Ung thư thanh quản xếp thứ hai sau ung thư vòm họng trong các ung thư đầu mặt cổ và đứng thứ chín trong các ung thư toàn thân, do đó, chẩn đoán đúng giai đoạn sẽ giúp điều trị hiệu quả Mục tiêu: Khảo sát giá trị của Chụp lớp vi tính trong đánh giá yếu tố T của phân giai đoạn ung thư thanh quản.
Trang 1VAI TRÒ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG PHÂN GIAI ĐOẠN
CỦA UNG THƢ THANH QUẢN
Nguyễn Bảo Minh Triết 1 , Lâm Thanh Ngọc 1 , Trần Minh Hoàng 1 , Trần Thị Mai Thùy 1
TÓM TẮT
Mở đầu: Ung thư thanh quản xếp thứ hai sau ung thư vòm họng trong các ung thư đầu mặt cổ và đứng
thứ chín trong các ung thư toàn thân, do đó, chẩn đoán đúng giai đoạn sẽ giúp điều trị hiệu quả
Mục tiêu: Khảo sát giá trị của CLVT trong đánh giá yếu tố T của phân giai đoạn UTTQ
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang các bệnh nhân ung thư thanh quản
có CLVT vùng đầu cổ trước khi phẫu thuật Đọc mù phân giai đoạn T trên CLVT, đối chiếu với kết quả mô học
sau phẫu thuật Phân tích độ nhạy, độ đặc hiệu của CLVT đối với sự xâm lấn các sụn thanh quản, sự lan rộng
của ung thư thanh quản
Kết quả: Nghiên cứu thu được105 trường hợp gồm 96 nam và 9 nữ, trong đó có 38 bệnh nhân được phân
giai đoạn T3, T4 trên CLVT Trong phân giai đoạn, CLVT có độ nhạy chẩn đoán giai đoạn T1, T2, T3, T4a, T4b
lần lượt là 71%, 52%, 70%, 74% và 100%, độ đặc hiệu, độ chính xác tăng dần từ giai đoạn T1 đến T4b Độ nhạy
của CLVT trong chẩn đoán xâm lấn sụn giáp, sụn phễu, sụn nhẫn khi u ở giai đoạn T3, T4, lần lượt là 69,6%,
97,5%, 88,9% và độ đặc hiệu tương ứng là 70%, 57,9%, 97% Đối với chẩn đoán xâm lấn khoang cạnh thanh
môn, khoang trước sụn nắp khi u ở giai đoạn T3, T4, CLVT có độ nhạy là 88,2%, 45,4% với độ đặc hiệu tương
ứng là 44,4%, 93,8%
Kết Luận: CLVT là phương tiện hình ảnh không xâm lấn, chính xác để phân giai đoạn T cho UTTQ với độ
đặc hiệu cao Dù độ nhạy của CLVT chưa cao, song nhìn chung CLVT vẫn có ý nghĩa lớn trong việc lựa chọn
phương thức phẫu thuật cho bệnh nhân
Từ khóa: ung thư thanh quản, xâm lấn sụn thanh quản, xâm lấn khoang cạnh thanh môn
Từ viết tắt: CLVT: cắt lớp vi tính, UTTQ: ung thư thanh quản, KCTM: khoang cạnh thanh môn, KTSN:
khoang trước sụn nắp, TP: dương tính thật, FN: âm tính giả, FP: dương tính giả, TN: âm tính thật, Sn: độ nhạy,
Sp: độ đặc hiệu, PPV: giá trị tiên đoán dương, NPV: giá trị tiên đoán âm, Acc: độ chính xác
ABSTRACT
THE ROLE OF COMPUTED TOMOGRAPHY IN THE STAGING T OF LARYNGEAL CANCER
Nguyen Bao Minh Triet, Tran Thi Mai Thuy, Lam Thanh Ngoc, Tran Minh Hoang
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 181 - 186
Backgroud: Laryngeal cancer was the second most common cancer after nasopharyngeal cancer in head and
neck region and was the ninth cancer in whole body cancer Therefore, accurate diagnosis of stage of cancer helps
effective treatment
Objective: Evaluating the role of computed tomography (CT) in the staging T of laryngeal cancer
Methods: Cross-sectional study of patients with cancer larynx who were taken a preoperative head neck CT
scan Classify T stage by blinded reading of CT, compared with surgical results, histopathological T-stage
Analyzing the sensitivity and specificity of CT to detect cartilaginous penetration and spread outside the larynx
Results: Researched 105 patient including 96 male patients and 9 female patients, 38 patients with stage
1 BM Chẩn đoán Hình ảnh Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Bảo Minh Triết ĐT: 0914045919 Email: triet.nbm@umc.edu.vn
Trang 2T3-T4 by CT In staging laryngeal cancer from T1 to T4b, sensitivity of CT was 71%, 52%, 70%, 74% and
100%, respectively Specificity and accuracy were increased from T1 to T4b The sensitivity of computed
tomography (CT) for detecting thyroid cartilage, arytenoid cartilage, cricoid cartilage involvement was as follows:
69.6%, 97.5%, 88.9% and specificity 70%, 57.9%, 97%, respectively as patients with T3-T4 stage For detection
of paraglottic space, pre-epiglottic space invasion, CT has sensitivity 88.2%, 45.4% and specificity 44.4%, 93.8%
as patients with T3-T4 stage
Conclusion: CT could serve as a powerful auxiliary and non-invasive method for staging T laryngeal cancer
Although the sensitivity of CT isn’t high, CT is still be useful to guide the choice of surgical procedure
Keywords: laryngeal cancer, paraglottic space invasion, laryngeal cartilage invasion
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thanh quản (UTTQ) chỉ chiếm gần
1% trong tất cả các loại ung thư và chiếm khoảng
25% các u ác tính của vùng đầu – cổ Hầu hết
UTTQ là ung thư biểu mô tế bào vảy
(UTBMTBV)(1)
Ở Việt Nam, UTTQ xếp thứ hai sau ung thư
vòm họng trong các ung thư đầu mặt cổ và
đứng thứ chín trong các ung thư toàn thân(2)
Phương pháp điều trị UTTQ phụ thuộc
nhiều vào việc phân giai đoạn TNM trước phẫu
thuật, dựa trên hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT)
và nội soi thanh quản(3) Sự kết hợp giữa hình
ảnh nội soi và CLVT giúp đánh giá vị trí, mức độ
lan rộng của ung thư(4) Đặc biệt những khối u
giai đoạn T3, T4 có liên quan đến sụn, lan ra
ngoài thanh quản, cần được đánh giá chính xác
vì thái độ điều trị ảnh hưởng lớn đến chất lượng
cuộc sống bệnh nhân
CLVT hiện nay đã được sử dụng tương đối
rộng rãi ở các cơ sở y tế lớn nhỏ và có độ nhạy
cao trong phân giai đoạn UTTQ(5) Ở Việt Nam
có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị của
CLVT trong phân độ TNM, tuy chưa có nhiều
công trình đánh giá đầy đủ về độ nhạy, độ đặc
hiệu của CLVT trong chẩn đoán xâm lấn các
thành phần của thanh quản như sụn, khoang
cạnh thanh môn (KCTM), khoang trước sụn
nắp (KTSN) Do đó, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu vai trò của chụp cắt lớp vi tính
trong phân giai đoạn T của ung thư thanh
quản tại bệnh viện Đại học Y Dược và bệnh
viện Ung Bướu, nhằm góp phần làm rõ giá trị
của CLVT trong đánh giá UTTQ
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân UTTQ nguyên phát và có thực hiện CLVT tại bệnh viện Đại học Y Dược từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2020 và bệnh viện Ung Bướu từ tháng 01/2020 đến tháng12/2020
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu hồ sơ
Phương pháp thực hiện
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là UTTQ nguyên phát, được phẫu thuật và có chụp CLVT vùng đầu cổ có tiêm cản quang đường tĩnh mạch tạai bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh hoặc bệnh viện Ung Bướu, đồng thời hình ảnh còn lưu trữ trên hệ thống PACS Tiêu chuẩn loại trừ khỏi mẫu gồm Bệnh nhân UTTQ tái phát hoặc đã được điều trị (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị) trước khi chụp CLVT
Bệnh nhân được khảo sát vùng cổ bằng máy
CT đa lát cắt (máy GE 16 và 64 lát cắt ở bệnh viện Ung Bướu và máy Siemens 64 và 128 lát cắt
ở bệnh viện Đại Học Y Dược), có tiêm thuốc tương phản Kết quả CLVT được đọc phân giai đoạn T theo AJCC 8th, kết quả này sau đó được
so sánh với kết quả giải phẫu bệnh sau mổ
Xử lý số liệu
Mô tả tần số, tỉ lệ % cho biến định tính Mô tả trung bình, độ lệch chuẩn cho biến định lượng
có phân phối chuẩn, trung vị và khoảng tứ phân
vị cho biến định lượng không có phân phối chuẩn So sánh các tỉ lệ bằng phép kiểm Chi bình
Trang 3phương hoặc Fisher So sánh các giá trị trung
bình bằng phép kiểm t test hoặc Mann-Whitney
với độ tin cậy 95% Tính độ nhạy, độ đặc hiệu,
giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ
chính xác của CLVT trong chẩn đoán giai đoạn
và xâm lấn các sụn thanh quản theo phương
pháp định tính, dựa trên tiêu chuẩn là kết quả
phân loại trên giải phẫu bệnh
KẾT QUẢ
Nghiên cứu thu được 105 trường hợp thỏa
tiêu chuẩn chọn mẫu, trong đó, có 38 bệnh nhân
được phân giai đoạn T3, T4 trên CLVT, gồm 35 nam và 3 nữ
Phân giai đoạn T
Ở tất cả giai đoạn, CLVT có đô đặc hiệu cao (>80%), trong đó ở giai đoạn muộn (T3, T4) CLVT có độ đặc hiệu rất cao (>90%) Độ nhạy
CLVT ở giai đoạn T2 thấp nhất (52%) (Bảng 1)
Xét tất cả trường hợp UTTQ trong mẫu (T1 đến T4b) (n=105)
Bảng 1: Giá trị của CLVT trong phân giai đoạn T
CT
Sự xâm lấn sụn thanh quản
Bảng 2: Số trường hợp được chẩn đoán xâm lấn sụn
của UTTQ trên CLVT và PT-GPB
PT – GPB (+) PT – GPB (-)
Chúng tôi tính được độ nhạy, độ đặc hiệu,
giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm, độ chính
xác của CLVT trong sự xâm lấn sụn của u thanh
quản lần lượt là: 70%, 93%, 73%, 92%, 88% đối
với sụn giáp; 80%, 99%, 89%, 98%, 97% đối với
sụn nhẫn; 80%, 88%, 73%, 92%, 86% đối với sụn
phễu (Bảng 2)
Sự xâm lấn khoang trước sụn nắp và khoang
cạnh thanh môn
CLVT đã chẩn đoán đúng 5 trường hợp xâm
lấn khoang trước sụn nắp Tuy nhiên, có 2
trường hợp được nghĩ là có xâm lấn trên CLVT
lại không thấy được trên kết quả mô bệnh học
CLVT có độ nhạy 50%, độ đặc hiệu 93%, giá trị
tiên đoán dương 71%, giá trị tiên đoán âm 84%,
độ chính xác 82% với sự xâm lấn khoang này
Với sự xâm lấn khoang cạnh thanh môn, CCLVT
độ nhạy là 97%, độ đặc hiệu 29%, giá trị tiên đoán dương 86%, giá trị tiên đoán âm 67%, độ
chính xác 84% (Bảng 3)
Bảng 3: Số trường hợp được chẩn đoán xâm lấn phần
mềm của UTTQ trên CLVT và PT-GPB
PT – GPB (+) PT – GPB (-)
Xét các trường hợp UTTQ giai đoạn T3, T4
trên CLVT và PT – GPB (n = 43)
Đánh giá xâm lấn sụn giai đoạn T3, T4
Bảng 4: Số trường hợp được chẩn đoán xâm lấn sụn
của mô u trên CLVT và PT – GPB khi xét u ở giai đoạn T3, T4 trên CLVT và PT – GPB
PT – GPB (+) PT – GPB (-)
Chúng tôi tính được độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm, độ chính
Trang 4xác của CLVT trong sự xâm lấn sụn của u thanh
quản khi chỉ xét u ở giai đoạn T3, T4 trên CLVT
và PT – GPB lần lượt là: 69,6%; 70%; 72,7%;
66,7%, 69,8% đối với sụn giáp; 88,9%; 97%;
88,9%; 97%; 95,3% đối với sụn nhẫn; 87,5%;
57,9%; 72,4%; 78,6%; 74,4% đối với sụn phễu
Đánh giá xâm lấn khoang trước sụn nắp và
khoang cạnh thanh môn giai đoạn T3, T4
Chúng tôi tính được độ nhạy, độ đặc hiệu,
giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm, độ chính
xác của CLVT trong sự xâm lấn phần mềm của
UTTQ khi chỉ xét u ở giai đoạn T3, T4 trên CLVT
và PT – GPB lần lượt là 88,2%; 44,4%; 85,7%,
50%, 79,1% với xâm lấn KCTM và 45,4%, 93,8%,
71,4%, 83,3%, 81,3% với KTSN
BÀN LUẬN
Trong đánh giá giai đoạn T của u thanh
quản, ta cần đánh giá kỹ xâm lấn sụn và các
thành phần của thanh quản
Xâm lấn các sụn
Đặc điểm hình ảnh của các sụn thanh quản
tùy thuộc vào sự vôi hóa, lượng mỡ trong tủy(5)
Phát hiện xâm lấn sụn trên CCLVT có ý
nghĩa quan trọng trong phân giai đoạn T vì với
khối u khi đã xâm lấn sụn (trừ xâm lấn vỏ trong
sụn giáp) thì được xếp giai đoạn T4a, và có ảnh
hưởng lớn đến điều trị Nhiều chiến lược điều trị
khác nhau như cắt thanh quản bán phần, xạ trị,
hóa trị trong điều trị bảo tồn, với bệnh nhân ung
thư tiến triển, khó để phẫu thuật bảo tồn cần
phẫu thuật toàn bộ thanh quản để tăng khả năng
sống(6)
Khi phân tích các thành phần sụn thanh
quản, các nghiên cứu chỉ ra độ nhạy và độ đặc
hiệu: 55-80% và 79-92% đối với sụn giáp (430 sụn
giáp trong 7 bài báo)(7,8,9,10,11,12,13); 24-93% và
85-96% đối với sụn nhẫn (267 sụn nhẫn trong 5 bài
với sụn phễu (291 sụn phễu trong 5 bài
báo)(8,9,10,11,13)
Sụn giáp
Có bốn tiêu chuẩn với độ nhạy và độ đặc
hiệu cao để đánh giá sự xâm lấn sụn giáp, được
mô tả bởi Becker là sự lan rộng ngoài thanh quản, hủy sụn, xơ cứng và bào mòn(14) Nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy và độ đặc hiệu (70% và 93%) phù hợp với các nghiên cứu nước ngoài như của các tác giả Kashany SS (2008)(11), Koopmann M (2016)(12), Han MW (2013)(10) có độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 81%- 91%, 46%- 89%, 57%- 94%
Nếu chỉ xét đối với u giai đoạn iT3, iT4, theo nghiên cứu của Jaipuria, độ nhạy, độ đặc hiệu(15)
(86,7%- 50%) gần tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi (73%- 63%)
Vai trò của CCLVT trong đánh giá xâm lấn sụn ở u thanh môn giai đoạn sớm được nghiên cứu bởi Hartl và cộng sự(16) Nghiên cứu này có
độ nhạy 10,5% và độ đặc hiệu 94%, và đánh giá quá mức sự xâm lấn sụn ở bệnh nhân có xâm lấn mép trước hoặc gây bất động dây thanh Tác giả nhấn mạnh hình CLVT không thể đánh giá kỹ
sự xâm lấn vào vỏ trong sụn giáp.(16) Trong nghiên cứu của Ryu IS(13), 23 người trong số 32 bệnh nhân (72%), có kết quả mô học phù hợp với CLVT về sự phá hủy sụn giáp và 24 người trong số 33 bệnh nhân có kết quả mô học phù hợp với CLVT về xâm lấn ngoài thanh quản Độ nhạy của nghiên cứu này thấp hơn khi
so với nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên độ đặc hiệu cao hơn nghiên cứu chúng tôi, lí do có
lẽ vì định nghĩa về xâm lấn sụn của chúng tôi có hàm ý rộng hơn
Sụn phễu
U ở sụn phễu, có thể lan lên vào nếp gấp sụn phễu, từ đó lan vào sụn nắp, khoang trước nắp,
bờ trên của sụn giáp, do đó việc đánh giá sự xâm lấn sụn phễu khá quan trọng
Độ nhạy không tương đồng giữachúng tôi với hai tác giả Kashany SS (2008)(11) và Han MW (2013)(10), nhưng độ đặc hiệu cao khi xét qua toàn
bộ các giai đoạn
Với u ở giai đoạn T3, T4, nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy cao hơn và độ đặc hiệu thấp hơn khi xét với nghiên cứu của Jaipuria
B(15), có thể vì số trường hợp dương tính giả của
Trang 5chúng tôi cao, khi có sự nhầm lẫn hình ảnh trong
trường hợp viêm quanh u nhưng chưa xâm lấn,
cũng gây hình ảnh xơ cứng sụn
Sụn nhẫn
Nhìn chung, các nghiên có độ đặc hiệu đối
với sự xâm lấn sụn nhẫn khá cao, dù xét chung
toàn thể các giai đoạn của (Kashany SS (2008),
Koopmann M (2016), Han MW (2013), chúng tôi)
hay chỉ xét riêng giai đoạn T3-T4 (Jaipuria B
(2018), Ryu IS (2014))
Khi chỉ xét đối với u giai đoạn T3, T4, theo
nghiên cứu của Jaipuria B, độ nhạy, độ đặc hiệu,
độ chính xác lần lượt là 75%, 83,3% và 56,5%
Nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy, độ đặc
hiệu và độ chính xác cao hơn(15) Có thể vì trong
nghiên cứu của chúng tôi, khi u ở giai đoạn T3,
T4 thì đã kích thước lớn, đã lan rộng các thành
phần khác trong thanh quản, dấu hiệu xâm lấn
sụn nhẫn rõ nên dẫn đến độ nhạy, độ đặc hiệu
và độ chính xác đều cao hơn
Khoang cạnh thanh môn
Đánh giá sự xâm lấn khoang này khá quan
trọng trong việc xác định giai đoạn T3, trên nội
soi có thể gợi ý phần nào cho chúng ta biết có sự
xâm lấn khoang cạnh thanh môn đó là sự bất
động của hai dây thanh (nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy sự bất động dây thanh trên nội soi
và sự xâm lấn khoang cạnh thanh môn có tương
quan thuận, rất chặt)
Khi khối u xâm lấn khoang cạnh thanh môn,
có một tỉ lệ cao sẽ xâm lấn bộ khung của thanh
quản, di căn cổ Nghiên cứu của chúng tôi với
khoang cạnh thanh môn có độ nhạy thấp hơn và
có độ đặc hiệu cao hơn so với nghiên cứu của
Atlanoğlu S(3)
Nếu chỉ xét đối với u giai đoạn T3, T4,
nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy (97%) cao
hơn của Jaipuria B, Ryu IS và độ đặc hiệu (28%)
thấp hơn rất nhiều nghiên cứu của Jaipuria B,
Ryu IS, tuy nhiên về độ chính xác ba nghiên cứu
chênh lệch không nhiều (85%, 82,6%, 79,1%)(13,15)
Khoang trước sụn nắp
Còn khi ung thư xâm lấn khoang trước sụn nắp thì có liên quan đến phẫu thuật bảo tồn hay cắt xương móng, liên quan đến bờ phẫu thuật ở đáy lưỡi
Đánh giá sự xâm lấn khoang trước nắp trên bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy ở thanh môn/ thượng thanh môn quan trọng trong xác định chính xác giai đoạn u và có thái độ điều trị thích hợp Kết quả hình ảnh trước mổ ở bệnh nhân ung thư thanh quản góp phần đánh giá sự xâm lấn dưới niêm và sự xâm lấn khoang trước sụn nắp hoặc cạnh thanh môn của khối u(17) Nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy thấp hơn của Bozkurt G(18) (86-93%), Han MW (62,5%) khả năng do chúng tôi chỉ xét về khía cạnh khối tổn thương đậm độ mô trong khoang, vì vậy không phát hiện các trường hợp xâm lấn rất sớm nhưng bù lại độ đặc hiệu cao hơn
So với nghiên cứu của Jaipuria, Ryu độ đặc hiệu của chúng tôi cao hơn có lẽ do khối u trong mẫu của tôi lớn hơn, dễ phát hiện hơn, bệnh nhân đến muộn hơn
Giai đoạn T
Độ nhạy và giá trị tiên đoán dương, nhìn chung, có giá trị tăng dần qua các giai đoạn Độ nhạy của các nghiên cứu với giai đoạn T2 là thấp nhất, khả năng vì tính chủ quan trong phân định ranh giới giữa các tầng thanh môn, tương đồng với nghiên cứu của Jaipuria Điều này cho thấy CLVT là phương tiện không dùng cho việc tầm soát u ở giai đoạn T2 (dễ nhầm qua giai đoạn T1 hoặc T3), đặc biệt phù hợp với tầm soát u khi đã
ở giai đoạn T3, T4 Độ đặc hiệu ở các giai đoạn đều cao, khả năng do số âm thật cao, phù hợp với vai trò xác định lại chẩn đoán sau khi bệnh nhân đã nội soi thanh quản
KẾT LUẬN
CLVT là phương tiện hình ảnh không xâm lấn, chính xác để phân giai đoạn T cho UTTQ với
độ đặc hiệu cao Dù độ nhạy của CLVT chưa cao, song nhìn chung CLVT vẫn có ý nghĩa lớn
Trang 6trong việc lựa chọn phương thức phẫu thuật cho
bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Peter SHC (2011) Head and neck imaging, Elsevier, pp
1905-2035
2 Trần Anh Bích, Phạm Hoài Nam (2014) Đối chiếu lâm sàng và
hình ảnh học (Ctscan) trong ung thư thanh quản Y học Thành
Phố Hồ Chí Minh, 18: 367-370
3 Atlanoglu S, Gurbuz MK, Acikalin M, Adapinar B, et al (2016)
Laryngeal cancer: Radiological staging by multislice computed
tomography and pathological correlation, Osmangazi J Med, 38:
25–33
4 Connor S (2007) Laryngeal cancer: How does the radiologist
help? Cancer Imaging, 7: 93-103
5 Zinreich SJ (2002) Imaging in Laryngeal cancer: computed
tomography, magnetic resonance imaging, positron emission
tomography Otolaryngologic Clinics North Am, 35:971-991
6 Forastiere AA, Ismaila N, Lewin JS, Nathan CA, et al (2018) Use
of larynxpreservation strategies in the treatment of laryngeal
cancer: American Society of Clinical Oncology Clinical Practice
Guideline Update J Clin Oncol, 36:1143–1169
7 Arora M, Thakker V, Sindhwani G, Bhatt J, et al (2018)
Pretherapeutic assessment by multidetector computed
tomography for thyroid cartilage invasion in laryngeal cancer: a
double-edged sword Indian J Med Paediatr Oncol, 39:196–202
8 Beitler JJ, Muller S, Grist WJ, Corey A, et al (2010) Prognostic
accuracy of CT findings for patients with laryngeal cancer
undergoing laryngectomy J Clin Oncol, 28:2318–2322
9 Dankbaar JW, Oosterbroek J, Jager EA, Jong HW, et al (2017)
Detection of cartilage invasion in laryngeal carcinoma with
dynamic contrast-enhanced CT Laryngoscope Investig
Otolaryngol 2:373-379
10 Han MW, Kim SA, Cho KJ, Lee JH, et al (2013) Diagnostic
accuracy of computed tomography findings for patients
undergoing salvage total laryngectomy Acta Otolaryngol,
133:620–625
11 Kashany SS, Malek M, Mazaher H (2008) The diagnostic accuracy of computed tomography in neoplastic invasion of the
laryngeal cartilage Iran J Radiol, 5:11–18
12 Koopmann M, Weiss D, Steiger M, Elges S, et al (2016) Thyroid
cartilage invasion in laryngeal and hypopharyngeal squamous
cell carcinoma treated with total laryngectomy Eur Arch
Otorhinolaryngol, 273:3789–3794
13 Ryu IS, Lee JH, Roh JL, Choi SH, et al (2014) Clinical implication
of computed tomography findings in patients with locally advanced squamous cell carcinoma of the larynx and
hypopharynx Eur Arch Otorhinolaryngol, 272:2939–2945
14 Zbaren P, Becker M, Lang H (1997) Staging of laryngeal cancer:
endoscopy, computed tomography and magnetic resonance
versus histopathology Eur Arch Otorhinolaryngol, 254
15 Jaipuria B, Dosemane D, Kamath PM, Screedharan S, et al
(2018) Staging of Laryngeal and Hypopharyngeal Cancer:
Computed Tomography versus Histopathology Iranian Journal
of Otorhinolaryngology, 30:4
16 Hartl DM, Landry G, Bidault F, Hans S, et al (2013) CT-scan
prediction of thyroid cartilage invasion for early laryngeal
squamous cell carcinoma Eur Arch Otorhinolaryngol, 270:287–
291
17 Becker M (2008 Imaging of the larynx and hypopharynx
European Journal of Radiology, 66:460-479
18 Bozkurt G (2017) Does CT help in predicting preepiglottic space
invasion in laryngeal carcinoma? Auris Nasus Larynx, 45:546–
552
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022