1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Stress và chiến lược ứng phó với stress của giáo viên trung học phổ thông tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Stress là một vấn đề khá phổ biến và thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Với những đòi hỏi và yêu cầu cao về khả năng, kiến thức, khối lượng công việc đã tạo nên không ít căng thẳng, áp lực dẫn đến tần suất mắc stress càng cao. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ mắc stress, cách ứng phó với stress và các yếu tố liên quan với stress của giáo viên THPT tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021.

Trang 1

STRESS VÀ CHIẾN LƢỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2021

Trần Hồng Ngọc 1 , Đoàn Duy Tân 2 , Phạm Nhật Tuấn 3

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Stress là một vấn đề khá phổ biến và thường gặp trong cuộc sống hằng ngày Với những đòi hỏi

và yêu cầu cao về khả năng, kiến thức, khối lượng công việc đã tạo nên không ít căng thẳng, áp lực dẫn đến tần

suất mắc stress càng cao

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mắc stress, cách ứng phó với stress và các yếu tố liên quan với stress của giáo viên

THPT tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 217 giáo viên THPT tại

huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp Đánh giá mức độ stress và chiến lược ứng phó với stress bằng thang đo PSS và

CSI có tính tin cậy cao

Kết quả: Tỷ lệ mắc stress của giáo viên THPT tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021 là 31% Trong

đó có 23,7% stress ở mức độ nhẹ và 7,3% stress ở mức độ nặng Các giáo viên đang bị stress có xu hướng chọn

chiến lược ứng phó nằm ở nhóm “lảng tránh” nhiều hơn giáo viên không bị stress Cụ thể, khi điểm trung bình

của ứng phó nhóm “lảng tránh” tăng lên một điểm thì tỉ lệ giáo viên bị stress tăng gấp 4,17 lần

Kết luận: Stress là một vấn đề khá phổ biến và thường xuyên xuất hiện trong công việc Ảnh hưởng không

nhỏ đến chất lượng cuộc sống và hiệu quả làm việc

Từ khóa: stress, giáo viên THPT, thang đo PSS và CSI

ABSTRACT

STRESS AND STRESS STRATEGY OF HIGH SCHOOL TEACHERS

IN LAP VO DISTRICT DONG THAP PROVINCE IN 2021

Tran Hong Ngoc, Doan Duy Tan, Pham Nhat Tuan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 213 - 219

Background: Stress is a common problem in daily life The requirement of ability, knowledge, and heavy

workload creates a lot of stress and pressure leading higher frequency of stress

Objective: Determine the prevalence, coping stratergy and factors associated with stress among high school

teachers in Lap Vo district, Dong Thap province in 2021

Methods: A cross-sectional study was carried out on 217 high school teachers in Lap Vo district, Dong Thap

province PSS scale and CSI scale with high reliability are used to assess stress level and coping strategies

Result: The prevalence of stress within high school teachers of Lap Vo district, Dong Thap province in 2021

was 31% Mild stress was 23.7% and severe stress was 7.3% The teachers who are stressed tend to choose coping

strategies from the “avoidance” group more than the teachers are not stressed Specifically, the average score of the

“avoidant” group increased by one point, the likelihood of teachers being stressed increased 4.17 times

1 Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

2 Bộ môn Dịch tễ học, khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

3 Bộ môn Sức khỏe Cộng đồng, khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: CN Trần Hồng Ngọc ĐT: 0907189061 Email: thngoc.ytcc17@ump.edu.vn

Trang 2

Conclusion: Stress is a fairly common problem and often occurs at work It has a significant impact on

quality of life and work efficiency

Keywords: stress, high school teachers, PSS and CSI scales

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế thế giới, stress liên quan

đến công việc là phản ứng mà mọi người có thể

có khi phải đối mặt với các yêu cầu và áp lực

công việc không phù hợp với kiến thức và khả

năng của họ, cũng như thách thức khả năng đối

phó của họ(1) Có thể thấy, stress trong công việc

là điều khó tránh khỏi ở bất cứ lĩnh vực hay

ngành nghề nào Vấn đề này, hiện đã và đang

được quan tâm rất nhiều, bởi lẽ những tác hại

mà stress mang lại không hề nhỏ Stress khiến

cho con người trở nên mệt mỏi, lo lắng, chán

nản, không tập trung vào công việc và còn rất

nhiều vấn đề khác(1) Một trong số những ngành

nghề có khả năng gây stress cao có thể kể đến là

nghề giáo viên Bởi đối tượng giảng dạy là

những học sinh mà ở từng độ tuổi khác nhau,

từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau sẽ có những

đòi hỏi và yêu cầu khác nhau Chính vì thế áp

lực và căng thẳng đè nặng lên người giáo viên

rất nhiều Do đó, các nghiên cứu đã được thực

hiện và cho thấy tỷ lệ mắc stress ở giáo viên là

khá cao Cụ thể, tại Cộng hòa Macedonia (năm

2015) tỷ lệ mắc stress của giáo viên 85,27%, còn

tại Malaysia (năm 2019) là 32,3%(2,3) Tương tự, ở

Việt Nam nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ

mắc stress khá cao dao động từ 40% đến 46%(4,5,6)

Đặc biệt, khi xã hội ngày càng phát triển, liệu

những con số này có tăng lên nữa hay không khi

có những yêu cầu và đòi hỏi cao hơn? Bên cạnh

đó, một số nghiên cứu còn tìm hiểu chiến lược

ứng phó khi đối mặt với stress trên các đối

tượng khác nhau để đánh giá tác động qua lại

giữa stress và chiến lược ứng phó(4,7) Song việc

tìm hiểu chiến lược ứng phó ở giáo viên trung

học phổ thông (THPT) trong một số nghiên cứu

tại Việt Nam chưa nhiều Chính vì thế, nghiên

cứu được thực hiện trên các giáo viên đang

giảng dạy tại các trường trung học phổ thông

huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để đánh giá tỷ lệ,

với stress của giáo viên

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ 217 giáo viên THPT đang giảng dạy trên địa bàn huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 03 – 04/2021

Tiêu chí chọn mẫu

Chọn tất cả các giáo viên THPT đang giảng dạy, có mặt tại thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia Những giáo viên vắng mặt trong thời gian tiến hành thu thập thông tin và những giáo viên không trả lời hết 80% bộ câu hỏi vì lý do sức khỏe hoặc các lý do khác sẽ bị loại

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ

Phương pháp thu thập số liệu

Giáo viên tự điền vào bộ câu hỏi soạn sẵn

có cấu trúc gồm 5 phần: đặc tính mẫu (5 câu), yếu tố công việc (10 câu), yếu tố gia đình (2 câu), thang đo PSS (10 câu), bảng kiểm CSI (40 câu) Trong đó, PSS là một trong những công

cụ tâm lý được sử dụng rộng rãi nhất nhằm đo lường đánh giá các mức độ stress(8) Bảng kiểm CSI được sử dụng nhằm đánh giá cách ứng phó với các tình huống gây ra stress trong vòng một tháng qua(9) Ở hai thang đo, mỗi nhận định đều có 5 mức lựa chọn tương ứng với 0 (không bao giờ) cho đến 4 (rất thường xuyên) Tổng điểm sẽ dùng để đánh giá mức

độ stress cũng như cách sử dụng chiến lược ứng phó khi đối mặt với stress

Xử lý và phân tích dữ kiện

Nhập liệu bằng phần mềm Epidata phiên bản 3.1

Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata phiên

Trang 3

bảng 14

Thang đo PSS-10 gồm 10 câu, mỗi câu trả lời

được cho điểm từ 0 đến 4 điểm Riêng các câu

hỏi 4,5,7 và 8 sẽ cho điểm ngược lại từ 4 – 0

Điểm số được tính từ 0 – 40, điểm càng cao cho

thấy mức độ stress càng nặng Dưới 24 điểm:

không có stress, từ 24 – 29 điểm: stress nhẹ, từ 30

điểm trở lên cho thấy stress nặng

Bảng kiểm chiến lược ứng phó CSI đánh giá

cách ứng phó của đối tượng trước những tình

huống căng thẳng, khó khăn trong vòng 1 tháng

vừa qua Bảng kiểm gồm 40 câu với 2 nhóm lớn

là “ứng phó đối đầu” và “ứng phó lảng tránh”

Trong “ứng phó đối đầu” có 4 nhóm nhỏ “giải

quyết vấn đề”, “cấu trúc lại nhận thức”, “bộc lộ

cảm xúc”, “ tìm kiếm chỗ dựa xã hội”; nhóm

“ứng phó lảng tránh” có 4 nhóm “lảng tránh vấn

đề”, “mơ tưởng”, “đổ lỗi bản thân”, “cô lập bản

thân” Mỗi nhóm nhỏ có 5 câu, điểm mỗi nhóm

được tính bằng cách lấy trung bình cộng 5 câu

trong mỗi nhóm Điểm của mỗi nhóm sẽ dao

động từ 0 đến 4 điểm Điểm càng cao cho thấy

mức độ sử dụng cách thức ứng phó càng thường

xuyên

Phép kiểm chi bình phương dùng để xác

định mối liên quan giữa stress với các yếu tố cá

nhân, gia đình, công việc Nếu kiểm định chi

bình phương không thỏa, hơn 20% tồng số ô

trong bảng 2xn có tần số mong đợi nhỏ hơn 5,

thì kiểm định chính xác Fisher sẽ được sử dụng

thay thế kiểm định chi bình phương Tỷ số tỷ lệ

hiện mắc PR với KTC 95% được sử dụng để xác

định độ lớn mối liên quan giữa stress và các yếu

tố cá nhân, gia đình và công việc

Định nghĩa biến số chính

Stress: là biến số nhị giá được xác định dựa

trên thang đo PSS gồm hai giá trị là “có stress”

(khi tổng điểm từ 24 trở lên) và “không

stress”(khi tổng điểm dưới 24 điểm)

Cách ứng phó: là biến số danh định được xác

định dựa trên bảng kiểm chiến lược ứng phó CSI

gồm 8 giá trị Điểm càng cao cho thấy mức độ sử

dụng cách thức ứng phó càng thường xuyên

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, số 184/HĐĐĐ-ĐHYD ký ngày 09/03/2021

KẾT QUẢ

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=207)

Giới tính Nam

Nữ

80

127

38,7 61,3 Tuổi

Dưới 30 tuổi

Từ 30 đến 39 tuổi

Từ 40 tuổi trở lên

19

99

89

9,2 47,8 43,0 Dân tộc

Kinh Khác

207

0

100

0 Trình độ học vấn

Đại học Sau đại học

176

31

85,0 14,9 Tình trạng hôn nhân

Kết hôn Sống một mình

162

45

78,2 21,8

Hình 1 Tỷ lệ và mức độ stress trên giáo viên THPT

(n=207)

Nghiên cứu được thực hiện trên 217 giáo viên THPT với 95% tỷ lệ phản hồi, một số giáo viên còn lại vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu

và từ chối tham gia Tỷ lệ tham gia nghiên cứu ở

nữ giới nhiều hơn nam giới chiếm 61,3% Đa số các giáo viên có độ tuổi từ 30 tuổi trở lên chiếm phần lớn Tất cả các giáo viên tham gia nghiên cứu đều là dân tộc kinh Đa số các giáo viên có trình độ học vấn đại học chiếm 85,0% Đã kết

hôn chiếm phần nhiều với tỷ lệ 78,3% (Bảng 1)

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 31% giáo viên bị stress Trong đó có 23,7% stress ở mức độ

nhẹ và 7,3% ở mức độ nặng (Hình 1) Phần lớn

Trang 4

các giáo viên tham gia nghiên cứu có xu hướng

chọn các chiến lược ứng phó “bộc lộ cảm xúc”,

“lảng tránh vấn đề”, ‘đổ lỗi bản thân”, “cô lập

bản thân” khi gặp phải những tình huống gây

căng thẳng (Hình 2)

Có mối liên quan giữa stress với các chiến

lược ứng phó Những giáo viên bị stress có xu

hướng chọn chiến lược ứng phó nằm ở nhóm

“lảng tránh” nhiều hơn nhóm “đối đầu” với

p <0,001 Ngược lại, những giáo viên không stress có xu hướng chọn chiến lược ứng phó nằm ở nhóm “đối đầu” nhiều hơn với p <0,001

(Bảng 2)

Hình 2 Tỷ lệ các giáo viên chọn chiến lược ứng phó với stress (n=207) Bảng 2 Mối liên quan giữa stress và cách ứng phó với stress (n=207)

Cách ứng phó

Stress

Có (n= 64)

Không (n=143) TB±ĐLC

Giải quyết vấn đề

Cấu trúc lại nhận thức

Bộc lộ cảm xúc

Tìm kiếm chỗ dựa xã hội

1,9±0,6 1,7±0,5 2,7±0,6 1,7±0,5

2,3±0,5 2,5±0,5 2,3±0,5 2,2±0,5

<0,001

<0,001

<0,001

<0,001

0,39(0,25-0,62) 0,22(0,14-0,33) 2,25(1,54-3,31) 0,27(0,16-0,45) Cách ứng phó “đối đầu” 1,9±0,3 2,3±0,3 <0,001 0,18(0,09-0,33)

Lảng tránh vấn đề

Mơ tưởng

Đổ lỗi cho bản thân

Cô lập bản thân

2,6±0,6 2,6±0,7 2,8±0,8 2,9±0,7

2,3±0,4 2,1±0,4 2,2±0,5 2,2±0,5

0,002

<0,001

<0,001

<0.001

1,92(1,27-2,90) 2,63(2,07-3,36) 2,29(1,69-3,11) 2,74(2,05-3,66) Cách ứng phó “lảng tránh” 2,7±0,5 2,2±0,4 <0,001 4,17(2,99-5,81)

a TB: Trung Bình ĐLC: Độ lệch chuẩn

Bảng 3 Mối liên quan giữa stress với các yếu tố công việc, xã hội (n=207)

Stress

(KTC 95%)

Có Tần số (%)

Không Tần số (%)

Đặc điểm dân số xã hội Nhóm tuổi

Dưới 30

Từ 30 dến 39

14(73,7) 29(29,3)

5(26,3) 70(70,7) <0,001

1 0,59(0,44-0,79)

Trang 5

Stress

(KTC 95%)

Có Tần số (%)

Không Tần số (%)

Tình trạng hôn nhân

Kết hôn

Sống một mình

38(23,5) 26(58)

124(76,5) 19(42)

<0,001 0,41(0,28-0,59) Đặc điểm công việc

Kinh nghiệm giảng dạy

Dưới 10 năm

Từ 10 năm trở lên

20(62,5) 44(25,1)

12(37,5) 131(74,9) <0,001 0,40(0,28-0,58)

Số khối lớp giảng dạy

1 khối

2 khối

3 khối

6(19,4) 41(27,9) 17(58,6)

25(80,7) 106(72,1) 12(41,4)

0,001 0,001

1 1,86(1,29-2,69) 3,47(1,67-7,23)

Số tiết/tuần

Từ 17 tiết trở xuống

Trên 17 tiết

38(23,2) 26(60,5)

126(76,8) 17(39,5) <0,001 0,38(0,26-0,55) Chức vụ khác

Không

1 chức vụ

2 chức vụ

15(22,1) 40(32,5) 9(56,3)

53(77,9) 83(67,5) 7(43,7)

0,008 0,008

1 1,58(1,13-2,21) 2,48(1,27-4,86) Khối lượng công việc

Rất nhiều

Nhiều Vừa phải

7(58,3) 31(37,4) 26(23,2

5(41,7) 52(62,6) 86(76,8)

0,002 0,002

1 0,63(0,47-0,84) 0,39(0,22-0,70)

Kết quả nghiên cứu ở Bảng 3 cho thấy,

những giáo viên có độ tuổi từ 30 đến 39 tuổi có

tỷ lệ mắc stress thấp hơn 41% so với nhóm dưới

30 tuổi (p <0,001); nhóm giáo viên từ 40 tuổi trở

lên cũng có tỷ lệ mắc stress thấp hơn nhóm dưới

30 tuổi 65% (p <0,001) Giáo viên đã kết hôn có tỷ

lệ mắc stress thấp hơn nhóm sống một mình

59% (p <0,001) Kết quả nghiên cứu cho thấy có

mối liên quan giữa stress với các yếu tố: kinh

nghiệm giảng dạy, số khối lớp giảng dạy, số

tiết/tuần, chức vụ khác, khối lượng công việc

Trong đó, nhóm giáo viên có kinh nghiệm dạy

từ 10 năm trở lên có tỷ lệ mắc stress thấp hơn

nhóm dạy dưới 10 năm 60% (p <0,001) Nhóm

giáo viên dạy 3 khối có tỷ lệ mắc stress gấp 3,47

lần nhóm giáo viên dạy 1 khối (p=0,001) Nhóm

giáo viên có số tiết/tuần từ 17 tiết trở xuống có tỷ

lệ mắc stress thấp hơn 62% nhóm có số tiết/tuần

cao hơn 17 tiết Những giáo viên đảm nhiệm 2

chức vụ có tỷ lệ mắc stress gấp 2,48 lần giáo viên

không đảm nhiệm thêm chức vụ khác (p=0,008)

Nhóm giáo viên có khối lượng công việc vừa

phải có tỷ lệ mắc stress thấp hơn 61% nhóm có

khối lượng công việc nhiều (p=0,002)

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress của giáo viên THPT tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021 khá cao là 31% Tỷ lệ này

có phần thấp hơn các nghiên cứu trước đó của các tác giả Khương Thanh Văn (năm 2016), Đặng Khánh Hiệp (năm 2018), Cao Hoàng Vy (năm 2019) với tỷ lệ stress dao động từ 40%

đến 46%(4,5,6) Sự khác biệt này có thể xuất phát

từ địa điểm nghiên cứu khác nhau, thời gian thu thập dữ liệu và sử dụng thang đo không giống nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc stress ở giáo viên khá cao

Qua đó, có thể thấy những áp lực về thành tích, thi đua của nhà trường, công tác quản lý học sinh, yêu cầu của xã hội phần nào đè nặng lên giáo viên Thêm vào đó, đối tượng giảng dạy của giáo viên THPT là những học sinh đang trong giai đoạn trưởng thành có những thay đổi về tâm sinh lý, suy nghĩ và hành động khiến cho giáo viên ngoài việc giảng dạy còn phải đảm nhiệm thêm việc định hướng phát triển các kỹ năng về sau cho học sinh Bên cạnh đó, cần quan tâm đến con số stress nặng

Trang 6

ở giáo viên bởi vì stress nặng nếu không kịp

thời phát hiện và điều trị có thể gây ra những

hậu quả nghiêm trọng như trầm cảm, tự

tử(10,11)

Kết quả cho thấy có mối liên quan giữa stress

với các yếu tố cá nhân và công việc Theo đó, ở

những giáo viên càng lớn tuổi thì tỉ lệ mắc stress

càng giảm Cụ thể, những giáo viên có độ tuổi từ

30 đến 39 có tỷ lệ mắc stress thấp hơn 41% so với

nhóm dưới 30 tuổi, nhóm giáo viên có độ tuổi 40

trở lên cũng có tỷ lệ mắc stress thấp hơn 65% so

với nhóm dưới 30 tuổi Kết quả này tương đồng

với nghiên cứu trước đó của tác giả Đặng Khánh

Hiệp được nghiên cứu ở tỉnh Đồng Nai(5) Tương

tự, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy càng lớn

thì tỷ lệ stress càng giảm (p <0,001) Điều này có

thể lý giải, do các giáo viên lớn tuổi họ có kinh

nghiệm và có khả năng chịu đựng áp lực trước

những tình huống gây stress, nên họ có thể xử lý

tình huống để giảm bớt căng thẳng Những giáo

viên đã kết hôn có tỷ lệ mắc sstress giảm 59% so

với những giáo viên sống một mình Việc có một

người bạn đời ở bên cạnh khá quan trọng, họ là

người có thể san sẻ những áp lực hoặc cho lời

khuyên bổ ích khi đối phương gặp những khó

khăn Do đó, phần nào giải tỏa được cảm giác

tiêu cực mà stress mang lại Nghiên cứu cũng

tìm thấy những giáo viên dạy từ 2 khối trở lên,

giáo viên có số tiết lớn hơn quy định hay những

giáo viên có đảm nhiệm thêm chức vụ đều cho

thấy khả năng mắc stress tăng Với khối lượng

công việc nhiều dễ khiến giáo viên không có đủ

thời gian để hoàn thành nhiệm vụ dẫn đến quá

tải, gây mệt mỏi kéo theo căng thẳng cao

Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa

stress và cách ứng phó với stress Điều này có

thể do các giáo viên đang bị stress đa phần chọn

cách ứng phó nằm ở nhóm “lảng tránh” nhiều

hơn so với những giáo viên không stress Kết

quả nghiên cứu cho thấy, khi điểm trung bình

của ứng phó nhóm “lảng tránh” tăng lên một

điểm thì tỉ lệ giáo viên bị stress tăng gấp 4,17 lần

(KTC 2,99 – 5,81) Kết quả này tương đồng với

nghiên cứu của Austin kết luận rằng giáo viên

càng sử dụng cách ứng phó “lảng tránh” thì mức

độ stress càng tăng cao(12) Có thể việc né tránh, trốn chạy hay lảng tránh không đối mặt với những khó khăn, căng thẳng không giúp cho giáo viên tốt hơn mà nó khiến cho tình trạng ngày càng trở nên xấu hơn Kiểu ứng phó này có thể không giúp loại bỏ, hoặc giải quyết vấn đề

mà chỉ là giải pháp tạm thời khiến cho giáo viên giảm bớt những áp lực, căng thẳng Tình trạng này có thể sẽ sớm quay lại thậm chí làm cho vấn

đề trở nên trầm trọng hơn

Ngược lại, nhóm giáo viên không mắc stress lại sử dụng hiệu quả cách ứng phó nằm trong nhóm “đối đầu” nhiều hơn Nhóm được đánh giá là tốt và tích cực trong việc giảm tỷ lệ mắc stress Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi tổng điểm trung bình ứng phó “đối đầu” tăng lên một điểm thì tỉ lệ bị stress sẽ giảm 82% (KTC 0,09 – 0,33) Kết quả này đồng thuận với những nghiên cứu trước đây Ngiên cứu của Cao Hoàng Vy được thực hiện vào năm 2019 cũng kết luận kiểu phản ứng đối đầu hay tập trung vào vấn đề đem lại hiệu quả tích cực(4) Việc nhìn nhận vấn đề và giải quyết vấn đề theo một chiều hướng tích cực có thể giúp giáo viên kiểm soát tốt những tiêu cực, làm chủ vấn đề và nhanh chóng vượt qua khỏi những tình huống gây căng thẳng William và cộng sự chỉ ra kiểu phản ứng đối đầu tập trung vào vấn đề đem lại sự cải thiện về sức khỏe tâm lý trong khi đó hành vi lảng tránh khiến cho mức độ stress tăng cao(13) Bên cạnh đó, giáo viên cần phải có những kiến thức cũng như kỹ năng kiềm chế, điều hòa cảm xúc và giải quyết vấn đề để nâng cao khả năng ứng phó trước những khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống

Nghiên cứu này được thực hiện trên toàn bộ các trường THPT tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp và chỉ có khoảng 5% giáo viên không có mặt tại thời điểm phỏng vấn hoặc từ chối tham gia nghiên cứu nên sai lệch chọn lựa có thể được hạn chế Bộ câu hỏi phỏng vấn dựa trên hai thang đo PSS và CSI khá ngắn gọn, dễ hiểu nên

có thể hạn chế được sai lệch thông tin Mặc dù

Trang 7

nghiên cứu này có thể phản ánh chính xác tỉ lệ

và mức độ stress của giáo viên THPT tại huyện

Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nhưng chúng tôi không

thể kết luận được các mối liên quan nhân quả do

nghiên cứu cắt ngang khó có thể xác định được

trình tự thời gian giữa stress và các yếu tố liên

quan và nghiên cứu cũng không thực hiện phân

tích đa biến để tìm được mối liên quan độc lập

giữa stress và các yếu tố liên quan đến stress

KẾT LUẬN

Stress ở giáo viên THPT vẫn là vấn đề cần

được quan tâm Nhà trường nên tạo điều kiện

hơn nữa để giúp giáo viên giảm bớt những căng

thẳng do áp lực công việc, nâng cao chất lượng

cuộc sống Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần chủ

động tìm hiểu và lựa chọn cho mình cách ứng

phó phù hợp khi đối mặt với áp lực công việc

gây nên stress Cần sắp xếp và phân bổ thời gian

hợp lý cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá

nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 WHO (2003) Work Organisation and stress URL:

https://www.who.int/publications/i/item/9241590475

2 Agai-Demjaha T, Bislimovska JK, Mijakoski D(2015) Level of

work related stress among teachers in elementary schools Open

Access Macedonian Journal of Medical Sciences, 3(3):484-488

3 Othman Z, Sivasubramaniam V(2019) Depression, anxiety, and

stress among secondary school teachers in Klang, Malaysia

International Medical Journal, 26(2):71-74

4 Cao Hoàng Vy (2019) Stress và cách ứng phó với stress của giáo

viên Trung học Phổ thông tại huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre

năm 2019 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học

Y Dược TP Hồ Chí Minh

5 Đặng Khánh Hiệp (2017) Stress và các yếu tố liên quan ở giáo

viên các trường Trung học Phổ thông tại Thành phố Biên Hòa,

tỉnh Đồng Nai năm 2018 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

6 Khương Thanh Văn (2016) Stress và các yếu tố liên quan của

giáo viên Trung học Phổ thông tại Thị xã Lagi tỉnh Bình Thuận

năm 2016 Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học

Y Dược TP Hồ Chí Minh

7 Nguyễn Thái Sang (2019) Tỉ lệ stress và chiến lược ứng phó của

sinh viên Y học Dự phòng Đại học Y dược thành phố Hồ Chí

Minh Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

8 Cohen S, Kamarck T, Mermelstein R, et al (1994) Perceived

stress scale Measuring Stress: A Guide for Health and Social Scientists, 10(2):1-2

9 Garcia FJ, Franco LR, Martínez JG(2007) Spanish version of the

Coping Strategies Inventory" Actas Españolas de Psiquiatría,

35(1):29-39

10 Yang L, Zhao Y, Wang Y, et al (2015) The Effects of

Psychological Stress on Depression Cur Neropharmacol,

13(4):494-504

11 Nakada A, Iwasaki S, Kanchika M, et al (2016) Relationship between depressive symptoms and perceived individual level

occupational stress among Japanese school teachers Ind Health,

54(5):396-402

12 Austin V, Shah S, Muncer S (2005) Teacher stress and coping

strategies used to reduce stress Occupational Therapy International, 12(2):63-80

13 Williams K, McGillicuddy-De Lisi A (1999) Coping strategies in

adolescents Journal of Applied Developmental Psychology,

20(4):537-549

Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng 14. - Stress và chiến lược ứng phó với stress của giáo viên trung học phổ thông tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021
bảng 14. (Trang 3)
(Bảng 2). - Stress và chiến lược ứng phó với stress của giáo viên trung học phổ thông tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp năm 2021
Bảng 2 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w