Bài viết trình bày khảo sát đặc điểm hình ảnh siêu âm các khối u tinh hoàn ở trẻ em được phẫu thuật và giá trị của siêu âm u tinh hoàn gợi ý lành tính và ác tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca, bệnh nhi có siêu âm chẩn đoán u tinh hoàn được can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Trang 1VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN U TINH HOÀN Ở TRẺ EM
Lê Vũ Minh 1 , Nguyễn Thị Thùy Linh 1 , Lâm Thanh Ngọc 1 , Võ Thị Thúy Hằng 1 , Nguyễn Hữu Chí 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: U tinh hoàn tương đối hiếm chỉ 1% trong tổng số bệnh ung thư ở nam giới và tần suất ở trẻ
em 0,5-2 trường hợp/100000 trẻ Ở trẻ em, triệu chứng thường gặp sưng vùng bìu và siêu âm là phương tiện
chẩn đoán hình ảnh được chỉ định đầu tiên trong bước đầu chẩn đoán và xác định tổn thương trong và ngoài tinh
hoàn Những đặc điểm siêu âm của tổn thương có thể gợi ý bản chất và mức độ lành hay ác tính của u tinh hoàn
không? Đó là lý do chúng tôi thực hiện đề tài này
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm hình ảnh siêu âm các khối u tinh hoàn ở trẻ em được phẫu thuật và giá trị của
siêu âm u tinh hoàn gợi ý lành tính và ác tính
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca, bệnh nhi có siêu âm chẩn đoán u tinh hoàn được
can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1
Kết quả: Từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2021, chúng tôi có 62 bệnh nhân u tinh hoàn được đưa vào lô
nghiên cứu Tuổi trung bình 39,84 ± 38,35 tháng Tuổi nhỏ nhất là 2 tháng và lớn nhất là 151 tháng Nhóm tuổi
<1 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất 48,4% Lý do vào viện cao nhất là phát hiện khối ở bìu chiếm 71,0% Bìu to chiếm
tỷ lệ cao 69,4% Tỷ lệ các loại u thường gặp: u túi noãn hoàng chiếm 40,3%, u quái 30,6%, nang thượng bì
16,1%, u tế bào Leydig 3,2%, u tế bào Sertoli 1,6%, Lymphoma 1,6%, các loại khác 6,5% Các dấu hiệu siêu âm
ghi nhận: khối u giới hạn ở tinh hoàn với 61 trường hợp, chiếm 98,4%, độ hồi âm hỗn hợp 34 trường hợp
(54,8%), thành phần nang 31 trường hợp (50%), nốt vôi hóa với 31 trường hợp (50%), dấu hiệu tăng tưới máu
khối u chiếm 56,9% So sánh kết quả siêu âm và giải phẫu bệnh chúng tôi ghi nhận: Giá trị chẩn đoán của siêu
âm ở mức tốt để phát hiện khối u quái, độ nhạy 100% (KTC 95%: 82,3- 100%), độ đặc hiệu 72% (KTC95%:
56,33-84,67%) Trong chẩn đoán khối u túi noãn hoàng ở mức rất tốt, có độ nhạy 92% (KTC 95%:
73,97-99,02%), độ đặc hiệu 94,59% (KTC95%: 81,81-99,34%)
Kết luận: U tinh hoàn là một bệnh lý hiếm gặp ở trẻ em, trẻ em bị u tinh hoàn có tỷ lệ sống sót lâu dài rất tốt
sau khi được điều trị thích hợp nên việc chẩn đoán chính xác rất quan trọng Siêu âm là biện pháp hữu hiệu để
xác định những khối u tinh hoàn Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí, nhận diện và đánh
giá tổn thương, mô tả đặc điểm của một khối u qua đó xác định nguồn gốc, mức độ ác tính, xâm lấn góp phần
giúp ích cho quá trình điều trị
Từ khóa: khối u tinh hoàn, khối u túi noãn hoàng, u quái, siêu âm
ABSTRACT
ROLE OF ULTRASOUND IN THE DIAGNOSIS OF TESTICULAR TUMORS IN PEDIATRICS
Le Vu Minh, Nguyen Thi Thuy Linh, Lam Thanh Ngoc, Vo Thi Thuy Hang, Nguyen Huu Chi
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 119 - 124
Background: Testicular tumors are relatively rare, only 1% of all cancers in men and the frequency in
children is 0.5-2 cases/100000 boys In children, swelling of the scrotum is common, and ultrasound is the first
indication for imaging in the initial diagnosis and identification of intra- and extra-testicular lesions Can the
sonographic features of the lesion suggest the nature and extent of benign or malignant testicular tumor? That's
1 BM Chẩn đoán hình ảnh Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Bệnh viện Nhi đồng 1
Tác giả liên lạc: BS Lê Vũ Minh ĐT: 0907548204 Email: Drlevuminh@gmail.com
Trang 2why we made this topic
Objectives: To investigate the ultrasound imaging characteristics of testicular tumors in children
undergoing surgery and the value of ultrasonography of testicular tumors suggesting benign and malignant
Methods: case series report, pediatric patients with ultrasound diagnosis of testicular tumors underwent
surgical intervention at Children's Hospital 1
Results: From January 2016 to May 2021, we had 62 testicular tumor patients included in the study group
The mean age was 39.84 ± 38.35 months The youngest age was 2 months and the oldest was 151 months The
age group <1 year old accounted for the largest proportion, 48.4% The main reason for admission was the
detection of a scrotal mass, accounting for 71.0% Large scrotum accounted for a high rate of 69.4% Rate of
common tumors: yolk sac tumor 40.3%, teratoma 30.6%, epidermoid cyst 16.1%, Leydig cell tumor 3.2%, Sertoli
cell tumor 1.6%, Lymphoma 1.6%, others 6.5% Ultrasound findings: tumor limited to testis in 61 cases,
accounting for 98.4%, mixed echogenicity in 34 cases (54.8%), cystic component in 31 cases (50%), calcified
nodules with 31 cases (50%), signs of increased tumor perfusion accounted for 56.9% Comparing the results of
ultrasound and histopathology, we noted: The diagnostic value of ultrasound is good for detecting teratomas,
sensitivity is 100% (95% CI: 82.3- 100%), specificity 72% (CI 95%: 56.33-84.67%) Ultrasound is a very good
diagnostic tool for yolk sac tumors, with a sensitivity of 92% (CI 95%: 73.97-99.02%), specificity of 94, 59% (CI
95%: 81.81-99.34%)
Conclusion: Testicular tumor is a rare disease in children, children with testicular tumor have very good
long-term survival rates after appropriate treatment, so accurate diagnosis is very important Ultrasound is an
effective way to identify testicular tumors It plays an important role in locating, identifying and evaluating
lesions, characterizing a tumor, thereby determining the origin, degree of malignancy, invasion, contributing to
the process of treatment
Keywords: testicular tumor, yolk sac tumor, teratoma, ultrasound
ĐẶT VẤN ĐỀ
U tinh hoàn tương đối hiếm chỉ 1% trong
tổng số bệnh ung thư ở nam giới và tần suất ở
trẻ em 0,5-2 trường hợp/100000 trẻ(1) Ở trẻ em,
triệu chứng thường gặp sưng vùng bìu và siêu
âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh được chỉ
định đầu tiên trong bước đầu chẩn đoán và xác
định tổn thương trong và ngoài tinh hoàn
Những đặc điểm siêu âm của tổn thương có thể
gợi ý bản chất và mức độ lành hay ác tính của u
tinh hoàn không? Đó là lý do chúng tôi thực hiện
đề tài này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhi có siêu âm chẩn đoán u tinh hoàn
được can thiệp phẫu thuật tại bệnh viện Nhi
đồng 1
Tiêu chí chọn
Tuổi: ≤15 Được siêu âm tại bệnh viện Nhi
Đồng 1 Được phẫu thuật Kết quả siêu âm mô tả
đủ các đặc điểm cần nghiên cứu và có kết quả giải phẫu bệnh (GPB) sau phẫu thuật
Tiêu chí loại trừ
Bệnh nhi đã mổ tinh hoàn 1 bên trước đó
Thân nhân từ chối tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Báo cáo loạt ca
Phương tiện nghiên cứu
Máy siêu âm Siemens, đầu dò phẳng, tần số 7,5-13MHz, có sử dụng doppler màu
Biến số nghiên cứu
Vị trí phát hiện tổn thương ở trong tinh hoàn, cạnh tinh hoàn hay ngoài tinh hoàn
Ở tinh hoàn bên trái, bên phải hay cả hai bên
Đường kính lớn nhất của tổn thương được xem là chiều dài, đường kính vuông góc với
Trang 3chiều dài là chiều ngang, tính bằng mm
Khối u dược xem là chiếm toàn bộ tinh hoàn
khi không thấy hoặc không xác định được mô
tinh hoàn bình thường trên siêu âm
Độ hồi âm so với mô tinh hoàn bình
thường: kém, đồng âm, dày, hỗn hợp (phản
âm không đồng nhất, kết hợp nhiều hơn một
kiểu phản âm)
Dịch phản âm trống, tăng âm phía sau Dịch
không thuần nhất (dịch mủ hoại tử, máu ) có
phản âm kém, không đồng nhất, có hồi âm mịn
hoặc fibrin, tăng âm nhẹ phía sau
Vi vôi: phản âm dày, kích thước dạng điểm
hoặc chấm, không bóng lưng
Đóng vôi mảng: đóng vôi ở trung tâm hoặc
ngoại vi, phản âm dày, có thể có bóng lưng
Tăng tưới máu khi xuất hiện phổ mạch máu
động mạch ở ngoại vi
Tràn dịch tinh mạc là tình trạng dịch tích tụ
quá nhiều trong bìu
Dịch tập trung thành túi bên cạnh tinh hoàn
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng
Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh viện
Nhi Đồng 1, số: 464/GCN-BVNĐ1 ký ngày
22/10/2020
KẾT QUẢ
Từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2021, chúng
tôi có 62 bệnh nhân (BN) u tinh hoàn được đưa
vào lô nghiên cứu
Tuổi trung bình 39,84 ± 38,35 tháng Tuổi
nhỏ nhất là 2 tháng và lớn nhất là 151 tháng
Nhóm tuổi <1 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất 48,4%
Lý do vào viện cao nhất là phát hiện khối ở
bìu chiếm 71,0% Bìu to chiếm tỷ lệ cao 69,4%
Trên giải phẫu bệnh, u túi noãn hoàng có tỷ
lệ cao nhất 40,3% (Bảng 1)
Khối u giới hạn ở tinh hoàn với 61 trường
hợp, chiếm 98,4%, độ hồi âm hỗn hợp 34 trường
hợp (54,8%), thành phần nang 31 trường hợp
(50%), nốt vôi hóa với 31 trường hợp (50%), dấu
hiệu tăng tưới máu khối u chiếm 56,9% (Bảng 2)
Bảng 1: Kết quả siêu âm và giải phẫu bệnh (N=62)
Kết quả Siêu âm Gỉải phẫu bệnh
Bảng 2: Các dấu hiệu siêu âm ghi nhận
Đặc điểm trên siêu âm N Tỷ lệ (%)
Độ hồi âm
Bảng 3: Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u quái
Giá trị chẩn đoán Giá trị
(%)
Khoảng tin cậy (95%)
Bảng 4: Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u túi
noãn hoàng
Giá trị chẩn đoán Giá trị
(%)
Khoảng tin cậy (95%)
Giá trị chẩn đoán của siêu âm ở mức tốt để phát hiện khối u quái, độ nhạy 100% (KTC 95%:
82,35-100%), độ đặc hiệu 72,09% (KTC95%:
Trang 456,33-84,67%) (Bảng 3)
Giá trị chẩn đoán khối u túi noãn hoàng ở
mức rất tốt, có độ nhạy 92% (KTC 95%:
73,97-99,02%), độ đặc hiệu 94,59% (KTC95%:
81,81-99,34%) (Bảng 4)
BÀN LUẬN
Tuổi trung bình của các BN trong nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn trong các nghiên cứu
của Wu D(9), Wang X(11), Chen YS(4) và thấp hơn
các nghiên cứu của các tác giả: Ciftci AO(5),
Caballero FJ(6) Nhóm tuổi gặp nhiều nhất trong
nghiên cứu của chúng tôi là nhóm nhũ nhi dưới
1 tuổi Tuổi phát hiện thấp chứng tỏ bệnh ngày
càng được phát hiện sớm nhờ các phương tiện
chẩn đoán như siêu âm và sự chú ý của gia đình
đối với sự thay đổi của trẻ
Lý do vào viện cao nhất là phát hiện khối ở
bìu chiếm 71,0% Bìu to chiếm tỷ lệ cao 69,4%
Kết quả này tương tự với nghiên cứu của các tác
giả khác: Wang X(11), Schmitz K(7), Baik K(8)
Chúng tôi nhận thấy hiện lâm sàng của các bệnh
nhi u tinh hoàn ở Việt Nam tương tự các nước
khác trên thế giới Bệnh nhi có bìu to, có thể sờ
thấy khối không đau Riêng đặc biệt với u tế bào
Leydig biểu hiện phổ biến nhất là với dậy thì
sớm Với các biểu hiện xuất hiện lông mu liên
quan đến sự gia tăng chiều dài dương vật, tăng
sắc tố bìu, thay đổi mùi cơ thể và tuổi xương
tăng Đối với các trường hợp có nữ hóa tuyến vú
nên nghĩ đến u tế bào Sertoli
Kết quả siêu âm và giải phẫu bệnh
Trên giải phẫu bệnh chúng tôi nhận thấy U
túi noãn hoàng có tỷ lệ cao nhất 40,3% Kế đến là
u quái (30,6%), u thượng bì (16,1%), các loại u
còn lại chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là u tế bào
Leydig (3,2%), Sertoli (1,6%), lymphoma (1,6%)
Kết quả của chúng tôi gần tương tự với kết
quả của Jimenez-Isabel MA, có sự chênh lệch về
tỷ lệ của u quái so với kết quả của các tác giả
Nistal M, tác giả Wang X, tác giả Wu D(9) Sự
khác biệt này có thể do đặc điểm dân số Có sự
trùng lấp của u quái va nang thượng bì Sự trùng
lặp này đã được nhiều tác giả trên thế giới ghi
nhận: Maizlin ZV(10), Reinberg Y(11) Các tác giả này nhân xét nhận xét hình ảnh siêu âm không đặc hiệu để chẩn đoán u nang bì Theo chúng tôi
cả hai loại u này đều có hồi âm hỗn hợp, có vôi hóa Tuy nhiên nang thượng bì và u quái đều là các u lành tính, không hưởng đến phương pháp điều trị Qua kết quả giải phẫu bệnh khi so sánh với kết quả siêu âm ta thấy tỷ lệ các trường hợp
u túi noãn hoàng, u tế bào Leydig, u tế bào Sertoli được chẩn đoán chính xác trên siêu âm rất cao Không có trường hợp chẩn đoán nhầm hay bỏ sót Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong qua trình giúp lâm sàng xác định hướng điều trị và phương pháp phẫu thuật cho bệnh nhân Nhất là u túi noãn hoàng, đây là một loại
u có độ ác cao do đó cần được chẩn đoán chính xác Trên lâm sàng các biểu hiện triệu chứng thường không có tính đặc hiệu cao, khó có thể chuẩn đoán chính xác, chủ yếu dựa vào siêu âm
và AFP Tuy nhiên ở những trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi AFP thường cao Do đó vai trò của siêu âm đặc biệt quan trọng Với những đặc điểm: một khối phản âm kém, chiếm gần hết toàn bộ tinh hoàn trên siêu âm là những đặc điểm quan trọng chẩn đoán một tổn thương ở tinh hoàn là u túi noãn hoàng Đồng thời trong quá trình siêu âm cũng cần tham thảo các xét nghiệm khác nếu có nhất là AFP và LDH
Đặc điểm siêu âm
Chúng tôi nhận thấy đặc điểm siêu âm hay gặp nhất là khối u giới hạn ở tinh hoàn với 61 trường hợp, chiếm 98,4% Các đặc điểm khác cũng hay gặp như tăng tưới máu với 35 trường hợp (56,9%), độ hồi âm hỗn hợp 34 trường hợp (54,8%), thành phần nang hoặc dịch 31 trường hợp (50%), nốt vôi hóa với 31 trường hợp (50%)
Qua kết quả này chúng tôi nghĩ các khối u giới hạn ở tinh hoàn và mào tinh hoàn chiếm tỷ
lệ cao do bản chất của khối u và các bệnh nhi được chẩn đoán và điều trị sớm Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng điều trị
và tiên lượng cho các bé
Trong nghiên cứu của chúng tôi các u đa phần là hồi âm hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao nhất
Trang 554,8%, sau đó là độ hồi âm kém 40,3%, hồi âm
dày chiếm tỷ lệ ít 4,8%, không có trường hợp nào
đồng hồi âm Tỷ lệ này theo chúng tôi các
trường hợp hồi âm hỗn hợp đa phần là các
teratoma và u nang thượng bì tinh hoàn Các
trường hợp này đa số lành tính Riêng các
trường hợp hồi âm kém đa số là do u túi noãn
hoàng Qua đó ta thấy khi ghi nhận một khối u ở
tinh hoàn có hồi âm hỗn hợp ta cần nghĩ đến
teratoma và nang thượng bì tinh hoàn Đặc biệt
khi một khối u có hồi âm kém ta nên nghĩ đến u
túi noãn hoàn kết hợp với các đặc điểm khác
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ không có thành
phần nang hoặc dịch trong tổn thương ngang
bằng tỷ lệ không có thành phần nang hoặc dịch
(50%) 50% khối u có vôi hóa, 50% không có vôi
hóa Đây là hai đặc của Teratoma tinh hoàn, u
nang thượng bì tinh hoàn
Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u quái
Hình 1: U quái trưởng thành (BN P.P.H, 13 tháng
tuổi, SHS:560535/18 siêu âm và phẫu thuật tại bệnh
viện Nhi đồng 1)
Giá trị chuẩn đoán của siêu âm ở mức tốt để
phát hiện khối u quái Với độ nhạy tuyệt đối
100% do đó không bỏ sót các khối u quái, tuy
nhiên độ đặc hiệu chỉ có 72% nguyên nhân do có
sự trùng lấp của u quái va nang thượng bì Sự
trùng lặp này đã được nhiều tác giả trên thế giới
ghi nhận: Maizlin ZV ghi nhận có sự trùng lặp
đáng kể về sự xuất hiện trên siêu âm của u quái
và u nang biểu bì của tinh hoàn(10) Tác giả
Reinberg Y cũng nhận xét hình ảnh siêu âm
không đặc hiệu để chẩn đoán u nang bì(11) Theo
chúng tôi cả hai loại u này đều có hồi âm hỗn hợp, có vôi hóa Tuy nhiên nang thượng bì và u quái đều là các u lành tính, không hưởng đến phương pháp điều trị
Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u túi noãn hoàng
Siêu âm là một phương tiện chuẩn đoán rất tốt các khối u túi noãn hoàng với độ nhạy (92%)
và độ đặc hiệu (94,59%) Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì u túi noãn hoàng là một loại u có
xu hướng ác tính cần được điều trị sớm và cắt trọn tinh hoàn Trên lâm sàng các biểu hiện triệu chứng thường không có tính đặc hiệu cao, khó
có thể chuẩn đoán chính xác, chủ yếu dựa vào siêu âm và AFP Tuy nhiên ở những trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi AFP thường cao Do dó vai trò của siêu âm đặc biệt quan trọng
Hình 2 U túi noãn hoàng (BN N.T.P, 5 tuổi,
SHS:1778/20 siêu âm và phẫu thuật tại bệnh viện
Nhi đồng 1)
KẾT LUẬN
U tinh hoàn là một bệnh lý hiếm gặp ở trẻ
em, trẻ em bị u tinh hoàn có tỷ lệ sống sót lâu dài rất tốt sau khi được điều trị thích hợp nên việc chẩn đoán chính xác rất quan trọng Siêu âm là phương tiện hữu hiệu để xác định những khối u tinh hoàn Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí, nhận diện và đánh giá tổn thương, mô tả đặc điểm của một khối u qua đó gợi ý nguồn gốc, mức độ ác tính, xâm lấn góp phần giúp ích cho quá trình điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nistal M (2016) Perspectives in Pediatric Pathology, Chapter 25
Testicular and Paratesticular Tumors in the Pediatric Age
Group Pediatr Dev Pathol, 19(6):471-492
Trang 62 Wu D, Shen N (2018) Prepubertal testicular tumors in China: a
10-year experience with 67 cases Pediatr Surg Int,
34(12):1339-1343
3 Wang X (2012) Prepubertal testicular and paratesticular tumors
in China: a single-center experience over a 10-year period J
Pediatr Surg, 47(8):1576-80
4 Chen YS (2008) Prepubertal testicular germ cell tumors: 25-year
experience in Taipei Veterans General Hospital J Chin Med
Assoc, 71(7):357-61
5 Ciftci AO (2001) Testicular tumors in children J Pediatr Surg,
36(12):1796-801
6 Caballero FJ (2013) Testicular and paratesticular tumors during
childhood and adolescence An Pediatr, 78(1):6-13
7 Schmitz K (2014) The large pediatric scrotum: ultrasound
technique and differential considerations Ultrasound Q,
30(2):119-34
8 Baik K (2013) Prepubertal Testicular Tumors in Korea: A Single
Surgeon's Experience of More Than 20 Years Korean J Urol,
54(6):399-403
9 Brosman SA (1979) Testicular tumors in prepubertal children
Urology, 13(6):581-588
10 Maizlin ZV (2005) Epidermoid cyst and teratoma of the testis:
sonographic and histologic similarities J Ultrasound Med,
24(10):1403-1410
11 Reinberg Y (1990) Epidermoid cyst (monodermal teratoma) of
the testis Br J Urol, 66(6):648-51
Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022