ngày
thế giới phòng chống Lao 24/3/2020” thì việc
tuân thủ điều trị là vấn đề tiên quyết góp phần
đạt được mục tiêu đó Bệnh viện Phạm Ngọc
Thạch là bệnh viện hạng I, trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, đây là bệnh viện đầu ngành, phụ trách chỉ đạo trong lĩnh vực chữa bệnh cho chuyên khoa Lao và bệnh phổi tại miền Nam Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nhằm xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu
tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân lao năm 2021
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Khám
và điều trị ngoại trú bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 04 năm 2021 đến tháng 05 năm
2021 Tất cả các bệnh nhân lao từ đủ 18 tuổi trở lên đang điều trị tối thiểu 01 tháng có mặt tại thời điểm nghiên cứu; không gặp các vấn đề về trí nhớ, ngôn ngữ và các bệnh lý rối loạn nhận thức được mời tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ:
Trong đó:
N: cỡ mẫu nghiên cứu; Z(1–α/2)=1,96; α=0,05;
d=0,07; p=0,457 (Dựa vào nghiên cứu của Chen
X(8) có tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị cao theo thang đo MMAS-8 là 45,7%) Thay vào công thức tính cỡ mẫu, ta được N ≈ 195
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 195 người
Phương pháp thực hiện
Chọn mẫu thuận tiện
Trang 3Nghiên cứu viên sẽ tiếp cận bất kỳ bệnh
nhân lao đến điều trị tại khoa Khám và điều trị
ngoại trú bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Sau khi
giới thiệu bản thân, mục đích nghiên cứu, tính
bảo mật Nếu bệnh nhân thỏa tiêu chí đưa vào
và đồng ý tham gia nghiên cứu thì nghiên cứu
viên bắt đầu phỏng vấn mặt đối mặt theo bảng
câu hỏi soạn sẵn Nếu bệnh nhân không đồng ý
tham gia, người phỏng vấn sẽ tiếp cận bệnh
nhân khác trong cùng khoa cho đến khi đạt cỡ
mẫu đã tính
Bộ câu hỏi dùng để phỏng vấn gồm 4 phần:
Đặc điểm nền (gồm: giới tính, năm sinh, dân tộc,
tôn giáo, nơi ở hiện tại, nghề nghiệp, trình độ
học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng chung
sống, tình trạng kinh tế, sử dụng rượu bia, hút
thuốc lá); Tình trạng bệnh (gồm: bệnh kèm theo,
chẩn đoán lao hiện tại, tiền căn lao, tình trạng lao
kháng thuốc, tác dụng phụ, thời gian điều trị
lao); Gắn kết gia đình (dùng thang đo gắn kết
gia đình APGAR, gồm 3 giá trị: Không gắn kết,
gắn kết không tốt, gắn kết tốt); Tuân thủ điều trị
(Dùng thang đo tuân thủ dùng thuốc MMAS-8,
gồm 3 giá trị: tuân thủ điều trị cao, trung bình,
thấp) Tổng điểm MMAS-8 dao động từ 0 – 8
điểm Các tiêu chí chấm điểm được lấy từ chủ sở
hữu thang điểm và các điểm cắt được xác định
trước bởi tác giả thang đo: Morisky, mức độ tuân
thủ có thể được phân loại là cao (=8 điểm), trung
bình (6 – <8 điểm) và thấp (<6 điểm)(7) Trong
nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu tập trung vào
việc đo lường tuân thủ điều trị cao; vì vậy, tuân
thủ thuốc được xếp vào hai nhóm mức độ: cao
và không cao (gồm trung bình và thấp)(10)
Phân tích thống kê
Số liệu được nhập từ phần mềm Epidata 3.1
và xử lý bằng STATA 14.2
Xác định mối liên quan của đặc điểm nền, tình trạng bệnh, gắn kết gia đình với tuân thủ điều trị: dùng kiểm định chi bình phương (χ2)
Nếu có trên 20% các ô có vọng trị dưới 5 hoặc bất kỳ ô nào có vọng trị dưới 1 thì dùng kiểm định chính xác Fisher
Ước lượng mối liên quan bằng tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR), có ý nghĩa thống kê với p <0,05 và khoảng tin cậy 95% không chứa giá trị 1
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, số 102/HĐĐĐ-ĐHYD kí ngày 17/02/2021 và của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, số 449/PNT-HĐĐĐ kí ngày 15/04/2021
KẾT QUẢ
Có 200 bệnh nhân lao được tiếp cận, 2 bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu, số mẫu được thu thập và phân tích là 198 bệnh nhân Đặc điểm nghiên cứu của các bệnh nhân lao và các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê được trình
bày ở các Bảng 1, 2, 3
Bảng 1 Đặc điểm nền của bệnh nhân lao (N=198)
Đặc tính Tần số Tỉ lệ % Đặc tính Tần số Tỉ lệ %
Tình trạng kinh tế
Nhóm tuổi
Tình trạng chung sống
Tình trạng kết hôn
Trang 4Đặc tính Tần số Tỉ lệ % Đặc tính Tần số Tỉ lệ %
Nghề nghiệp
Tình trạng hút thuốc lá
Bảng 2 Tình trạng bệnh của bệnh nhân lao (N=198)
Đặc tính Tần số Tỉ lệ % Đặc tính Tần số Tỉ lệ %
Các loại bệnh kèm
theo (n=85)
tại
ĐTĐ a
Thời gian điều trị < 3 tháng 68 34,3
a : Đái tháo đường b :Tăng huyết áp
c : Hen, COPD, bệnh thận, đục thủy tinh thể, viêm xoang, u vú, u gan, ung thư tuyến giáp, ung thư bàng quang, rối loạn tiền
đình, viêm tai giữa, động kinh, trĩ, thiếu máu, loãng xương, trầm cảm, tán huyết, sỏi mật, rối loạn tiền đình
Bảng 3 Gắn kết gia đình và tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao (N=198)
Đặc tính Tần số Tỉ lệ % Đặc tính Tần số Tỉ lệ %
Phân loại gắn kết gia đình
MMAS-8
a
: Trung bình
Bảng 4 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và các đặc điểm của bệnh nhân lao (N=198)
(KTC 95%) Cao Không cao
Nhóm tuổi
0,002a
1
Nghề nghiệp
Công nhân viên chức 11 (45,8) 13 (54,2) 0,016 2,68 (1,20 – 6,00) Không việc làm/khác 25 (46,3) 29 (53,7) 0,008 2,71 (1,30 – 5,66)
Tình trạng hôn nhân b
Tình trạng sử dụng rượu bia
Hiện tại vẫn uống 21 (41,2) 30 (58,8) 0,160 0,76 (0,52 – 1,11)
Tình trạng hút thuốc lá
Hiện tại vẫn hút 7 (21,9) 25 (78,1) 0,014 0,43 (0,22 – 0,84)
Trang 5Đặc tính Tuân thủ điều trị p PR
(KTC 95%) Cao Không cao
Gắn kết gia đình
Gắn kết không tốt 4 (7,3) 51 (92,7) <0,001 0,12 (0,04 – 0,30)
a : Kiểm định chi bình phương có tính khuynh hướng b : Kiểm định chính xác Fisher
BÀN LUẬN
Hầu hết đặc điểm nền của bệnh nhân lao
được ghi nhận đều có kết quả tương đồng với
kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây trên
cùng đối tượng(4,5,8,10,13,14) Qua nghiên cứu ghi
nhận một số đặc điểm nổi bật của bệnh nhân lao
đang điều trị ngoại trú như: nam giới chiếm tỉ lệ
cao hơn nữ giới, chủ yếu thuộc độ tuổi lao động,
là dân tộc Kinh, không tôn giáo, trình độ học vấn
từ Trung học Cơ sở trở xuống, đa số đã kết hôn,
sống chung với gia đình, kinh tế gia đình ở mức
đủ sống Những bệnh nhân đang và đã từng
uống rượu bia và/hoặc chưa từng hút thuốc lá
chiếm tỉ lệ cao Nhìn chung, tuổi trung bình
trong nghiên này và một số nghiên cứu khác đều
thuộc lứa tuổi lao động Ở độ tuổi này, con
người tạo dựng mối quan hệ, giao tiếp nhiều nên
nguy cơ phơi nhiễm bệnh lao là rất lớn Khi công
việc chịu nhiều áp lực, gánh nặng cuộc sống gia
đình khiến bản thân căng thẳng, mệt mỏi, phải
thức khuya, dinh dưỡng không hợp lý, sống
trong môi trường ngột ngạt, ẩm thấp, hệ miễn
dịch suy giảm dễ khởi phát bệnh lao Bên cạnh
lao, hơn 40% đối tượng nghiên cứu còn mắc
thêm ít nhất một bệnh mãn tính khác Ở những
bệnh nhân đang mắc bệnh mãn tính, sức khỏe
suy yếu, ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể;
vì vậy, dễ phát bệnh truyền nhiễm do tác nhân
vi sinh xâm nhập chẳng hạn như lao Trong số
các bệnh nền, tăng huyết áp và đái tháo đường
là hai bệnh lý chiếm tỉ lệ cao nhất HIV/AIDS
chiếm tỉ lệ trong khoảng 10%, kết quả này phù
hợp với các nghiên cứu trên cùng đối tượng và
địa điểm(13,14) Có thể thấy, HIV/AIDS, tăng huyết
áp và đái tháo đường vẫn là những bệnh mãn
tính phổ biến ở bệnh nhân lao, là gánh nặng cho
biến nhất, kết quả này tương đồng so với kết quả của một số nghiên cứu được thực hiện cùng địa điểm(13,14) Đa số các bệnh nhân lao đều đang điều trị ở giai đoạn duy trì (thời gian điều trị trên
3 tháng), chiếm tỉ lệ 65,7% Tỉ lệ bệnh nhân lao có gia đình gắn kết tốt là 65,6% Gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc và hỗ trợ người bệnh lao; vì lao là bệnh truyền nhiễm mãn tính và thời gian điều trị kéo dài nên bệnh nhân lao rất cần nhận được chăm sóc và hỗ trợ từ gia đình Sự gắn kết của gia đình là điều quan trọng hàng đầu trong việc tuân thủ điều trị và hoàn thành điều trị ở bệnh nhân lao Nghiên cứu cho thấy có 43,4% bệnh nhân lao tuân thủ điều trị cao theo thang đo MMAS-8 Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu sử dụng thang đo để
đo lường tuân thủ điều trị lao trên thế giới(4,6,8) Nhìn chung, vẫn còn một tỉ lệ bệnh nhân lao chưa tuân thủ điều trị tốt, điều này có thể dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng rất nặng nề lên bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội như: thất bại điều trị, thời gian điều trị kéo dài, tái phát bệnh, lao kháng thuốc và thậm chí là tử vong(3)
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tuân thủ điều trị như nhóm tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tình trạng sử dụng rượu bia, tình trạng hút thuốc lá, tác dụng phụ và gắn kết gia đình Cụ thể, những bệnh nhân thuộc nhóm tuổi càng cao thì tỉ lệ tuân thủ điều trị cao càng giảm Kết quả này tương đồng với kết quả một số nghiên cứu khác(10,11) và phù hợp thực tế Càng lớn tuổi con người ta càng phải lo lắng cho nhiều vấn đề như:
công việc, gia đình, vợ/chồng, con cái có thể khiến bản thân không còn dành sự quan tâm đến sức khỏe của bản thân ở mức tốt nhất Các bệnh nhân ở độ tuổi trên 60 vì tuổi cao, trí nhớ
Trang 6giảm; việc uống thuốc phụ thuộc nhiều vào sự
nhắc nhở, hỗ trợ từ con cháu Từ các vấn đề trên
có thể dẫn đến tình trạng uống thuốc chống lao
không đúng quy định Những bệnh nhân làm
nghề nông dân, công nhân, công nhân viên chức,
hay thuộc nhóm không việc làm/khác đều có tỉ lệ
tuân thủ điều trị cao tăng so với những bệnh
nhân làm nghề tự do/buôn bán (p <0,05) Kết quả
này phù hợp thực tế, đối với những người làm
các nghề tự do/buôn bán, họ phải phục vụ khách
hàng bất cứ khi nào khách hàng có yêu cầu, làm
việc cường độ cao, rất khó kiểm soát được nhiều
vấn đề khác chẳng hạn như uống thuốc đúng
quy định Những bệnh nhân độc thân, có bạn
tình, góa có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao tăng so với
những bệnh nhân đã kết hôn (p <0,05) Sự khác
biệt trong nghiên cứu này có thể là vì những
người không thuộc nhóm đã kết hôn do không
có sự chăm sóc từ vợ/chồng nên họ phải tự quan
tâm đến sức khỏe của bản thân, vì vậy, ý thức
tuân thủ điều trị lao của họ cao hơn; bên cạnh đó
gia đình, bạn bè và bạn tình cũng là nơi hỗ trợ
đắc lực, chăm sóc, động viên, quan tâm đến sức
khỏe của họ, là nguồn động lực giúp họ tuân thủ
điều trị bệnh tốt Đối với những bệnh nhân đã
kết hôn, bên cạnh việc quan tâm đến bản thân,
họ còn dành rất nhiều sự quan tâm đến các vấn
đề khác như vợ/chồng, con cái nên dễ khiến họ
không tuân thủ việc dùng thuốc chống lao
Những bệnh nhân đã từng uống rượu bia hiện
không uống nữa có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao
giảm so với nhóm bệnh nhân chưa bao giờ uống
(p=0,009) Những bệnh nhân hiện tại vẫn đang
hút thuốc lá có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao giảm so
với nhóm bệnh nhân chưa bao giờ hút thuốc lá
(p=0,014) Những người chưa bao giờ uống rượu
bia và/hoặc hút thuốc lá là những người có ý
thức bảo vệ sức khỏe tốt, biết quan tâm đến tình
trạng sức khỏe của bản thân nên khi bị bệnh họ
sẽ dành nhiều sự quan tâm cho sức khỏe của
mình, hiểu được tầm quan trọng của việc tuân
thủ điều trị bệnh lao Ngoài ra, những bệnh
nhân có sử dụng rượu bia và hút thuốc lá có
nguy cơ giảm trí nhớ; vì vậy, khả năng không
tuân thủ điều trị ở nhóm người này cao hơn
Những bệnh nhân có gặp tác dụng phụ có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao giảm so với những bệnh nhân không gặp tác dụng phụ (p <0,001) Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác(4,10,11) và phù hợp với thực tế; tác dụng phụ của thuốc dù ít hay nhiều đều ảnh hưởng tâm lý, sức khỏe của bệnh nhân, khiến bệnh nhân ngại uống thuốc Đây là rào cản rất lớn dẫn đến tình trạng không tuân thủ điều trị bệnh của bệnh nhân lao Những bệnh nhân có gia đình gắn kết không tốt hoặc không gắn kết có tỉ lệ tuân thủ điều trị cao giảm so với những bệnh nhân có gia đình gắn kết tốt (p <0,05) Để tuân thủ điều trị tốt, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân người bệnh còn rất cần sự quan tâm, chăm sóc và động viên
từ phía gia đình bệnh nhân Nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ điều trị với giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi ở hiện tại, nhóm trình độ học vấn, tình trạng chung sống, tình trạng kinh tế, bệnh kèm theo, chẩn đoán lao hiện tại, tình trạng lao kháng thuốc, tiền căn mắc lao và thời gian điều trị
Qua nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra: Đối với nhân viên y tế, trong những buổi khám bệnh, cần có mặt cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân; hỏi thăm tình hình sử dụng thuốc trong thời gian qua ở mỗi lần khám để bệnh nhân và người thân hiểu được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị Tuân thủ điều trị thuốc không chỉ là trách nhiệm của bệnh nhân
mà còn là trách nhiệm của những người thân sống cùng bệnh nhân Đối với người nhà bệnh nhân: cần hỗ trợ, quan tâm về thể chất và tinh thần của bệnh nhân, nhắc nhở, động viên người bệnh dùng thuốc theo đúng quy định, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao không tuân thủ điều trị Đối với bệnh nhân: Cần áp dụng một số biện pháp có thể đảm bảo tuân thủ điều trị bệnh như: hẹn giờ uống thuốc mỗi ngày bằng những thiết bị thông minh, nhờ người thân sống chung gia đình nhắc nhở về việc uống thuốc điều trị bệnh, tạo thói quen uống thuốc mỗi ngày theo đúng lời hướng dẫn của bác sĩ điều trị, cần
Trang 7báo ngay cho bác sĩ điều trị khi gặp tác dụng
phụ của thuốc điều trị bệnh
KẾT LUẬN
Tổng cộng có 198 bệnh nhân lao điều trị
ngoại trú tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch tham
gia nghiên cứu từ tháng 04 năm 2021 đến tháng
05 năm 2021 Tỉ lệ tuân thủ điều trị ở mức cao
theo thang đo MMAS-8 còn thấp, chiếm tỉ lệ
43,4% Cần quan tâm hơn đến việc dùng thuốc
của bệnh nhân lao, đặc biệt ở những bệnh nhân
lớn tuổi, làm các nghề tự do/buôn bán, đã kết
hôn, đang hoặc đã sử dụng rượu bia, thuốc lá,
gặp tác dụng phụ khi dùng thuốc, có gia đình
gắn kết không tốt hoặc không gắn kết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Health Organization (2020) Global Tuberculosis report
2020, URL:
https://www.who.int/teams/global-tuberculosis-programme/tb-reports/9789240013131
2 Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh (2020)
Chương trình phòng chống lao: Hội nghị Sơ kết hoạt động 9
tháng đầu năm 2020 URL:
https://hcdc.vn/category/van-de-suc-
khoe/chuong-trinh-phong-chong-lao-hoi-nghi-so-ket-hoat-
dong-9-thang-dau-nam-2020-82312cafef8d971131463ff3454aebbc.html
3 Zhang J, Yang Y, Qiao X, et al (2020) Factors Influencing
Medication Nonadherence to Pulmonary Tuberculosis
Treatment in Tibet, China: A Qualitative Study from the Patient
Perspective Patient Prefer Adherence, 14:1149-1158
4 Du L, Chen X, Zhu X, et al (2020) Determinants of Medication
Adherence for Pulmonary Tuberculosis Patients During
Continuation Phase in Dalian, Northeast China Patient Prefer
Adherence, 14:1119-1128
5 Gube AA, Debalkie M, Seid K, et al (2018) Assessment of
Anti-TB Drug Nonadherence and Associated Factors among Anti-TB
Patients Attending TB Clinics in Arba Minch Governmental
Health Institutions Southern Ethiopia Tuberculosis Research and
Treatment, https://doi.org/10.1155/2018/3705812
6 Mbuti H, Mwaniki E, Warutere P, et al (2020) Social Demographic Factors Associated with Adherence to Treatment
Among Urban and Rural Tuberculosis Patients in Kenya Int J Med Sci Heal Res, 4(03):111-122
7 Xu M, Markström U, Lyu J, et al (2017) Detection of Low Adherence in Rural Tuberculosis Patients in China: Application
of Morisky Medication Adherence Scale International Journal of Environmental Research and Public Health, 14(3):248
8 Chen X, Du L, Wu R, et al (2020) The effects of family, society and national policy support on treatment adherence among newly diagnosed tuberculosis patients: a cross-sectional study
BMC Infectious Diseases, 20(1):1-11
9 Thân Thị Bình, Vũ Văn Thành (2019) Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh lao ngoại trú tại
Trung tâm y tế Cao Lộc năm 2019 Khoa Học Điều Dưỡng,
2(3):105-112
10 Nguyễn Thị Mỹ Dung, Alison Merrill, Trần Thiện Trung (2019)
Sự tuân thủ dùng thuốc của người bệnh lao và các yếu tố liên
quan Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 23(5):193-199
11 Hà Văn Như, Nguyễn Xuân Tình (2014) Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao và một số yếu tố liên quan tại Phòng khám ngoại trú Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Giang năm
2013 Y Học Thực Hành, 905(2):43-47
12 Nguyễn Thạnh Trị, Lê Hồng Phước, Tô Gia Kiên (2018) Tuân
thủ điều trị ở bệnh nhân lao trong giai đoạn tấn công Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 22(1):1-7
13 Đỗ Phúc Như Nguyện (2017) Chất lượng cuộc sống và các yếu
tố liên quan của bệnh nhân lao đang điều trị tại bệnh viện Phạm
Ngọc Thạch năm 2017 Khóa Luận Tốt nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
14 Nguyễn Thị Thế Nhân (2017) Tỉ lệ trầm cảm và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân lao đang điều trị ngoại trú tại Bệnh
viện Phạm Ngọc Thạch năm 2018 Khóa Luận Tốt nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022