Sự ra đời của phương pháp điều trị ARV đã góp phần ngăn chặn sự lây lan và kéo dài thời gian sống của bệnh nhân HIV. Vấn đề tuân thủ điều trị (TTĐT) và các yếu tố liên quan cần được quan tâm nghiên cứu để giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng điều trị bệnh nhân. Bài viết trình bày xác định tỉ lệ TTĐT và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhiễm HIV tại Khoa tham vấn và hỗ trợ cộng đồng quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.
Trang 1nghiên cứu này có thể phản ánh chính xác tỉ lệ
và mức độ stress của giáo viên THPT tại huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nhưng chúng tôi không
thể kết luận được các mối liên quan nhân quả do
nghiên cứu cắt ngang khó có thể xác định được
trình tự thời gian giữa stress và các yếu tố liên
quan và nghiên cứu cũng không thực hiện phân
tích đa biến để tìm được mối liên quan độc lập
giữa stress và các yếu tố liên quan đến stress
KẾT LUẬN
Stress ở giáo viên THPT vẫn là vấn đề cần
được quan tâm Nhà trường nên tạo điều kiện
hơn nữa để giúp giáo viên giảm bớt những căng
thẳng do áp lực công việc, nâng cao chất lượng
cuộc sống Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần chủ
động tìm hiểu và lựa chọn cho mình cách ứng
phó phù hợp khi đối mặt với áp lực công việc
gây nên stress Cần sắp xếp và phân bổ thời gian
hợp lý cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá
nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 WHO (2003) Work Organisation and stress URL:
https://www.who.int/publications/i/item/9241590475
2 Agai-Demjaha T, Bislimovska JK, Mijakoski D(2015) Level of
work related stress among teachers in elementary schools Open
Access Macedonian Journal of Medical Sciences, 3(3):484-488
3 Othman Z, Sivasubramaniam V(2019) Depression, anxiety, and
stress among secondary school teachers in Klang, Malaysia
International Medical Journal, 26(2):71-74
4 Cao Hoàng Vy (2019) Stress và cách ứng phó với stress của giáo
viên Trung học Phổ thông tại huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre
năm 2019 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh
5 Đặng Khánh Hiệp (2017) Stress và các yếu tố liên quan ở giáo
viên các trường Trung học Phổ thông tại Thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai năm 2018 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
6 Khương Thanh Văn (2016) Stress và các yếu tố liên quan của
giáo viên Trung học Phổ thông tại Thị xã Lagi tỉnh Bình Thuận
năm 2016 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh
7 Nguyễn Thái Sang (2019) Tỉ lệ stress và chiến lược ứng phó của
sinh viên Y học Dự phòng Đại học Y dược thành phố Hồ Chí
Minh Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
8 Cohen S, Kamarck T, Mermelstein R, et al (1994) Perceived
stress scale Measuring Stress: A Guide for Health and Social Scientists, 10(2):1-2
9 Garcia FJ, Franco LR, Martínez JG(2007) Spanish version of the
Coping Strategies Inventory" Actas Españolas de Psiquiatría,
35(1):29-39
10 Yang L, Zhao Y, Wang Y, et al (2015) The Effects of
Psychological Stress on Depression Cur Neropharmacol,
13(4):494-504
11 Nakada A, Iwasaki S, Kanchika M, et al (2016) Relationship between depressive symptoms and perceived individual level
occupational stress among Japanese school teachers Ind Health,
54(5):396-402
12 Austin V, Shah S, Muncer S (2005) Teacher stress and coping
strategies used to reduce stress Occupational Therapy International, 12(2):63-80
13 Williams K, McGillicuddy-De Lisi A (1999) Coping strategies in
adolescents Journal of Applied Developmental Psychology,
20(4):537-549
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022
Trang 2TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV TẠI KHOA THAM VẤN VÀ HỖ TRỢ CỘNG ĐỒNG
QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2021
Lê Tấn Đạt 1 , Phạm Thị Vân Phương 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sự ra đời của phương pháp điều trị ARV đã góp phần ngăn chặn sự lây lan và kéo dài thời gian
sống của bệnh nhân HIV Vấn đề tuân thủ điều trị (TTĐT) và các yếu tố liên quan cần được quan tâm nghiên
cứu để giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng điều trị bệnh nhân
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ TTĐT và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhiễm HIV tại Khoa tham vấn và hỗ trợ
cộng đồng quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang từ tháng 3 đến tháng 5/2021 trên 240 bệnh
nhân nhiễm HIV từ 18 tuổi trở lên, đang điều trị ARV ít nhất 6 tháng TTĐT của bệnh nhân được đánh giá qua
thang đánh giá đa chiều của UNAIDS
Kết quả: Tỉ lệ TTĐT ARV tốt của bệnh nhân là 82,1% Có mối liên quan thuận giữa sự hỗ trợ từ
vợ/chồng/bạn tình, bố/mẹ, anh/chị/em ruột với TTĐT ARV Bệnh nhân có kiến thức đúng về thời gian điều trị
ARV và xử lý khi quên liều thuốc thì có tỉ lệ TTĐT tốt cao hơn bệnh nhân có kiến thức sai
Kết luận: Vẫn còn 18% bệnh nhân TTĐT ARV chưa tốt Bệnh nhân cần được cung cấp kiến thức về TTĐT
ARV, đặc biệt về thời gian điều trị và cách xử lí khi quên liều Gia đình là yếu tố quan trọng trong thúc đẩy và
duy trì TTĐT ở bệnh nhân
Từ khoá: tuân thủ điều trị, ARV, HIV, yếu tố liên quan
ABSTRACT
ADHERENCE TO ANTIRETROVIRAL TREATMENT AND ASSOCIATED FACTORS
AMONG PEOPLE LIVING WITH HIV AT THE DEPARTMENT OF COMMUNITY COUNSELING
AND SUPPORT IN BINH THANH DISTRICT, HO CHI MINH CITY IN 2021
Le Tan Dat, Pham Thi Van Phuong
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 220 - 226
Background: The advent of antiretroviral therapy has contributed to stopping the spread and prolonging the
life of HIV patients The issue of treatment adherence and related factors need to be researched to help improve the
effectiveness and quality of patient treatment
Objective: This study aimed to determine the prevalence of treatment adherence and identified related
factors in HIV-infected patients at the Department of Community Counseling and Support in Binh Thanh
District, Ho Chi Minh City in 2021
Methods: We conducted a cross-sectional study from March to May 2021 among 240 HIV-infected patients
aged 18 years and older, who were on ARV treatment for at least 6 months The patient's adherence to treatment
was assessed using the UNAIDS multidimensional rating scale
Results: The rate of good patient adherence to ARV was 82.1% There is a positive relationship between
support from spouses/partners, parents, siblings and adherence to ARV treatment Patients who have correct
1 Khoa Y Tế Công Cộng - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 3knowledge about the duration of ART and treatment when missed doses have a higher rate of good adherence than
patients with wrong knowledge
Conclusions: There are still 18% of patients with poor adherence to ART Patients need to be provided with
knowledge about adherence to ART, especially on treatment duration and how to handle missed doses Family is
an important factor in promoting and maintaining treatment adherence in patients
Keywords: adherence, ARV, HIV, associated factors
ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS hiện vẫn đang là vấn đề sức khỏe
gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu Theo Tổ Chức
Y Tế Thế Giới (WHO), đến năm 2019 thế giới có
37,7 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS,
trong đó có 27,5 triệu người đang nhận thuốc
điều trị(1) Tại Việt Nam, HIV/AIDS hiện là vấn
đề sức khỏe cộng đồng quan trọng gây ảnh
hưởng lớn về sức khỏe, kinh tế - xã hội Theo
Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, đến tháng 9/2019
tổng số người nhiễm HIV/AIDS là hơn 211.000
người và tử vong tích lũy liên quan đến
HIV/AIDS là hơn 103.000 người(2)
Thuốc kháng vi rút HIV (Antiretroviral –
ARV) có tác dụng ức chế sự nhân lên của vi rút,
duy trì nồng độ vi rút trong máu ở mức thấp
nhất có thể Hiện nay, phương pháp điều trị
bằng thuốc kháng vi-rút (ART) là phương pháp
hiệu quả duy nhất để kiểm soát lượng vi-rút
trong cơ thể người bệnh và giúp ngăn ngừa sự
lây truyền sang người khác, nhằm giúp người
nhiễm HIV và những người có nguy cơ cao tận
hưởng cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài và hiệu
quả Tại Việt Nam, theo UNAIDS sau gần 20
năm thực hiện chương trình điều trị ARV và mở
rộng dự phòng (từ 2001) đã dự phòng cho
khoảng 400 nghìn ca không bị lây nhiễm và 160
nghìn ca (tích lũy) tránh khỏi tử vong do AIDS
Tuy nhiên kết quả đạt được vẫn chưa đảm bảo
tính bền vững và vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ
bùng phát nếu không tiếp tục có những biện
pháp mạnh mẽ và hiệu quả(3)
Để đạt được kết quả tối ưu của quá trình
điều trị cần có nhiều yếu tố quyết định, trong đó
sự tuân thủ điều trị (TTĐT) của bệnh nhân là
chìa khóa thành công Tuy nhiên, việc TTĐT ở bệnh nhân HIV là không dễ dàng và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố thuộc
về bệnh nhân, tình trạng bệnh, phác đồ điều trị, quan hệ giữa bệnh nhân với nhân viên y tế và cơ
sở điều trị(4) Phân tích gộp năm 2020 tại các nước
có thu nhập trung bình, cho thấy tỷ lệ tuân thủ chung là 67% và được hỗ trợ từ vợ/chồng/bạn tình có khả năng tuân thủ điều trị ARV cao hơn(5) Theo nghiên cứu tại Hà Nội năm 2017 cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị ARV ở mức cao đạt 66,2% Nghiên cứu này tìm thấy các yếu tố như
sự hỗ trợ từ bạn bè, hỗ trợ về mặt xã hội của nhân viên y tế, việc tiết lộ việc nhiễm HIV cho gia đình, sự tin tưởng vào các thuốc điều trị có hiệu quả là những yếu tố tích cực làm tăng tuân thủ của bệnh nhân(6)
Quận Bình Thạnh là quận nội thành đông dân của thành phố Hồ Chí Minh, có số lượng lớn người nhiễm HIV và đang được điều trị Khoa tham vấn và hỗ trợ cộng đồng thuộc Trung tâm
Y tế quận Bình Thạnh là một trong những phòng khám và điều trị HIV sớm của thành phố, với số lượng bệnh nhân hiện đang điều trị cao Nhằm đánh giá tình hình tuân thủ điều trị cũng như các yếu tố ảnh hưởng và một số đặc điểm trong quá trình điều trị ARV của bệnh nhân ở đây, từ
đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp can thiệp, cải thiện chất lượng điều trị và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân Vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu này
Mục tiêu
Xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhiễm HIV tại Khoa tham vấn và hỗ trợ cộng đồng, Trung tâm Y tế quận
Trang 4Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị ARV ít
nhất 6 tháng tại Khoa tham vấn và hỗ trợ cộng
đồng, Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh, thành
phố Hồ Chí Minh tại thời điểm nghiên cứu
Tiêu chí chọn vào
Bệnh nhân nhiễm HIV từ 18 tuổi trở lên có
thời gian điều tri ARV ít nhất 6 tháng tại Khoa
tham vấn và hỗ trợ cộng đồng, đồng ý tham gia
vào nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
Bệnh nhân không có khả năng trả lời các câu
hỏi phỏng vấn do bệnh nặng, khiếm thính,
khiếm thị, mất khả năng nói
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu
Được tính theo công thức:
Với p=0,662 (theo nghiên cứu của Đào Đức
Giang(6)) tính được cỡ mẫu cần thiết là 240
bệnh nhân
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện trên những bệnh nhân
đến khám từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2021
cho đến khi đủ mẫu
Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phỏng vấn trực tiếp bao gồm
Thang đánh giá đa chiều của UNAIDS để
đánh giá TTĐT ở bệnh nhân và bộ câu hỏi
khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT (đặc
điểm dân số xã hội, sự hỗ trợ của gia đình và
xã hội, sự hài lòng đối với cơ sở điều trị, kiến
thức về TTĐT ARV)
Phân tích dữ kiện
Các dữ liệu được tổng hợp, phân tích bằng
phần mềm Epidata 3.1 và Stata 14.2 Dữ liệu được thể hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc trung vị, khoảng tứ phân vị đối các biến định lượng và tỷ lệ phần trăm cho các biến định tính Kiểm định Chi bình phương và kiểm định chính xác Fisher được sử dụng để tìm các mối liên quan, với ngưỡng tìm thấy ý nghĩa thống kê
là p <0,05 Mô hình hồi qui đa biến tổng quát được dùng đề xác định các yếu tố liên quan với TTĐT Tỉ số tỷ lệ hiện mắc PR (Prevalance Ratio) với khoảng tin cậy 95% được sử dụng để ước
lượng mối liên quan
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, số 98/HĐĐĐ-ĐHYD
ngày 03 tháng 02 năm 2021
KẾT QUẢ
Bảng 1 Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên
cứu (n=240)
Giới tính
Trình độ học vấn
Khả năng tài chính hiện tại
Phụ thuộc hoàn toàn vào người
Tình trạng hôn nhân
* Trung bình ± độ lệch chuẩn
** Giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất
Người tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình là 41 (ĐLC: ± 9,6) tuổi, thấp nhất là 19 tuổi,
cao nhất là 69 tuổi Đa số bệnh nhân có trình độ
Trang 5học vấn từ THPT trở xuống (81,8%) Hầu hết
người tham gia đều tự chủ tài chính hoàn toàn,
đạt tỷ lệ 83,3% Chỉ 6,3% bệnh nhân phụ thuộc
tài chính hoàn toàn vào người khác Hơn một
nửa (55,9%) bệnh nhân còn độc thân hoặc đã ly
hôn/ly thân/góa (Bảng 1)
Bảng 2 Đặc điểm về hỗ trợ của gia đình và xã hội
(n=240)
Gia đình/xã hội
Mức độ hỗ trợ, n (%) Rất ít/không
được hỗ trợ
Bình thường
Nhiều/rất nhiều
Bệnh nhân chủ yếu nhận được hỗ trợ từ tư
vấn viên/bác sĩ với 88,8% ở mức độ từ bình
thường đến nhiều/rất nhiều Tiếp đến là từ
vợ/chồng/bạn tình (40%) và bố mẹ (37,5%)
Người tham gia nghiên cứu hầu như nhận được
rất ít/không được hỗ trợ từ anh/chị/em ruột hoặc
bạn bè với 87,1% và 98,4% tương ứng (Bảng 2)
Khoảng cách từ nhà của bệnh nhân đến cơ
sở điều trị trong khoảng <5 km chiếm tỉ lệ cao
nhất (55,5%) Hầu hết bệnh nhân đều được cơ sở điều trị nhắc nhở việc tái khám và nhận thuốc định kì (91,7%), với biện pháp nhắc nhở chủ yếu
là qua tin nhắn (93,6%) Đa số bệnh nhân đánh giá thời gian chờ để lấy thuốc là ở mức bình thường (79,2%), tuy nhiên có 15,4% cho là ở mức
chậm hoặc rất chậm (Bảng 3)
Bảng 3 Đặc điểm về cơ sở điều trị (n=240)
(n) Tỷ lệ (%)
Khoảng cách từ nhà đến phòng khám
Được phòng khám nhắc nhở việc tái khám và nhận thuốc
định kỳ
Biện pháp nhắc nhở (n=220)
Thời gian chờ lấy thuốc
Bảng 4 Mức độ hài lòng đối với cơ sở điều trị (n=240)
Các yếu tố thuộc cơ sở điều trị
Mức độ hài lòng, n (%) Rất hài lòng/hài lòng Bình thường Không hài lòng/rất
không hài lòng
Rất ít bệnh nhân đánh giá không hài lòng/rất
không hài lòng về các yếu tố thuộc cơ sở điều trị
(dao động từ 0,4%-1,3%) Đối với mức độ hài
lòng/rất hài lòng, yếu tố thông tin nhận được từ
tư vấn viên/nhân viên y tế chiếm tỉ lệ cao nhất
(75%), thấp nhất là hài lòng về dịch vụ phòng
khám (67,9%) (Bảng 4)
Bảng 5 Kiến thức về điều trị ARV (n=240)
Tác hại của không tuân thủ điều trị 10 (4,2) 230 (95,8)
Xử lý khi quên 1 liều thuốc ARV 187 (77,9) 53 (22,1)
Nghiên cứu cho thấy có đến 95,8% bệnh nhân chưa hiểu đúng về tác hại của việc không TTĐT ARV Tỉ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng
về TTĐT cũng chưa cao, chỉ đạt 37,5% Kiến thức đúng của bệnh nhân về cách xử lý khi quên một liều thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất (77,9%), tiếp đến
là kiến thức về thời gian điều trị ARV (74,6%)
(Bảng 5)
Kết quả đánh giá cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV ở mức độ tốt là 82,1% và chưa tốt là 17,9 % Trong đó, có 16,2% bệnh nhân tuân thủ ở mức độ trung bình và tuân thủ ở mức
độ kém là 1,7% (Bảng 6)
Trang 6Bảng 6 Tuân thủ điều trị của bệnh nhân theo thang
đánh giá đa chiều (n=240)
Đánh giá tuân thủ điều
trị Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
Khoảng tin cậy 95%
Mức độ tuân thủ điều trị
Tuân thủ điều trị
Qua phân tích mô hình hồi quy đa biến cho
thấy các yếu tố có liên quan với tuân thủ điều trị
ở bệnh nhân bao gồm giới, trình độ học vấn, hỗ
trợ từ vợ/chồng/bạn tình, hỗ trợ từ bố/mẹ, hỗ trợ
từ anh/chị/em ruột, kiến thức về thời gian điều
trị ARV và kiến thức về xử lý khi quên một liều
thuốc Cụ thể, bệnh nhân nữ có tỉ lệ TTĐT tốt cao gấp 1,18 lần so với bệnh nhân nam (KTC 95%: 1,07 – 1,32) Trình độ học vấn của bệnh nhân tăng 1 bậc thì TTĐT tăng 1,07 lần (KTC 95%:1,02 – 1,12) Khi mức độ hỗ trợ từ vợ/chồng/bạn tình tăng 1 bậc thì tuân thủ điều trị tốt tăng 1,12 (KTC 95%: 1,05 – 1,19) lần, tương
tự với hỗ trợ từ bố/mẹ tăng 1,12 lần (KTC 95%:
1,05 – 1,19), hỗ trợ từ anh/chị/em ruột tăng 1,16 lần (KTC 95%: 1,07 – 1,25) Bệnh nhân có kiến thức đúng về thời gian điều trị và xử lý khi quên một liều thuốc thì tuân thủ điều trị tốt cao lần lượt gấp 1,31 lần (KTC 95%: 1,09 - 1,58) và 1,26 lần (KTC 95%: 1,08 – 1,48) so với bệnh nhân có
kiến thức sai (Bảng 7)
Bảng 7 Các yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị ở bệnh nhân HIV theo mô hình hồi qui đa biến (n=240)
P hc : P hiệu chỉnh; PR hc : PR hiệu chỉnh
(*): kiểm định Chi bình phương khuynh hướng (<tiểu học – tiểu học – THCS – THPT - >THPT)
(**): kiểm định Chi bình phương khuynh hướng (Rất ít/không được hỗ trợ - Bình thường – Nhiều/rất nhiều)
BÀN LUẬN
Kết quả đánh giá tuân thủ điều trị qua thang
đo của UNAIDS cho thấy 82,1% người tham gia
tuân thủ mức độ tốt Tỷ lệ này tương đồng với
nghiên cứu tại Thái Nguyên năm 2012 (81,3%),
nghiên cứu tại Nepal năm 2019 (87,4%)(7,8) Tuy
nhiên, tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi cao
hơn so với nghiên cứu tại Yên Bái năm 2018
(62,9%), tại Hải Dương năm 2017 (60,4%), nghiên
cứu tại Hà Nội năm 2017 (66,2%), phân tích gộp
ở các nước có thu nhập trung bình năm 2019
(67,0%)(5,6,9,10) Các nghiên cứu này được thực hiện
dựa vào phương pháp đánh giá TTĐT khác với
nghiên cứu của chúng tôi, chỉ riêng nghiên cứu
của Đào Đức Giang tại Hà Nội cùng sử dụng
thang đo UNAIDS, tuy nhiên lại làm ở 3 khu vực
Những lí do này có thể khiến cho kết quả TTĐT
ở các nghiên cứu này có sự khác biệt so với nghiên cứu của chúng tôi
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy mối liên quan giữa giới tính với TTĐT, tỉ lệ TTĐT tốt ở bệnh nhân nữ giới cao hơn 1,18 lần so với nam
Về mặt tâm lý xã hội, nữ giới thường quan tâm đến sức khỏe của mình hơn nam giới, họ cũng thường có tính cách cẩn thận hơn khi thực hành các vấn đề trong cuộc sống Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự, như nghiên cứu tại Nigeria và Nepal cho thấy TTĐT ở nữ cao gấp 1,14 lần và 10,5 lần (tương ứng) so với nam(8,11)
Trình độ học vấn cao có thể giúp bệnh nhân nhận thức và hiểu biết hơn về bệnh, việc điều trị cũng như lợi ích và tầm quan trọng của TTĐT
Trang 7Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới cho
thấy có mối liên quan thuận giữa trình độ học
vấn và TTĐT(12,13) Tương tự, nghiên cứu của
chúng tôi cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa
thống kê mang tính khuynh hướng giữa trình độ
học vấn với TTĐT, trình độ học vấn ở bệnh nhân
càng cao thì tỷ lệ TTĐT càng tăng
Y văn cho thấy, sự hỗ trợ của gia đình, bạn
bè có ảnh hưởng tích cực ngay lập tức và lâu dài
đến sự tuân thủ của bệnh nhân(14) Nghiên cứu
của chúng tôi tìm thấy mối liên quan thuận giữa
sự hỗ trợ từ vợ/chồng/bạn tình, hỗ trợ từ bố/mẹ,
hỗ trợ từ anh/chị/em ruột với TTĐT ở bệnh
nhân Cụ thể, khi mức độ hỗ trợ từ những người
này đối với bệnh nhân tăng thì tỷ lệ TTĐT của
bệnh nhân cũng tăng và ngược lại Điều này
tương đồng với nhiều nghiên cứu tại Việt Nam
và thế giới Phân tích gộp trên 22.632 người tại
các nước có thu nhập trung bình năm 2019 cho
thấy bệnh nhân có sự giúp đỡ của vợ/chồng/bạn
tình tuân thủ tốt hơn bệnh nhân không được
giúp đỡ(5) Nghiên cứu tại tây Ethiopia năm 2019
cũng cho thấy rằng những bệnh nhân được hỗ
trợ nhiều từ gia đình thì tuân thủ điều trị tốt hơn
bệnh nhân không được hỗ trợ hoặc được hỗ trợ
ít(14), kết quả cũng tương tự với nghiên cứu tại
Bali Indonesia(15) Điều này có thể hiểu được rằng
những người bệnh được sự giúp đỡ của gia đình
về mặt tài chính cũng như tinh thần sẽ giúp họ
có thêm động lực và điều kiện để tiếp cận việc
chữa trị và duy trì dùng thuốc Ngoài ra, khi
sống chung với người thân, bệnh nhân sẽ được
nhắc nhở dùng thuốc và tái khám, từ đó giúp họ
tuân thủ điều trị tốt hơn
Hiểu biết kiến thức về điều trị ARV giúp
bệnh nhân hiểu rõ về lợi ích của việc điều trị
cũng như tầm quan trọng của TTĐT, từ đó bệnh
nhân có thái độ và thực hành TTĐT tốt hơn
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy mối liên
quan giữa kiến thức về điều trị ARV với TTĐT
của bệnh nhân Bệnh nhân có kiến thức đúng về
thời gian điều trị và cách xử lý khi quên một liều
thuốc có tỷ lệ TTĐT tốt cao hơn những bệnh
nhân có kiến thức sai Kết quả này tương đồng
với nhiều nghiên cứu khác như nghiên cứu tại Ethiopia năm 2019(14), nghiên cứu tại Nigieria năm 2012(11)
KẾT LUẬN
Tỷ lệ bệnh nhân TTĐT tốt khá cao, tuy nhiên vẫn còn 18% TTĐT chưa tốt, đây là một con số đáng quan tâm do tốc độ sao chép và đột biến nhanh chóng của HIV ở mức rất cao, vì vậy bệnh nhân cần tuân thủ điều trị thuốc ARV ở mức tối
ưu để đạt được sự ức chế bền vững tải lượng vi-rút(16) Để giúp bệnh nhân thực hành đúng TTĐT
cần cung cấp kiến thức đầy đủ cho bệnh nhân hiểu về TTĐT, tầm quan trọng của việc TTĐT cũng như những cách xử lí khi quên liều Sự hỗ trợ của gia đình là động lực cũng như là yếu tố quan trọng đối với thực hành và duy trì TTĐT ở bệnh nhân Vì vậy, bên cạnh tư vấn và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, bác sĩ và nhân viên y tế cũng cần tư vấn, giải thích và phối hợp với gia đình trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 WHO (2020) Key facts HIV 2020 URL:
https://cdn.who.int/media/docs/default-source/hq-hiv-hepatitis-and-stis-library/
2 Cục Phòng Chống HIV/AIDS - Bộ Y Tế (2021) Fact Sheet URL:
https://vaac.gov.vn/gap-mat-phong-vien-bao-chi-nhan-thang-hanh-dong-quoc-gia-phong-chong-hiv-aids-nam-2021.html
3 Cục Phòng Chống HIV/AIDS - Bộ Y Tế (2019) Một báo cáo về chương trình dự phòng HIV ở Việt Nam
4 Reiter GS SE, Wojtusik L, Hewitt R, Segal-Maurer S, Johnson M, Fisher A, Zackin R, Masters H, Bangsberg DR (2000) Elements
of success in HIV clinical care Topics in HIV Medicine, 8:67
5 Bùi Thị Tú Quyên, Nguyễn Thùy Linh (2020) Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân với tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các nước thu nhập trung bình: phân tích
gộp (meta – analysis) Y Tế Công Cộng, 52:36–36
6 Đào Đức Giang (2017) Thực trạng tuân thủ điều trị ARV, một
số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp tại một số phòng
khám ngoại trú tại Hà Nội Luận Án Tiến Sĩ Y Tế Công Cộng,
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương
7 Đỗ Lê Thuỳ (2012) Đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và một
số yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện A Thái Nguyên Khoa Học và Công Nghệ, 89(01/2):301–
6
8 Neupane S, Dhungana GP, Ghimire HC (2019) Adherence to antiretroviral treatment and associated factors among people
living with HIV and AIDS in CHITWAN, Nepal BMC Public Health, 19(1):720
9 Nguyễn Ngọc Quý (2018) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc ARV và tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại phòng khám ngoại
trú điều trị HIV/AIDS Trung tâm y tế Trấn Yên-Yên Bái Luận
Án Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp I, Đại học Dược Hà Nội
Trang 810 Phạm Xuân Sáng, Phan Thị Thu Hương (2017) Thực trạng và
các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân
tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh Điện Biên năm 2016 Y
Học Dự Phòng, 27(2):20
11 Falang KD, Akubaka P, Jimam NS (2012) Patient factors
impacting antiretroviral drug adherence in a Nigerian tertiary
hospital J Pharmacol Pharmacother, 3(2):138–42
12 Võ Thị Năm, Phùng Đức Nhật (2010) Tỷ lệ và các yếu tố liên
quan đến việc tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại
thành phố Cần Thơ năm 2009 Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh,
14(1):151–6
13 Heestermans T, Browne JL, Aitken SC, et al (2016)
Determinants of adherence to antiretroviral therapy among
HIV-positive adults in sub-Saharan Africa: a systematic review
BMJ Glob Health, 1(4): e000125
14 Abadiga M, Hasen T, Mosisa G, Abdisa E (2020) Adherence to
antiretroviral therapy and associated factors among Human
immunodeficiency virus positive patients accessing treatment at
Nekemte referral hospital, west Ethiopia, 2019 PLoS ONE, 15(5):
e0232703
15 Suryana K, Suharsono H, Antara IGPJ (2019) Factors Associated With Adherence To Anti-Retroviral Therapy Among People Living With HIV/AIDS At Wangaya Hospital In Denpasar, Bali,
Indonesia: A Cross-Sectional Study HIVAIDS Auckl NZ, 11:307–
12
16 Bayou B, Sisay A, Kumie A (2015) Assessment of the magni-tude and associated factors of immunological failure amongadult and adolescent HIV-infected patients in St Luke
andTulubolo Hospital, Oromia Region, Ethiopia Pan AfricanMedical Journal, 21:291
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022