Áp xe cơ thắt lưng – chậu là tình trạng viêm và tạo ổ mủ trong cơ thắt lưng – chậu. áp xe cơ thắt lưng - chậu có triệu chứng không đặc trưng, dễ gây nhầm lẫn và có khả năng gây tử vong. Gần đây tần suất chẩn đoán được bệnh tăng nhờ kĩ thuật chụp cắt lớp vi tính. Bài viết trình bày mô tả đặc điểm hình ảnh của áp xe cơ thắt lưng - chậu trên chụp cắt lớp vi tính, khảo sát nguyên nhân của áp xe cơ thắt lưng - chậu.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA ÁP XE CƠ THẮT LƢNG – CHẬU TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH
Lâm Minh Khoa 1 , Võ Tấn Đức 1 , Nguyễn Thị Phương Loan 1 , Nguyễn Thị Minh Trang 1 ,
Nguyễn Quang Thái Dương 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Áp xe cơ thắt lưng – chậu (AXCTLC) là tình trạng viêm và tạo ổ mủ trong cơ thắt lưng –
chậu AXCTLC có triệu chứng không đặc trưng, dễ gây nhầm lẫn và có khả năng gây tử vong Gần đây tần suất
chẩn đoán được bệnh tăng nhờ kĩ thuật chụp cắt lớp vi tính (CCLVT)
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh của AXCTLC trên CCLVT, khảo sát nguyên nhân của AXCTLC
Đối tượng và phương pháp: Hình ảnh CCLVT của 31 bệnh nhân AXCTLC được thu nhận AXCTLC
được đánh giá bằng các đặc điểm: có ổ giảm đậm độ trong cơ thắt lưng – chậu, đậm độ chất trong áp xe, vị trí, số
lượng, kích thước, tăng quang viền, khí trong ổ áp xe, thâm nhiễm mỡ xung quanh, tổn thương đốt sống, đĩa đệm
lân cận và thông thương vào áp xe, ruột thừa viêm/ áp xe thông vào cơ thắt lưng – chậu, viêm túi thừa manh
tràng kế cận cơ thắt lưng - chậu, rò ruột non vào cơ thắt lưng – chậu , áp xe hậu môn thông thương cơ thắt lưng
- chậu, K đại trực tràng kế cận cơ thắt lưng – chậu, ngoại vật đậm độ bất thường trong cơ thắt lưng – chậu, tính
chất dịch dẫn lưu và nuôi cấy dịch áp xe
Kết quả: Đặc điểm hình ảnh ổ giảm đậm độ trong cơ thắt lưng – chậu, có thâm nhiễm mỡ xung quanh và
tăng quang viền trên CCLVT có thuốc tương phản gặp ở 100% bệnh nhân trong nghiên cứu Đậm độ trung bình
chất trong áp xe là 23,66 ± 8,12 HU Đa số bệnh nhân có áp xe một bên, đơn ổ Kích thước trung bình áp xe
109,35 ± 57,33 mm Khí hiện diện trong áp xe ở 19/31 bệnh nhân (61,3%) Về nguyên nhân áp xe, có 12/31 bệnh
nhân có AXCTLC nguyên phát (không có nguyên nhân), 19/31 bệnh nhân AXCTLC thứ phát, nguyên nhân
thường gặp là bệnh lý ống tiêu hóa (35,5%), viêm thân sống đĩa đệm (19,4%) Về đặc điểm vi sinh, có 22/31 mẫu
cấy dương tính, đa số AXCTLC nguyên phát do S aureus (5/9), AXCTLC thứ phát do E coli (8/15), đặc biệt
trong AXCTLC do bệnh lý ống tiêu hóa, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05)
Kết luận: AXCTLC thường có hình ảnh ổ giảm đậm độ trong cơ thắt lưng – chậu với thâm nhiễm mỡ xung
quanh, khí trong ổ áp xe và tăng quang viền trên CCLVT có thuốc tương phản AXCTLC thứ phát thường gặp
hơn và thường do bệnh lý ống tiêu hóa, với E coli là nguyên nhân vi sinh phổ biến
Từ khóa: cơ thắt lưng – chậu, áp xe cơ thắt lưng chậu
ABSTRACT
COMPUTED TOMOGRAPHY FEATURES AND CAUSES OF ILIOPSOAS ABSCESS
Lam Minh Khoa, Vo Tan Duc, Nguyen Thi Phuong Loan, Nguyen Thi Minh Trang, Nguyen Quang Thai Duong * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 125-131
Background: Iliopsoas abscess (IPA) is the collection of pus in the iliopsoas compartment The presenting
symptoms may be nonspecific and mimic other diagnoses, leading to delayed diagnosis and mortality The
prevalance of IPA has increased with the use of computed tomography
Objective: To describe CT features of iliopsoas abscess and to evaluate the etiology of iliopsoas abscess on CT
Method: CT images of 31 patients with diagnosed IPA were retrospectively reviewed We analyzed the
1 Bộ môn Chẩn đoán Hình ảnh Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2following CT findings: focal hypodense lesion within iliopsoas compartment, attenuation of abscess, location,
number, size, infiltration of surrounding fat, gas bubbles or air-fluid level and rim enhancement on CT with
contrast, infection from an adjacent structure (vertebral infection, appendicitis, diverticulitis,
gastrointestinal fistula, rectal abscess, colorectal cancer, foreign body within iliopsoas muscle) Drainage and
culture results were recorded
Results: With regard to the CT findings, focal hypodense lesion within iliopsoas compartment, infiltration of
surrounding fat and rim enhancement were identified in all our patients Most of our patients had unilateral,
focal abscess The mean diameter of abscesses was 109.35 ± 57.33 mm Mean attenuation of abscess was 23.66 ±
8.12 HU The presence of gas bubbles or air-fluid level was found in 19 patients (61.3%) 19 patients had
secondary IPAs due to identifiable causes No underlying causes were found in the other 12 Among the
secondary IPAs, 11 patients (35.5%) had abscesses secondary to gastrointestinal diseases, 6 patients (19.4%) had
IPAs by infection spreading from the spine Among 22 patients with a definitive microbial diagnosis, the
predominant etiological organisms in primary and secondary IPAs were S aureus (5/9 patients) and E coli (8/15
patients), respectively There were a statiscally significant correlation between secondary IPAs due to
gastrointestinal diseases with E coli as a pathogen (p <0.05)
Conclusion: CT findings of IPA include focal hypodense lesion within iliopsoas compartment,
infiltration of surrounding fat, gas bubbles or air-fluid levels and rim enhancement Secondary IPA was
more common and gastrointestinal diseases were the most frequent cause E coli was the main microbial
pathogens in secondary IPA
Keywords: psoas muscle, iliopsoas abscess
ĐẶT VẤN ĐỀ
[p xe cơ thắt lưng – chậu (AXCTLC) là tình
trạng viêm và tạo ổ mủ ở cơ thắt lưng – chậu(1)
Bệnh lý này có triệu chứng không đặc trưng,
không điển hình nên dễ gây nhầm lẫn trong
chẩn đoán và có khả năng gây tử vong(2) Trước
đây khi ngành Chẩn đoán hình ảnh chưa phát
triển, đa số bệnh nhân bệnh được chẩn đoán
bằng tử thiết, gần đây tần suất chẩn đoán bệnh
gia tăng nhờ sự phát triển của các kĩ thuật chẩn
đoán hình ảnh mới, đặc biệt là chụp cắt lớp vi
tính(3)
Trên thế giới, áp xe cơ thắt lưng – chậu đã
được Mynter mô tả lần đầu tiên vào năm 1881
Gần đây, tác giả Ricci MA vào năm 1986 đã khảo
sát đặc điểm dịch tễ, nguyên nhân, chẩn đoán và
điều trị AXCTLC ở 367 bệnh nhân tại Mỹ(4) Vào
năm 2009, tác giả Lopez VN nghiên cứu nguyên
nhân, tác nhân vi sinh và kết quả điều trị
AXCTLC ở 124 bệnh nhân từ 11 bệnh viện ở Tây
Ban Nha(5) Ở Việt Nam, tác giả Phùng Ngọc Hòa
thực hiện khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng và kết quả vi sinh AXCTLC ở 48 bệnh
nhân tại bệnh viện Việt Đức từ năm 2000 đến
2007(2) Thực tế trên lâm sàng chúng tôi nhận thấy đây là bệnh lý khá thường gặp, do nhiều nguyên nhân, chẩn đoán khó, dễ nhầm lẫn gây khó khăn cho công tác điều trị Chúng tôi chưa ghi nhận các báo cáo về vai trò của chụp cắt lớp
vi tính (CCLVT) trong chẩn đoán AXCTLC Vậy thì, đặc điểm hình ảnh trên CCLVT của AXCTLC như thế nào? AXCTLC thường do nguyên nhân nào?
Với các lý do trên, chúng tôi tiến hành chọn
đề tài “Khảo sát đặc điểm hình ảnh và nguyên nhân của áp xe cơ thắt lưng - chậu trên chụp cắt lớp vi tính” với các mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh của áp xe cơ thắt lưng - chậu trên CCLVT và khảo sát nguyên nhân của áp xe cơ thắt lưng - chậu
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân (BN) với chẩn đoán ra viện là AXCTLC, được CCLVT trước điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh và có điều
Trang 3trị dẫn lưu AXCTLC từ tháng 1 năm 2016 đến
hết tháng 12 năm 2020
Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân CCLVT bụng chậu sau khi
đã được điều trị bằng kháng sinh hoặc dẫn lưu
ổ áp xe
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu dùng phương pháp
thống kê mô tả
Cỡ mẫu
Chúng tôi thu thập được 31 trường hợp thỏa
tiêu chuẩn chọn mẫu để đưa vào phân tích
Kỹ thuật CCLVT
Máy CCLVT 64 hoặc 128 lát cắt (Light speed
VCT – GE, Somatom Definition – Siemens) ở
bệnh viện Đại học Y Dược, sử dụng chụp xoắn
ốc Bệnh nhân nằm ngửa, hai tay đặt hướng về
phía đầu Hướng dẫn cho bệnh nhân nín thở
trong thời gian thực hiện các lát cắt để tránh ảnh
giả do cử động Sử dụng thuốc tương phản tan
trong nước có chứa Iode nồng độ 300 mgI/ml
qua đường truyền tĩnh mạch, liều lượng 1,5 – 2
ml/kg, tốc độ bơm 2,5 ml/giây Bệnh nhân được
chụp thì không tiêm thuốc tương phản trước
Sau đó, chụp có tiêm thuốc tương phản, lấy thì
tĩnh mạch, tính từ khi bắt đầu bơm thuốc tương
phản đến lúc bắt đầu chụp khoảng 70 giây, khảo
sát từ hết đáy phổi đến đáy chậu Thông số tham
khảo: kV = 100 kV, mAs được điều chỉnh tự
động bằng chương trình CARE Dose 4D, độ dày
lát cắt 10 mm, độ mở đầu đèn 0,6 - 1,25 mm, thời
gian quay của bóng đèn 0,5 giây, độ di chuyển
bàn 1,2 - 1,4 mm/giây độ rộng cửa sổ 350 HU,
trung tâm cửa sổ 50 HU Thực hiện tái tạo lát cắt
mỏng 1 mm ở thì tĩnh mạch
Thu thập và xử lý số liệu
Quản lý và xử lý số liệu bằng phần mềm
SPSS 20 Các biến số định tính được mô tả bằng
tần số, tỉ lệ phần trăm Các biến số định lượng
được mô tả bằng trung bình và độ lệch chuẩn
Các tỉ lệ được so sánh bằng phép kiểm Chi bình
phương hoặc phép kiểm chính xác Fisher nếu có
1 giá trị <5 Các giá trị trung bình được so sánh bằng phép kiểm T – test, phép kiểm phi tham số Mann – Whitney Các thống kê được xem là
khác biệt có ý nghĩa khi p <0,05
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, số 969/HĐĐĐ-ĐHYD ngày
29/12/2020
KẾT QUẢ
Về tuổi và giới tính
Tuổi trung bình của bệnh nhân 53,2 ± 14,1 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi, lớn nhất 81 tuổi Bệnh nhân AXCTLC tập trung ở nhóm tuổi >50 tuổi, chiếm 64,5% Đa số bệnh nhân là nam giới, chiếm 61,3% (19 bệnh nhân), nữ chiếm 38,7% (12
bệnh nhân)
Về yếu tố nguy cơ
Đái tháo đường và bệnh lý ống tiêu hóa là hai yếu tố nguy cơ thường gặp nhất chiếm tỉ lệ
lần lượt là 29% và 22,6%
Về bạch cầu và chỉ số CRP
Có 29 bệnh nhân (93,5%) có tăng bạch cầu (>10 G/L) Chỉ số bạch cầu trung vị là 18,51 G/L, khoảng tứ phân vị từ 13,89 đến 23,8 G/L Chỉ có
25 bệnh nhân được xét nghiệm CRP, trong đó có
24 bệnh nhân (96%) có tăng CRP (>5 mg/L) -Giá trị CRP trung vị là 187,8 mg/L, khoảng tứ phân
vị từ 111,6 đến 296,25 mg/L
Về các đặc điểm hình ảnh trên CCLVT
Hình ảnh ổ giảm đậm độ trong cơ thắt lưng – chậu, tăng quang viền và thâm nhiễm mỡ
xung quanh: tất cả các bệnh nhân trong nghiên
cứu đều có các đặc điểm hình ảnh này
Đậm độ chất trong áp xe: Đa số bệnh nhân
có áp xe đậm độ >20 HU, chiếm 64,5% Đậm độ trung bình chất trong áp xe là 23,66 ± 8,12 HU,
nhỏ nhất 9,7 HU, lớn nhất 38 HU
Vị trí và số lượng áp xe: Phần lớn bệnh nhân
áp xe nằm ở 1 bên, trong đó bên phải nhiều hơn bên trái, lần lượt chiếm 64,5% và 25,8% Có 3
Trang 4bệnh nhân có áp xe ở cả 2 bên chiếm 9.7% Phần
lớn bệnh nhân có 1 ổ áp xe, chiếm 51,6%
Khí trong áp xe: đa số bệnh nhân có khí
trong ổ áp xe, với 19/31 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ
61,3%
Kích thước áp xe: kích thước trung bình của
áp xe trong 31 bệnh nhân được nghiên cứu là
109,35 ± 57,33 mm [p xe có kích thước nhỏ nhất
là 140 mm, lớn nhất là 260 mm Đa số áp xe có
kích thước lớn (>60 mm), với 25/31 bệnh nhân,
chiếm tỉ lệ 80,6%, chỉ có 1 bệnh nhân có áp xe
kích thước nhỏ (<20 mm)
Nguyên nhân của áp xe
Phần lớn bệnh nhân là AXCTLC thứ phát
với 19 bệnh nhân, chiếm 61,3%, AXCTLC
nguyên phát (không có nguyên nhân) có 12 bệnh
nhân, chiếm 38,7% Nguyên nhân thường gặp
nhất trong mẫu nghiên cứu là bệnh lý ống tiêu
hóa, chiếm 11/31 bệnh nhân, với tỉ lệ 35,5%, kế
tiếp là viêm thân sống đĩa đệm với 6/31 bệnh
nhân, tỉ lệ 19,4%
Bảng 1 Nguyên nhân của áp xe
Số BN N=31 Tỉ lệ %
Bệnh lý ống tiêu
hóa
Viêm túi thừa manh tràng 1 3,2
Dị vật trong cơ thắt lưng – chậu 2 6,5
Tuổi trung bình của bệnh nhân ở 2 nhóm
AXCTLC khác biệt có ý nghĩa thống kê, p=0,038
<0,05 Số lượng áp xe phân chia theo nguyên
nhân AXCTLC có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê, p=0,009 <0,05 Không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa tỉ lệ giới tính, đái tháo
đường, đậm độ chất trong áp xe, vị trí, kích
thước và khí trong áp xe với nguyên nhân
AXCTLC, p >0,05
Phân bố vi khuẩn gây bệnh
Tất cả các bệnh nhân đều được nuôi cấy vi
sinh mẫu dịch dẫn lưu từ ổ áp xe Có 22/31 mẫu
cấy dương tính, chiếm 71% Phần lớn AXCTLC
nguyên phát do vi khuẩn S aureus gây ra, sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p=0,078
E.coli là tác nhân thường gặp nhất trong
AXCTLC thứ phát, đặc biệt là trong bệnh lý ống tiêu hóa với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p=0,023
Bảng 2 Phân bố vi khuẩn gây bệnh theo nguyên nhân
Vi khuẩn Tổng số Nguyên
phát
Thứ phát
p
BL cột sống
BL ống tiêu hóa
BÀN LUẬN
Về tuổi và giới, chúng tôi ghi nhận độ tuổi trung bình của AXCTLC là 53,2 ± 14,1 tuổi, tỉ lệ nam là 61,3%, nữ 38,7% Những kết quả này tương tự với các nghiên cứu của Lopez VN, Baier PK, Yacoub WN và y văn(5,6,7) AXCTLC thường xảy ra ở độ tuổi >50 và ở nam giới
Về yếu tố nguy cơ, đái tháo đường yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh lý nhiễm trùng nói chung, AXCTLC nói riêng Bên cạnh đó, bệnh lý ống tiêu hóa thường gặp trong các nghiên cứu ở phương Tây là bệnh Crohn cũng là một yếu tố nguy cơ cho AXCTLC thứ phát Đái tháo đường
là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất trong nghiên cứu của Kim YJ, Asai N, Rodrigues J(8,9,10) Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả khá tương đồng với các tác giả quốc tế, có 29% bệnh nhân có đái tháo đường, 22,6% bệnh nhân có bệnh lý ống tiêu hóa
Về chỉ số bạch cầu và CRP, phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có tăng bạch cầu và CRP Điều này phù hợp với y văn và các nghiên cứu của Lopez VN, Lin MF và y văn(5,11) Nhìn chung, chỉ số bạch cầu và CRP là những chỉ số khá nhạy cho tình trạng nhiễm trùng, tuy nhiên nó không đặc hiệu cho bệnh lý AXCTLC
Về phân loại AXCTLC, AXCTLC được phân chia theo nguyên nhân thành 2 loại là AXCTLC nguyên phát và thứ phát Nghiên
Trang 5cứu của Ricci MA năm 1986 cho thấy AXCTLC
nguyên phát chiếm tỉ lệ lớn hơn đáng kể so với
AXCTLC thứ phát(4)
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương
đồng với những nghiên cứu sau Ricci MA của
các tác giả Lopez VN, Baier PK, Yacoub WN và
Kim YJ cho thấy AXCTLC nguyên phát ít gặp
hơn AXCTLC thứ phát(5,6,7,8) Đã có sự gia tăng rõ
ràng tỉ lệ của AXCTLC thứ phát ở các nghiên
cứu gần đây Điều này phản ánh sự thay đổi đặc
điểm dịch tễ của bệnh lý này Nguyên nhân của
sự thay đổi này có thể được giải thích bởi sự tiến
bộ đáng kể của các phương tiện chẩn đoán
AXCTLC, đặc biệt là việc sử dụng ngày càng
rộng rãi CCLVT, một phương tiện CĐHA có giá
trị gần như là “tiêu chuẩn vàng” để chẩn đoán
AXCTLC Nhờ có CCLVT, bác sĩ có thể xác định
được ổ nhiễm trùng lân cận gây ra AXCTLC thứ
phát, điều mà rất khó để chẩn đoán ra trong
những năm trước khi CCLVT ra đời, dẫn đến
việc hầu hết các trường hợp AXCTLC được xem
là nguyên phát Về nguyên nhân của AXCTLC
thứ phát, Trong nghiên cứu của chúng tôi và các
tác giả Ricci MA, Kim YJ và Tabrizian P, phần
lớn bệnh nhân AXCTLC thứ phát có nguyên
nhân từ bệnh lý ống tiêu hóa(4,8,12) Những bệnh
lý ống tiêu hóa gặp trong nghiên cứu của chúng
tôi là viêm ruột thừa, dò ruột non, viêm túi thừa,
áp xe hậu môn, K đại trực tràng Trong các
nghiên cứu của các tác giả phương Tây, bệnh lý
thường gặp là bệnh Crohn, viêm ruột thừa, viêm
đại tràng
Về đặc điểm hình ảnh, đặc điểm tiêu biểu
của một ổ áp xe nói chung, AXCTLC nói riêng
trên CCLVT là ổ giảm đậm độ nằm trong cơ thắt
lưng – chậu, thâm nhiễm mỡ xung quanh và
tăng quang viền ở CCLVT có thuốc tương phản
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 100% bệnh
nhân có hình ảnh ổ giảm đậm độ nằm trong cơ
thắt lưng – chậu, có thâm nhiễm mỡ xung quanh
và tăng quang viền ở CCLVT có thuốc tương
phản Kết quả này phù hợp với ghi nhận trong y
văn và giống với kết quả nghiên cứu của một số
tác giả như Zissin R, Wong OF(13,14) Những đặc
điểm này có độ nhạy khá cao nhưng không đặc hiệu để chẩn đoán AXCTLC Trong 31 bệnh nhân được nghiên cứu, đậm độ chất trong áp xe trung bình là 23,66 ± 8,12 HU, nhỏ nhất 9,7 HU, lớn nhất 38 HU Số bệnh nhân có AXCTLC có đậm độ >20 HU chiếm đa số (64,5%) Đậm độ trong áp xe cao hơn 20 HU chứng tỏ dịch trong các ổ áp xe trong nghiên cứu của chúng tôi khá đặc, chứa mủ, xác vi khuẩn và chứa nhiều protein Đậm độ chất trong áp xe có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với AXCTLC do viêm thân sống đĩa đệm, với p=0,013, OR=0,063 (KTC 95%: 0,006-0,652) (phép kiểm chính xác Fisher), không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với AXCTLC nguyên phát và do bệnh lý ống tiêu hóa Qua tìm hiểu y văn trong nước và thế giới, chúng tôi chưa ghi nhận được nghiên cứu nào đánh giá độ HU của AXCTLC trên CCLVT, cũng như mối liên quan giữa độ HU với nguyên nhân AXCTLC, nên đây có thể được coi là điểm mới của nghiên cứu Đa số áp xe trong nghiên cứu của chúng tôi nằm một bên, phần lớn nằm bên phải và đơn ổ Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Ricci MA, Baier PK(4,6) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
vị trí, số lượng áp xe với nguyên nhân AXCTLC
Khí trong ổ áp xe, dưới dạng mức khí – dịch hay bọt khí nhỏ, là một trong các dấu hiệu điển hình của AXCTLC trên CCLVT Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có khí trong áp
xe, có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa AXCTLC thứ phát do bệnh lý ống tiêu hóa và khí trong ổ áp xe, với p=0,02 <0,05 Có thể vì bệnh lý ống tiêu hóa chiếm tỉ lệ lớn nhất trong AXCTLC thứ phát nên chúng tôi ghi nhận nhiều bệnh nhân có khí trong áp xe Điều này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Zissin R(13) Kích thước áp xe trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 109,35 ± 57,33 mm Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kích thước trung bình áp xe trong 2 nhóm AXCTLC nguyên phát và thứ phát Khi chia kích thước áp xe thành 4 nhóm, chúng tôi ghi nhận phần lớn bệnh nhân (80,6%) có áp xe >60 mm Kết quả này
Trang 6tương tự nghiên cứu của Tabrizian với 39% bệnh
nhân(12) Điều này cho thấy bệnh nhân thường
vào viện khi khối áp xe đã lớn và bệnh có thể đã
diễn tiến lâu dài Do đó, việc chẩn đoán sớm
AXCTLC là một vấn đề cần đặt ra cho các bác sĩ
lâm sàng và bác sĩ CĐHA
Hình 1 AXCTLC phải, thứ phát do viêm đầu tận
ruột thừa vỡ Mũi tên: sỏi phân nằm trong ổ áp xe
(BN N.V.L, nam, 63 tuổi, AXCTLC thứ phát do viêm
ruột thừa vỡ N20-0170381)
Hình 2 AXCTLC hai bên, đa ổ (BN P.T.Đ, nữ, 66
tuổi, AXCTLC thứ phát do viêm thân sống đĩa đệm
N15-0036503)
Về đặc điểm vi sinh, tất cả các bệnh nhân
đều được nuôi cấy vi sinh mẫu dịch dẫn lưu từ ổ
áp xe Có 22/31 mẫu cấy dương tính, chiếm 71%
S aureus là loại vi khuẩn chủ đạo ở AXCTLC
nguyên phát, với tỉ lệ 55,5% (5/9) Kết quả này
tương đồng với y văn khi ghi nhận đa số
AXCTLC nguyên phát do S aureus và thường
gặp ở người trẻ không bệnh nền Ở AXCTLC thứ
phát do bệnh lý ống tiêu hóa, E coli là tác nhân
chính với 7/7 bệnh nhân, sự khác biệt có có ý
nghĩa thống kê, p=0,023 Kết quả này tương tự nghiên cứu của Ricci MA, Lopez VN và Yacoub
WN(4,5,7) Điều này phù hợp với y văn ghi nhận rằng đa số các áp xe vùng bụng có tác nhân là các vi khuẩn đường ruột Ngoài ra, đa số AXCTLC thứ phát trong nghiên cứu của chúng tôi là do bệnh lý ống tiêu hóa, góp phần tăng tỉ lệ
của E coli trong kết quả nuôi cấy vi sinh
KẾT LUẬN
Nghiên cứu ở 31 bệnh nhân ghi nhận đa số
có áp xe đơn ổ, một bên, đa số có khí trong áp xe
có liên quan AXCTLC do bệnh lý ống tiêu hóa
Phần lớn áp xe có kích thước lớn >60mm Các đặc điểm ổ giảm đậm độ trong cơ thắt lưng – chậu, tăng quang viền và thâm nhiễm mỡ xung quanh gặp ở 100% bệnh nhân AXCTLC Đây là những dấu hiệu nhạy giúp chẩn đoán AXCTLC
Đa số là AXCTLC thứ phát (61,3%), nguyên nhân AXCTLC thứ phát thường gặp là bệnh lý ống tiêu hóa (35,5%) Tác nhân vi sinh thường
gặp nhất là S aureus (7/22) và E coli (11/22) S
aureus thường gặp trong AXCTLC nguyên phát,
E coli thường gặp trong AXCTLC thứ phát do
bệnh lý ống tiêu hóa (p <0,05) Về liên quan giữa lâm sàng và hình ảnh, đái tháo đường là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất (29%), đa số bệnh nhân có tăng bạch cầu và CRP (>90%)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Mallick IH, Thoufeeq MH, Rajendran TP (2004) Iliopsoas
abscesses Postgraduate medical journal, 80(946):459-62
2 Phùng Ngọc Hòa, Trần Trung Dũng, Hồ Thanh Loan (2008)
Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả vi sinh bệnh
nhân áp xe cơ thắt lưng chậu Ngoại Khoa, Đại học Y dược TP
HCM, 58(2):25-31
3 Mückley T, Schütz T, Kirschner M, Potulski M, et al (2003) Psoas abscess: the spine as a primary source of infection Spine,
286(6):E106-113
4 Ricci MA, Rose FB, Meyer KK (1986) Pyogenic psoas abscess:
worldwide variations in etiology World Journal of Surgery,
10(5):834-43
5 Lopez VN, Ramos JM, Meseguer V, Perez Arellano JL et al
(2009) Microbiology and outcome of iliopsoas abscess in 124
patients Medicine (Baltimore), 88(2):120-130
6 Baier PK, Arampatzis K, Imdahl A, Hopt UT (2006) The
iliopsoas abscess: aetiology, therapy, and outcome Langenbeck Arch Surg, 391(4):411-7
7 Yacoub WN, Sohn HJ, Chan S, Petrosyan M, et al (2008) Psoas abscess rarely requires surgical intervention Am J Surg,
196(2):223-7
Trang 78 Kim YJ, Yoon JH, Kim SI, Wie SH, et al (2013) Etiology and
outcome of iliopsoas muscle abscess in Korea; changes over a
decade Int J Surg, 11(10):1056-9
9 Asai N, Ohkuni Y Yamazaki I Kawamura Y, et al (2013)
Clinical manifestations and prognostic factor of iliopsoas
abscess J Glob Infect Dis., 5(3):98-103
10 Rodrigues J, Iyyadurai R, Sathyendra S, Jagannati M et al (2017)
Clinical presentation, etiology, management, and outcomes of
iliopsoas abscess from a tertiary care center in South India
Journal of family medicine and primary care, 6(4):836-9
11 Lin MF, Lau YZ, Hu BS (1999) Pyogenic psoas abscess: analysis
of 27 cases J Microbiol Immunol Infect, 32(4):261-8
12 Tabrizian P, Nguyen SQ, Greenstein A, Rajhbeharrysingh U, et
al (2009) Management and treatment of iliopsoas abscess Arch
Surg, 144(10):946-9
13 Zissin R, Gayer G, Kots E, Werner M, et al (2001) Iliopsoas abscess: a report of 24 patients diagnosed by CT Abdominal Imaging, 26(3): 533-39
14 Wong OF, Ho PL, et al (2013) Retrospective review of clinical
presentations, microbiology, and outcomes of patients with
psoas abscess Hong Kong Med J, 19(5):416-23
Ngày nhận bài báo: 13/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022