1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám bác sĩ gia đình bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh

8 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh mạn tính không lây phổ biến nhất hiện nay. Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có khuynh hướng ngày càng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến việc chăm sóc và điều trị ở người bệnh khám ngoại trú. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ CLGN kém và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân THA tại Phòng khám Bác sĩ gia đình (BSGĐ), bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM).

Trang 1

CHẤT LƢỢNG GIẤC NGỦ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH

BỆNH VIỆN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hoàng Văn Tám 1 , Nguyễn Duy Phong 1 , Lê Nữ Thanh Uyên 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh mạn tính không lây phổ biến nhất hiện nay

Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có khuynh hướng ngày càng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến việc chăm sóc

và điều trị ở người bệnh khám ngoại trú Có nhiều nghiên cứu chứng minh CLGN kém có liên quan với các nguy

cơ làm tăng bệnh lý THA và các bệnh mạn tính khác Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về CLGN trên

người bệnh THA

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ CLGN kém và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân THA tại Phòng khám Bác sĩ gia

đình (BSGĐ), bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 422 bệnh nhân THA tại Phòng khám

BSGĐ, bệnh viện Quận 2, TP HCM từ tháng 01/2021-05/2021 Tất cả đối tượng đủ điều kiện tham gia nghiên

cứu được phỏng vấn trực tiếp qua bộ câu hỏi soạn sẵn; CLGN kém được đánh giá qua điểm trung bình PSQI với

ngưỡng cắt >5 Sử dụng hồi quy Poisson để xác định mối liên quan, với p <0,05

Kết quả: Điểm PSQI trung bình là 6,9 ± 4,28; tỷ lệ có CLGN kém chiếm 57,8% Sau khi phân tích hồi quy

Poisson đa biến, các biến số: nhóm chỉ số khối cơ thể (p=0,049), trình độ học vấn (p <0,001), nơi sinh sống

(p=0,045), phân độ THA (p=0,015), trầm cảm (p <0,001), bệnh mạn tính đi kèm (p <0,001), cụ thể bệnh tim mạch

(p=0,001), bệnh cơ xương khớp (p <0,001) là thật sự có liên quan đến CLGN kém

Kết luận: Tỷ lệ người bệnh THA có CLGN kém còn khá cao; cần chú trọng đánh giá CLGN ở các bệnh nhân

có các đặc điểm: chỉ số khối cơ thể cao, trình độ học vấn thấp, sống ở thành thị, phân độ THA cao, trầm cảm, có

bệnh mạn tính đi kèm, bệnh tim mạch, bệnh cơ xương khớp

Từ khóa: chất lượng giấc ngủ, tăng huyết áp, PSQI, PHQ-9

ABSTRACT

SLEEP QUALITY AND ASSOCIATED FACTORS AMONG HYPERTENSION PATIENTS

AT FAMILY DOCTOR’S CLINIC IN DISTRICT 2 HOSPITAL, HO CHI MINH CITY

Hoang Van Tam, Nguyen Duy Phong, Le Nu Thanh Uyen

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 234 - 241

Background: Hypertension is one of the most common chronic non-infectious diseases Poor sleep quality

(SQ) tends to increase negative effects on care and treatment in outpatents There are many studies demonstrated

that poor SQ is associated with an increased risk of hypertension and other chronic diseases In Vietnam, there

have not been many studies on SQ in patients with hypertension

Objective: To identify the proportion of poor SQ and associated factors among outpatients with

hypertention at family doctors’s clinic in district 2 Hospital, Ho Chi Minh City

Methods: A cross-sectional survey was conducted on 422 hypertension patients at family doctors’s clinic in

district 2 Hospital, Ho Chi Minh City from January to May in 2021 All eligible subjects were interviewed face to

1 Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Lê Nữ Thanh Uyên ĐT: 0903313539 Email: lenuthanhuyen@ump.edu.vn

Trang 2

face via a structured questionnaire Poor SQ was measured by using the mean PSQI score based on a cut-off of

>5 Poisson Regression model were used to evalute associations between poor SQ and related factors with p <0.05

Results: The mean PSQI was 6.9 ± 4.28 and the proportion of poor SQ was 57.8% After analyzing

multivariable with Poisson Regression, the prevalence of poor SQ was associated with Body Mass Index

(p=0.049), educational levels (p <0.001), living places (p=0.045), levels of hypertension (p=0.015), depression (p

<0.001), comorbidity chronic diseases (p <0.001), specifically cardiovascular disease (p=0.001) and

musculoskeletal diseases (p <0.001)

Conclusion: The prevalence of poor SQ in hypertention patients were high The SQ assessment should be

focused on patients with characteristics such as high Body Mass Index, low education level, urban residents, high

classtification of hypertension, depression, comorbidity chronic diseases, cardiovascular diseases and

musculoskeletal diseases

Keywords: quality of sleep, hypertension, PSQI, PHQ-9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý tim

mạch phổ biến nhất, rất thường gặp trong

những bệnh mạn tính không lây; là một thách

thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe toàn

cầu hiện nay, trong đó có Việt Nam Rối loạn

giấc ngủ là một trong những rối loạn phổ biến

hiện nay và đang ngày càng gia tăng, gây ảnh

hưởng tiêu cực đến sức khỏe của con người(1)

Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có liên quan

với các nguy cơ làm gia tăng các bệnh: tăng

huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành và

các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu và

stress(2,3,4) Tại Việt Nam, mô hình Phòng khám

Bác sĩ gia đình (BSGĐ) – nơi bệnh nhân đến

khám và tái khám bệnh ngoại trú thường xuyên

theo lịch hẹn; hiện đang là mô hình chăm sóc sức

khỏe ban đầu hiệu quả với các dịch vụ y tế phù

hợp, chăm sóc liên tục và toàn diện(5)

Xuất phát từ những lý do và điều kiện thuận

lợi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

nhằm xác định tỷ lệ CLGN kém và các yếu tố

liên quan ở bệnh nhân THA tại Phòng khám

BSGĐ, bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí

Minh (TPHCM) năm 2021 Từ đó, đưa ra những

giải pháp hiệu quả cho việc thay đổi các hành vi

của lối sống, giúp bệnh nhân tự cải thiện CLGN;

giúp giảm thiểu các nguy cơ, biến cố xấu cho

người bệnh THA Cũng như, giúp cho người bác

sĩ thực hiện một cách tối ưu nhất trong công tác

chẩn đoán và điều trị THA; giúp nâng cao vai

trò của BSGĐ ở tuyến y tế cơ sở trong dự phòng, chăm sóc và điều trị liên tục, toàn diện cho bệnh nhân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2021 đến 05/2021 trên bệnh nhân (BN) THA đến khám tại Phòng khám BSGĐ, bệnh viện Quận 2, TPHCM

Tiêu chí chọn vào

Bệnh nhân tuổi đủ từ 18 trở lên; và bệnh nhân có mắc THA đã được chẩn đoán bởi bác sĩ

ít nhất 01 tháng hoặc bệnh nhân đang dùng thuốc điều trị THA theo chỉ định của bác sĩ ít nhất 01 tháng

Tiêu chí loại ra

Bệnh nhân đang có các bệnh lý cấp tính, có chỉ định phải nhập viện;

BN đang mang thai sau tuần thứ 20;

BN hiện gặp vấn đề về rối loạn ngôn ngữ và trí nhớ không thể trả lời phỏng vấn

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

Sử dụng công thức ước lượng một tỷ lệ:

n =

Trang 3

Trong công thức trên các kí hiệu được qui

ước như sau, với n: là số bệnh nhân tối thiểu cần

điều tra để ước lượng tỷ lệ bệnh nhân THA có

CLGN kém; α: là xác suất sai lầm loại I, với

α=0,05; Z: là trị số từ bảng phân phối chuẩn với

α=0,05 thì Z=1,96; d: là sai số biên cho phép của

ước lượng trong nghiên cứu, với d=0,05 và p: là

trị số ước đoán tỷ lệ CLGN kém ở bệnh nhân

THA Theo nghiên cứu của Trần Kim Trang

(2012) khảo sát dựa vào thang đo PSQI ở bệnh

nhân THA tại TPHCM, kết quả có tỷ lệ CLGN

kém là 52,6%(6)

Do đó, nhóm nghiên cứu chọn p=0,526 để

đạt cỡ mẫu tối thiểu, đảm bảo tính tin cậy của

nghiên cứu; kết hợp với dự trù mất mẫu 10%

Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu

này là 422 (bệnh nhân)

Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện

Thu thập số liệu

Bệnh nhân khi được chọn vào nghiên cứu,

thực hiện trả lời phỏng vấn trực tiếp qua bảng

câu hỏi soạn sẵn về đặc điểm nhân khẩu học -

kinh tế - xã hội, tình trạng bệnh lý, thói quen

sinh hoạt, rối loạn trầm cảm qua Bộ câu hỏi Sức

khỏe bệnh nhân (PHQ-9) và CLGN qua thang

đo Pittsburgh (PSQI); kết hợp với đo cân nặng,

chiều cao và huyết áp (đo bằng máy đo điện tử)

tại cùng thời điểm được phỏng vấn

Thang đo PHQ-9 gồm 9 câu hỏi, với mỗi câu

được đánh giá bằng thang điểm Likert 4 lựa

chọn theo thứ tự tăng dần tần suất cảm nhận các

triệu chứng trầm cảm trong thời gian là 02 (hai)

tuần qua, ý nghĩa của mỗi mức điểm lần lượt

tương ứng: không ngày nào (0 điểm); vài ngày (1

điểm); hơn bảy ngày trong hai tuần qua (2 điểm)

và gần như mỗi ngày (3 điểm) Trầm cảm được

xác định khi tổng điểm PHQ-9 ≥10 điểm, thang

đo này đã được chuẩn hóa tại Việt Nam với hệ

số tin cậy nội bộ Cronbach’s alpha là 0,82 khi

dùng khám sàng lọc tại bệnh viện(7)

Thang đo PSQI bao gồm bảy thành phần:

chất lượng chủ quan của giấc ngủ, rối loạn giấc

ngủ tiềm tàng, thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ thường xuyên, rối loạn giấc ngủ, sử dụng thuốc ngủ và rối loạn chức năng ban ngày Tổng điểm của bảy thành phần là điểm CLGN hay PSQI;

CLGN kém được xác định khi tổng điểm PSQI

>5 Phiên bản PSQI tiếng Việt cũng đã được lượng giá, có hệ số Cronbach’s alpha là 0,789(8) Nghiên cứu thử được tiến hành trên 30 bệnh nhân THA, tuổi đủ từ 18 trở lên đến khám tại Phòng khám BSGĐ, bệnh viện Quận 2, TPHCM

Kết quả nghiên cứu có hệ số Cronbach’s alpha đạt 0,745 (thang đo PHQ-9) và 0,843 (thang đo PSQI), trước khi được tiến hành nghiên cứu thật

Xử lý số liệu

Dữ liệu sau khi thu thập, được nhập liệu qua EpiData 3.1 và phân tích qua Stata 14.2 Số thống

kê mô tả, tính tần số và tỷ lệ các biến số: đặc điểm nhân khẩu học - kinh tế - xã hội, tình trạng bệnh lý, thói quen sinh hoạt, rối loạn trầm cảm

và CLGN Số thống kê phân tích, sử dụng phép kiểm Chi bình phương hoặc chính xác Fisher (khi có >20% số ô có giá trị vọng trị <5 hoặc có một ô có giá trị vọng trị <1) để xác định mối liên quan giữa CLGN và các đặc điểm của đối tượng;

sử dụng số đo tỉ số tỷ lệ hiện mắc PR và khoảng tin cậy 95% để đo lường mức độ liên quan, với ngưỡng khác biệt có ý nghĩa thống kê p <0,05 Sử dụng mô hình hồi quy Poisson để xác định mối liên quan, với ngưỡng khác biệt có ý nghĩa thống

kê p <0,05

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TPHCM, số 970/HĐĐĐ - ĐHYD, ký ngày 29/12/2020

KẾT QUẢ Đặc điểm dân số nghiên cứu

Từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021, có 422 bệnh nhân THA thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, tuổi trung bình

của dân số nghiên cứu là 59,3 ± 10,26 năm Chỉ

số khối cơ thể (BMI) trung bình của bệnh nhân là

Trang 4

23,7 ± 3,10 (kg/m2) Điểm số trầm cảm (theo

thang đo PHQ-9) có trung vị là 5 điểm (khoảng

tứ phân vị: 0-9); điểm số nhỏ nhất là 0 điểm và

cao nhất là 14 điểm

Bảng 1 Đặc điểm tuổi, chỉ số khối cơ thể và điểm số

trầm cảm của bệnh nhân (n=422)

Đặc tính Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Chỉ số khối cơ thể (BMI) (kg/m 2

Điểm số trầm cảm

Trung vị (khoảng tứ phân vị)

Giá trị lớn nhất - nhỏ nhất

5 (0 - 9)

0 - 14

Chất lƣợng giấc ngủ theo thang đo PSQI

Bảng 2 Đặc điểm chất lượng giấc ngủ của bệnh

nhân (n=422)

Chất lượng giấc ngủ kém

Đặc tính (tỷ lệ %) Tần số KTC

95%

Trung bình ± Độ lệch chuẩn 6,9 ± 4,28

Có ( điểm

PSQI >5)

244

(57,8)

53,1-62,5

Trung vị (khoảng

tứ phân vị) 6 (3-10)

Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ có CLGN

kém khá cao chiếm 57,8%, với khoảng tin cậy

95%: 53,1- 62,5 Điểm số PSQI trung bình là 6,9 ±

4,28; có điểm trung vị là 6 điểm và khoảng tứ

phân vị là: 3-10 (Bảng 2)

Mối liên quan giữa chất lƣợng giấc ngủ kém với các đặc điểm của bệnh nhân

Kết quả mô tả đặc điểm chung của bệnh nhân cho thấy, có khoảng hai phần ba bệnh nhân được khảo sát là nữ giới chiếm 66,6% Về nhóm tuổi, độ tuổi dưới 60 chiếm hơn một phần hai (52,4%) trong khi độ tuổi trên 81 chiếm tỷ lệ rất ít chỉ 1,9% Tỷ lệ đối tượng có thừa cân hoặc béo phì với hơn một nửa dân số nghiên cứu (53,5%) Đa số đối tượng đều sinh sống ở thành thị Về trình độ học vấn, tỷ lệ đối tượng có học vấn ≤Trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao với 59,2%

Trong nghiên cứu, đa phần đối tượng có sống chung với người thân và tỷ lệ đối tượng có nguồn thu nhập bản thân hàng tháng cao, chiếm hơn hai phần ba Qua khảo sát, số đối tượng chưa bao giờ hút thuốc lá chiếm tỷ lệ cao nhất và

số đối tượng hiện tại vẫn đang hút chiếm 22,7%

Tỷ lệ đối tượng không hoạt động thể lực cao hơn

số đối tượng có hoạt động thể lực Thời gian phát hiện và thời gian điều trị bệnh THA của đối tượng nghiên cứu đa số nằm trong khoảng từ 1 đến 5 năm Số đối tượng có THA ở độ I theo JNC VII chiếm nhiều nhất Tỷ lệ đối tượng có mắc bệnh mạn tính kèm theo khá cao (85,6%), cụ thể trong đó bệnh cơ xương khớp chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là đái tháo đường rồi bệnh tim

mạch, hô hấp (Bảng 3)

Bảng 3 Mối liên quan giữa CLGN kém với các đặc điểm của bệnh nhân (n=422)

n(%) a

CLGN kém

Giá trị p PR(KTC95%)

Có n=244 (%) b

Không n=178 (%) b

Nhóm tuổi (năm)

≤60 61-70 71-80

≥81

221 (52,4)

154 (36,5)

39 (9,2) 8(1,9)

108 (48,9)

100 (64,9)

29 (74,4)

7 (87,5)

113 (51,1)

54 (35,1)

10 (25,6)

1 (12,5)

<0,001*

1 1,24 (1,13-1,35) 1,54 (1,30-1,84) 1,92 (1,46-2,50)

Chỉ số khối cơ thể

(kg/m2)

Gầy (<18,5) Trung bình (18,5-22,9) Thừa cân (23,0-24,9) Béo phì (≥25,0)

7 (1,7)

189 (44,8)

81 (19,2)

145 (34,3)

2 (28,6)

99 (52,4)

50 (61,7)

93 (64,1)

5 (71,4)

90 (47,6)

31 (38,3)

52 (35,9)

0,052**

1 1,12 (1,02-1,22) 1,25 (1,05-1,50) 1,40 (1,08-1,83)

Thành thị

183 (43,4) 239 (56,6)

114 (62,3)

130 (54,4)

69 (37,7)

1 0,87 (0,74-1,02) Trình độ học vấn >Trung học cơ sở ≤Trung học cơ sở 172 (40,8)

250 (59,2)

59 (34,3)

185 (74,0)

113 (65,7)

65 (26,0) <0,001

1 2,15 (1,73-2,68) Tình trạng sống

chung

Sống một mình Sống với người thân

358 (84,8)

64 (15,2)

42 (65,6)

202 (56,4)

22 (34,4)

1 0,86 (0,70-1,05)

Trang 5

Đặc tính Chung

n(%) a

CLGN kém

Giá trị p PR(KTC95%)

Có n=244 (%) b

Không n=178 (%) b

112 (26,5) 310 (73,5)

73 (65,2)

171 (55,2)

39 (34,8)

1 0,84 (0,10-1,00) Hút thuốc lá

Chưa bao giờ hút

Đã từng, giờ không Hiện tại vẫn đang hút

299 (70,9)

27 (6,4)

96 (22,7)

176 (58,9)

20 (74,1)

48 (50,0)

123 (41,1) 7(25,9) 48(50,0)

0,063 0,149

1 1,25 (0,98-1,60) 0,85 (0,68-1,06)

226 (53,6)

196 (46,4)

139 (62,0)

105 (53,6)

87(39,0)

1 0,87 (0,74-1,02)

Nhóm thời gian phát

hiện THA (năm)

<1 1-5 6-10

>10

25(5,9) 263(62,3) 94(22,3) 40(9,5)

9(36,0) 146(55,5) 60(63,8) 29(72,5)

16(64,0) 117(44,5) 34(36,2) 11(27,5)

0,002*

1 1,18(1,07-1,30) 1,39(1,14-1,69) 1,64(1,22-2,21) Phân độ THA (theo

JNC VII)

Bình thường

Độ I

Độ II

154(36,5) 200(47,4) 68(16,1)

69(44,8) 129(64,5) 46(67,7)

85(55,2) 71(35,5) 22(32,35)

<0,001*

1 1,24(1,11-1,39) 1,55(1,24-1,95)

Nhóm thời gian điều

trị THA (năm)

<1 1-5 6-10

>10

25(5,9) 263(62,3) 93(22,0) 41(9,7)

9(36,0) 148(56,3) 60(64,5) 27(65,8)

16(64,0) 115(43,7) 33(35,5) 14(34,2)

0,015*

1 1,14(1,03-1,26) 1,30(1,06-1,59) 1,49(1,09-2,02) Bệnh mạn tính kèm

theo

Không

61(14,4) 361(85,6)

19(31,2) 225(62,3)

42(66,8) 136(37,7) <0,001

1 2,00(1,36-2,93)

Các bệnh đi kèm cụ

thể (n=361)

325(77,0) 97(23,0)

157(48,3) 87(89,7)

168(51,7) 10(10,3) <0,001

1 1,85(1,62-2,11)

*Kiểm định chính xác Fisher **Kiểm định Chi bình phương khuynh hướng a phần trăm theo cột b phần trăm theo hàng

Bảng 4 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến CLGN kém của bệnh nhân (n=422)

p thô

PR thô

(KTC 95% thô )

Giá trị

p hc

PR hc

(KTC 95% hc )

Nhóm chỉ số khối cơ thể

(kg/m 2 )

Gầy (<18,5) Trung bình (18,5-22,9) Thừa cân (23,0-24,9) Béo phì (≥25,0)

0,052*

1 1,12(1,02-1,22) 1,25(1,05-1,50) 1,40(1,08-1,83)

0,049

1 1,09(1,01-1,18) 1,18(1,02-1,39) 1,29(1,03-1,64) Trình độ học vấn >Trung học cơ sở ≤Trung học cơ sở <0,001 1

2,15(1,73-2,68) <0,001

1 1,65(1,34-2,04)

1 0,86(0,75-0,99)

Phân độ THA (theo JNC

VII)

BT do điều trị

Độ I

Độ II

<0,001**

1 1,24(1,11-1,39) 1,55(1,24-1,95)

0,015

1 1,13(1,02-1,25) 1,27(1,04-1,56)

1 2,00(1,36-2,93) <0,001

1 0,65(1,09-4,72)

1

1 1,27(1,10-1,46) Bệnh cụ thể cơ xương

khớp

Không

1 1,43(1,22-1,68) <0,001

1 1,30(1,12-1,51)

1 1,85(1,62-2,11) <0,001

1 1,51(1,33-1,72)

*Kiểm định chính xác Fisher **Kiểm định Chi bình phương khuynh hướng hc: hiệu chỉnh

Trang 6

Sau khi phân tích bằng mô hình hồi quy

Poisson đa biến, nghiên cứu có tìm thấy mối liên

quan giữa nhóm chỉ số khối cơ thể (BMI) với

CLGN kém (p=0,049) Cứ tăng lên một bậc trong

nhóm BMI (từ gầy lên trung bình, từ trung bình

lên thừa cân, từ thừa cân lên béo phì) thì tỷ lệ

CLGN kém tăng 1,09 lần, với khoảng tin cậy

(KTC) 95%: 1,01-1,18 Những đối tượng có trình

độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống có

CLGN kém gấp 1,65 lần so với những đối tượng

có trình độ học vấn trên trung học cơ sở, với p

<0,001 và KTC 95%: 1,34-2,04 Những đối tượng

sống ở thành thị có tỷ lệ CLGN kém giảm 0,14

lần so với những đối tượng sống ở nông thôn,

với p=0,045 và KTC 95%: 0,75-0,99 Có tìm thấy

mối liên quan có khuynh hướng giữa phân độ

THA và CLGN kém ở các đối tượng (p=0,015)

Cứ tăng lên một bậc trong phân độ THA (từ

huyết áp bình thường do điều trị lên độ I, từ độ I

lên độ II) thì tỷ lệ CLGN kém tăng 1,13 lần với

KTC 95%: 1,02-1,25 Những bệnh nhân có bệnh

mạn tính kèm theo có tỷ lệ CLGN kém giảm 0,35

lần so với những bệnh nhân không có bệnh mạn

tính đi kèm, với p <0,001 và KTC 95%: 0,09-4,72

Cụ thể trong đó, khi bệnh nhân mắc bệnh tim

mạch có tỷ lệ CLGN kém gấp 1,27 lần so với

bệnh nhân không mắc, với p=0,001 và KTC 95%:

1,10-1,46; còn khi bệnh nhân có mắc bệnh cơ

xương khớp có tỷ lệ CLGN kém gấp 1,30 lần so

với bệnh nhân không mắc, với p<0,001 và KTC

95%: 1,12-1,51 Ngoài ra, nghiên cứu có tìm thấy

mối liên quan giữa trầm cảm với CLGN kém, cụ

thể những đối tượng trầm cảm có tỷ lệ CLGN

kém gấp 1,51 lần so với những đối tượng không

bị trầm cảm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p<0,001 và KTC 95%: 1,33-1,72 (Bảng 4)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ người bệnh THA có CLGN kém

Trong tổng số 422 người bệnh tham gia

nghiên cứu, điểm trung bình PSQI là 6,9 ± 4,28;

tỷ lệ có CLGN kém chiếm 57,8% (điểm PSQI >5)

Những nghiên cứu trước đây cũng ghi nhận tỷ

lệ bệnh nhân THA có CLGN kém khá cao, dao

động lần lượt từ 35,5% đến 87,5% trong các

nghiên cứu tại Ethiopia(9), Nigeria(10), Trần Kim Trang (TPHCM) và Vũ Thị Minh Phượng (Nam Định)(6,11) Nguyên nhân có sự chênh lệch này có thể là do đặc điểm dân số mỗi nơi khác nhau và thang đo PSQI cho phép bệnh nhân tự báo cáo, dẫn đến các câu trả lời mang tính chủ quan theo suy nghĩ và cảm nhận của cá nhân bệnh nhân, ngoài ra việc phỏng vấn trực tiếp và trong một không gian khám bệnh ngoại trú với thời gian có phần còn hạn chế

Yếu tố liên quan độc lập đến CLGN kém

Sau khi đưa 17 yếu tố (với ngưỡng p <0,2) gồm: nhóm tuổi, nhóm BMI, nơi sinh sống, trình

độ học vấn, tình trạng sống chung, thu nhập bản thân hàng tháng, hút thuốc lá, hoạt động thể lực, nhóm thời gian phát hiện bệnh, phân độ tăng huyết áp, nhóm thời gian điều trị bệnh, bệnh mạn tính đi kèm, bệnh kèm theo cụ thể (đái tháo đường, cơ xương khớp, tim mạch và hô hấp), và

trầm cảm (Bảng 3) vào mô hình hồi quy Poisson

đa biến để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, thì chỉ

có 8 yếu tố: nhóm BMI, trình độ học vấn, nơi sinh sống, phân độ THA, bệnh mạn tính đi kèm, bệnh cụ thể tim mạch, bệnh cơ xương khớp, và trầm cảm là thật sự có liên quan đến CLGN kém

(Bảng 4)

Tương tự nghiên cứu này, mối liên hệ giữa CLGN kém và trình độ học vấn cũng đã được quan sát, tìm thấy trong nghiên cứu ở Ethiopia (tháng 05/2020)(12) Mặc dù lý do chính xác vẫn chưa được biết đến nhưng có thể là do những cá nhân có học vấn thấp khiến đối tượng làm những công việc lao động nặng nhọc, thu nhập thấp, bấp bênh và kinh tế gia đình eo hẹp dễ dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe cũng như giấc ngủ của bản thân

Những bệnh nhân sống ở thành thị có nguy cơ ngủ kém giảm đi 2 lần so với những bệnh nhân sống ở nông thôn(12) Kết quả này khá phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, khi người bệnh sống ở thành thị có tỷ lệ CLGN kém giảm đi 0,14 lần so với những người bệnh sống ở nông thôn Có thể lý giải cho điều này, những bệnh nhân sống ở nông thôn có điều

Trang 7

kiện sống không thoải mái, nhận thức chưa

cao và quản lý sức khỏe cá nhân kém hơn

Ngoài ra, những bệnh nhân sống ở nông thôn

có thể có giấc ngủ nhẹ trong thời gian dài hơn

kể từ khi họ đi ngủ sớm hơn

Kết quả nghiên cứu có tìm thấy mối liên

quan giữa phân độ THA với CLGN kém Kết

quả này cũng tương đồng với nghiên cứu trước

đó tại Nigeria(10) Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm

thấy mối liên quan giữa việc mắc ít nhất một

bệnh mạn tính kèm THA (cơ xương khớp, đái

tháo đường, tim mạch, hô hấp) có liên quan với

CLGN kém Cụ thể, khi mắc bệnh cơ xương

khớp kèm theo thì có liên quan đến CLGN kém,

kết quả này cũng tương đồng với tác giả Trần

Kim Trang (TPHCM), rằng bệnh khớp/thoái hóa

khớp có liên quan đến CLGN kém ở người bệnh

THA Điều này được giải thích có thể một phần

do việc đau nhức khớp(6)

Khi đưa vào mô hình đa biến, tỷ lệ có trầm

cảm cũng thực sự có mối liên quan với CLGN

kém Kết quả này hoàn toàn phù hợp với những

phát hiện trước đây(10,13) Do đó, việc cải thiện

CLGN ở người bệnh THA là một trong những

yếu tố giúp cải thiện sức khỏe tâm thần nói

chung, trầm cảm nói riêng và ngược lại

Ngoài ra, nhóm BMI và bệnh cụ thể tim

mạch cũng có mối liên quan độc lập với CLGN

kém, đây là một phát hiện mới từ nghiên cứu

của chúng tôi Các yếu tố khác như: nhóm tuổi,

nhóm thời gian phát hiện bệnh, nhóm thời gian

điều trị bệnh, bệnh đái tháo đường đi kèm, bệnh

hô hấp đi kèm có thể chỉ ảnh hưởng hay tác

động phần nào đó đến những người bệnh THA

có CLGN kém

KẾT LUẬN

Thông qua thang đo PSQI, nghiên cứu tìm

thấy tỷ lệ CLGN kém ở người bệnh THA tại

Phòng khám BSGĐ, bệnh viện Quận 2,

TPHCM còn khá cao (57,8%), cần giảm hơn

nữa tỷ lệ người bệnh có CLGN kém Giấc ngủ,

và chuyên biệt hơn là CLGN đóng vai trò quan

trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ hệ tim mạch,

do đó bác sĩ cần quan tâm và chú trọng hơn tới việc đánh giá CLGN của người bệnh trong suốt quá trình điều chăm sóc và điều trị Từ

đó, giúp phát hiện và điều trị sớm những bệnh nhân có CLGN kém, đảm bảo cho hiệu quả của việc điều trị, chăm sóc người bệnh tốt hơn

Những đối tượng có BMI cao, trình độ học vấn thấp, sống ở thành thị, phân độ THA càng cao,

có bệnh mạn tính đi kèm, bệnh đi kèm tim mạch và/hoặc bệnh cơ xương khớp, và trầm cảm có CLGN kém cao hơn nhóm đối tượng không có các/nhóm yếu tố này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Murray BS, Shay LB, Frank J, et al (2008) Impairment Associated With Sleep Problems in the Community:

Relationship to Physical and Mental Health Comorbidity

Psychosomatic Medicine, 70(8):913-919

2 Laura P, Rosa MB, Angelo G, et al (2013) Sleep Loss and

Hypertension: A Systematic Review Current Pharmaceutical

Design, 19(13):2409-2419

3 Ru-Qing L, Zhengmin Q, Edwin T (2016) Poor sleep quality associated with high risk of hypertension and elevated blood pressure in China: Results from a large populationbased study

Hypertension Research, 39(1):54-59

4 Justin TS, David J (2017) Sleep, insomnia, and hypertension:

Current findings and future directions Journal of the American

Society of Hypertension Calhoun, 11(2):122-129

5 Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội (2020) Lễ kỷ niệm 20 năm Thành lập Bộ môn Y học gia đình - Trường Đại học Y Hà Nội URL: https://hmu.edu.vn/news/tID6424_le-ky- niem-20-nam-thanh-lap-bo-mon-y-hoc-gia-dinh-truong-dai-hoc-y-ha-noi.html, truy cập ngày 08/12/2021

6 Trần Kim Trang (2012) Chất lượng giấc ngủ ở người Tăng

huyết áp Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):150-154

7 Đặng Duy Thanh (2011) Đánh giá sơ bộ giá trị của Bảng câu hỏi Sức khỏe bệnh nhân (PHQ-9) trong sàng lọc bệnh nhân trầm

cảm Y Học Thực Hành, 2011(7):173-176

8 Tô Minh Ngọc, Nguyễn Đỗ Nguyên, Phùng Khánh Lâm, Nguyễn Xuân Bích Huyền, Trần Thị Xuân Lan (2014) Thang đo

chất lượng giấc ngủ Pittsburgh phiên bản tiếng Việt Y Học

Thành Phố Hồ Chí Minh, 18(6):664-668

9 Birhanu TE, Getachew B, Gerbi A, et al (2020) Prevalence of poor sleep quality and its associated factors among hypertensive patients on follow up at Jimma University Medical

Center Journal of Human Hypertension, 35:94-100

10 Shittu RO, Issa BA, Olanrewaju GT (2020) Association between Subjective Sleep Quality, Hypertension, Depression and Body

Mass Index in a Nigerian Family Practice Setting Journal of Sleep

Disorders and Therapy, 3(2):157

Trang 8

11 Vũ Thị Minh Phượng, Ngô Huy Hoàng (2016) Chất lượng giấc

ngủ và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp điều

trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định Y Học Thực

Hành, 2018(1):35-37

12 Edmealem A, Genet D, Dessalegn H, et al (2020) Sleep Quality

and Associated Factors among Diabetes, Hypertension, and

Heart Failure Patients at Debre Markos Referral Hospital,

Northwest Ethiopia Hindawi Sleep Disorders, 2020:9

13 Lina M, Jun L (2017) The effect of depression on sleep quality and the circadian rhythm of ambulatory blood pressure in older

patients with hypertension Journal of Clinical Neuroscience,

2017(39):49-52

Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm tuổi, chỉ số khối cơ thể và điểm số trầm cảm của bệnh nhân (n=422) - Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám bác sĩ gia đình bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1. Đặc điểm tuổi, chỉ số khối cơ thể và điểm số trầm cảm của bệnh nhân (n=422) (Trang 4)
JNC VII) Bình thường  - Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám bác sĩ gia đình bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
nh thường (Trang 5)
Bảng 4. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến CLGN kém của bệnh nhân (n=422) - Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám bác sĩ gia đình bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến CLGN kém của bệnh nhân (n=422) (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w