1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc

8 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định giá trị của cộng hưởng từ thường quy, cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc tương phản trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ KHUẾCH TÁN

VÀ ĐỘNG HỌC BẮT THUỐC TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

U BUỒNG TRỨNG LÀNH VÀ ÁC TÍNH CÓ THÀNH PHẦN MÔ ĐẶC

Võ Thanh Sương1

, Huỳnh Phượng Hải1

, Lâm Thanh Ngọc 1 , Phạm Ngọc Hoa 2 , La Hồng Châu 3

TÓM TẮT

Mục tiêu X{c định giá trị của cộng hưởng từ thường quy, cộng hưởng từ khuếch t{n v| động học bắt thuốc

tương phản trong chẩn đo{n ph}n biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc

Đối tượng - Phương pháp Phân tích hình ảnh cộng hưởng từ 208 khối u buồng trứng có mô đặc, gồm 63

u lành và 145 u ác Khảo s{t c{c đặc điểm: kích thước u, kích thước mô đặc, tín hiệu mô đặc trên T2W, mức độ

bắt thuốc tương phản so với cơ tử cung, dịch ổ bụng, hạch lớn, di căn phúc mạc, xâm lấn xung quanh, tín hiệu

mô đặc trên DW, giá trị ADC, loại đường cong bắt thuốc, so sánh giữa nhóm u lành và u ác

Kết quả Không có sự khác biệt về tuổi, mức độ bắt thuốc tương phản so với cơ tử cung, tình trạng dịch ổ

bụng giữa u l|nh v| u {c C{c đặc điểm kích thước u ≥9,4 cm, kích thước mô đặc ≥24,5 mm gợi ý u {c tính, độ

nhạy 61,4% – 86,2%, độ đặc hiệu 60,3% – 41,4% Hạch lớn, di căn phúc mạc, xâm lấn xung quanh l| c{c đặc

điểm chẩn đo{n {c tính có độ đặc hiệu 100%, độ nhạy 6,2% – 18,6% Tín hiệu mô đặc cao trên T2W, tín hiệu mô

đặc cao trên DW, giá trị ADC < 1,19 x10 -3 mm²/s chẩn đo{n u {c tính đạt độ nhạy, độ đặc hiệu tương ứng 80%;

89%; 93,8% và 81%; 87,3%; 47,6% Kết hợp tín hiệu mô đặc cao trên DW và giá trị ADC <1,19 x 10 -3 mm²/s

chẩn đo{n u {c tính đạt độ nhạy 86,2%, độ đặc hiệu 92,1% Kết hợp cộng hưởng từ khuếch tán thêm vào cộng

hưởng từ thường quy giúp tăng độ đặc hiệu lên đến 98,4% so với 81% khi chỉ dùng cộng hưởng từ thường quy,

độ nhạy giảm từ 80% xuống còn 70,3% Đường cong bắt thuốc loại 2, 3 chẩn đo{n u {c tính có độ nhạy 95,9%,

độ đặc hiệu 58,7% Kết hợp đường cong bắt thuốc với cộng hưởng từ thường quy làm tăng độ đặc hiệu từ 81%

lên 84,4%, độ nhạy giảm từ 80% xuống 77,9%

Kết luận Cộng hưởng từ khuếch t{n l|m tăng độ đặc hiệu trong chẩn đo{n u {c tính, giúp củng cố giá trị

của cộng hưởng từ trong ph}n định khối u buồng trứng lành – {c Đường cong bắt thuốc tương phản không thay

đổi đ{ng kể giá trị chẩn đo{n của cộng hưởng từ thường quy

Từ khóa: u buồng trứng, cộng hưởng từ khuếch t{n, động học bắt thuốc tương phản

ABSTRACT

THE DIFFERENTIATION OF BENIGN AND MALIGNANT OVARIAN TUMORS WITH SOLID TISSUE

Vo Thanh Suong, Huynh Phuong Hai, Lam Thanh Ngoc, Pham Ngoc Hoa, La Hong Chau

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 98-105

Objective To identify the value of conventional magnetic resonance imaging (MRI), diffusion weighted

imaging (DWI) and dynamic contrast enhanced (DCE) in the differentiation of benign and malignant ovarian

tumors with solid tissue

Methods We analyzed MRI data of 208 ovarian tumors with solid tissue (benign 63 and malignant

145) The tumor size, solid tissue size, signal intensity of solid tissue on T2WI, enhancement relative to

myometrium, abdominal fluid, node, peritoneal metastasis, invasion, signal intensity of solid tissue on DWI,

1 Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh, ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh

2 Hội Chẩn đoán hình ảnh TP Hồ Chí Minh 3 Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ

Tác giả liên lạc: BS Võ Thanh Sương ĐT: 0796771218 Email: vothanhsuong94@gmail.com

Trang 2

mean ADC value and type of time intensity curve (TIC) were evaluated and compared between benign and

malignant ovarian tumors

Results There was no statistically significant difference between malignant and benign tumors in patient

age, enhancement relative to myometrium, abdominal fluid A tumor size ≥9.4 cm or solid tissue size ≥24.5 mm

had a sensitivity of 61.4% – 86.2% and a specificity of 60.3% – 41.4% for predicting malignant tumors The

node, peritoneal metastasis or invasion had a specificity of 100% and a sensitivity of 6.2% – 18.6% for predicting

malignant tumors The high T2W signal intensity of solid tissue, high DW signal intensity of solid tissue, mean

ADC value <1.19 x 10 -3 mm²/s had a sensitivity and a specificity of 80%; 89%; 93.8% and 81%; 87.3%; 47.6%

for predicting malignant tumors, respectively The sensitivity and specificity of high DW signal intensity of solid

tissue and mean ADC value <1.19 x 10 -3 mm²/s combined was 86.2% and 92.1% for predicting malignant

tumors, respectively The specificity of conventional and DW imaging combined was higher than that of

conventional MRI alone (98.4% versus 81%), while the sensitivity was lower (70.3% versus 80%) If type 2 and

3 TIC indicated a malignant tumor, it would generate a sensitivity of 95.9%, a specificity of 58.7% The

specificity of conventional and TIC type combined was higher than that of conventional MRI alone (84.4%,

versus 81%), while the sensitivity was lower (77.9% versus 80%)

Conclusion The addition of DWI to a conventional MRI improved the diagnostic specificity in the

characterization of ovarian tumors with solid tissue The TIC type did not change the value of conventional MRI

in differentiating between malignant and benign tumors

Keywords: ovarian tumors, diffusion weighted imaging, dynamic contrast- enhanced

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư buồng trứng đứng hàng thứ tám

trong các ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ,

đứng hàng thứ ba trong số ung thư phụ khoa,

hầu như không có triệu chứng(1) Chẩn đoán xác

định ung thư buồng trứng dựa vào mô bệnh học

sau phẫu thuật Tuy nhiên dự đoán chính xác

mức độ lành tính hay ác tính có ý nghĩa quan

trọng trong lựa chọn phương thức điều trị, giúp

tránh được cuộc phẫu thuật không cần thiết, đặc

biệt ở những phụ nữ mong muốn bảo tồn chức

năng sinh sản

Hiện nay, chẩn đoán u buồng trứng phần

lớn dựa trên siêu âm, với các mô hình dự đoán

độ ác tính được áp dụng rộng rãi nhưng phụ

thuộc người làm, trường khảo sát nhỏ và nhiều

trường hợp không thể phân định được Cộng

hưởng từ (CHT) với hình ảnh đa thông số, là

một trong những phương thức chẩn đoán được

sử dụng rộng rãi hiện nay, giúp khắc phục

những hạn chế của siêu âm CHT khuếch tán là

kỹ thuật không xâm lấn, với thông số định

lượng ADC, biểu thị khả năng dịch chuyển tự do

của phân tử nước trong vùng tổn thương, những

vị trí có mật độ tế bào cao cho giá trị ADC thấp

Nhìn chung, những tổn thương ác tính có mật

độ tế bào cao hơn tổn thương lành tính, do đó giá trị ADC có thể được sử dụng để phân biệt tổn thương lành và ác tính(9) Phần mô đặc trong khối u buồng trứng lành và ác tính có đặc điểm

vi mạch khác nhau, u ác tính tăng sinh mạch máu với thành mạch kém bền vững và tăng tính thấm Động học bắt thuốc là kỹ thuật đánh giá tính chất rò rỉ chất tương phản từ mao mạch vào trong khoang quanh mạch, cung cấp thông tin

về cấu trúc và chức năng vi mạch trong u Do

đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá một

số đặc điểm của khối u buồng trứng chứa mô đặc, xác định giá trị của CHT thường quy, CHT khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

200 bệnh nhân (BN) với 208 khối u buồng trứng được chụp CHT tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 1/2020 đến tháng 4/2021

Tiêu chuẩn chọn mẫu

U có mô đặc, được phẫu thuật trong vòng 30

Trang 3

ngày và có mô bệnh học

Tiêu chuẩn loại trừ

U có biến chứng xoắn, vỡ hoặc bệnh nhân đã

cắt tử cung

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu

Phương pháp thực hiện

Tất cả các bệnh nhân được chụp bằng máy

CHT Siemens Magnetom Espree 1,5 Tesla với

các chuỗi xung Sagittal T2W, Axial T2W,

Coronal T2W oblique, Axial T1W, Axial T1W

xóa mỡ, Diffusion b# 0 và b=1200 s/mm2, kỹ

thuật động học bắt thuốc và Axial, Sagittal,

Coronal T1W xóa mỡ sau tiêm Gadolinium

Các đặc điểm trên cộng hưởng từ được khảo

sát gồm: kích thước u, kích thước mô đặc, tín

hiệu mô đặc trên T2W, mức độ bắt thuốc

tương phản so với cơ tử cung, dịch ổ bụng,

hạch lớn, di căn phúc mạc, xâm lấn xung

quanh, tín hiệu mô đặc trên DW, giá trị ADC,

loại đường cong bắt thuốc

Mô đặc là phần bắt thuốc tương phản trong

u bao gồm chồi nhú, nốt thành, thành hoặc vách

ngăn không đều, phần đặc(11) Tín hiệu mô đặc

trên T2W bao gồm thấp (đen hơn cơ tử cung),

trung gian (ngang bằng cơ tử cung), cao (trắng

hơn cơ tử cung) Tín hiệu mô đặc trên DW đánh

giá trên hình giá trị b = 1200 s/mm², bao gồm

thấp (đen hơn ruột), trung bình (ngang bằng

ruột), cao (ngang bằng rễ thần kinh) Đo giá trị

ADC: đặt vị trí ROI vùng mô đặc diện tích 1 cm²

hoặc gần toàn bộ vùng cần khảo sát (nếu vùng

ROI có diện tích <1 cm²), là vị trí sáng nhất trên

DW và thấp nhất tương ứng trên bản đồ ADC,

đồng nhất nhất, tránh vị trí hoại tử, hóa nang, đo

3 lần và lấy giá trị trung bình Đặt ROI đánh giá

đường cong bắt thuốc tương phản tại vị trí mô

đặc bắt thuốc sớm nhất trên các chuỗi xung

động học, diện tích 1 cm² hoặc gần hết vùng cần

đánh giá (nếu vùng ROI có diện tích <1 cm²),

tránh vùng hoại tử, hóa nang, mạch máu lớn

Đường cong loại 1 khi thành phần mô đặc bắt

thuốc chậm hơn cơ tử cung, tăng dần, không có thời điểm tăng trội rõ ràng và không có giai đoạn bình nguyên Đường cong loại 2 khi ở giai đoạn sớm mô đặc bắt thuốc vừa phải, chậm hơn hoặc bằng cơ tử cung, theo sau là giai đoạn bình nguyên Đường cong loại 3 khi ở giai đoạn sớm

mô đặc bắt thuốc nhanh, đường cong dốc đứng hơn cơ tử cung, theo sau là giai đoạn bình nguyên(11)

Xử lý số liệu

Mô tả tần số, tỷ lệ phần trăm đối với biến định tính Mô tả giá trị trung bình và độ lệch chuẩn đối với biến định lượng có phân phối chuẩn và mô tả giá trị trung vị, khoảng tứ vị nếu phân phối không chuẩn Dùng các phép kiểm định Chi bình phương, Fisher để kiểm các tỷ lệ

So sánh các số trung bình, trung vị bằng phép kiểm T – test nếu có phân phối chuẩn, phép kiểm Mann –Whitney nếu có phân phối không chuẩn Giá trị chẩn đoán bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác Phân tích đường cong ROC và tìm chỉ số Youden lớn nhất cho biến số định lượng để tính giá trị ngưỡng cho chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 14 Các phép kiểm định được xem là khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, số 909/HĐĐĐ-ĐHYD ký ngày

30/11/2020

KẾT QUẢ

Nghiên cứu gồm 200 bệnh nhân với 208 khối

u trong đó 63 u lành và 145 u ác Tuổi trung vị của dân số nghiên cứu là 46 (15 – 75) Bệnh nhân

u lành có tuổi trung vị 39, u ác là 48, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,21) Nghiên cứu có 8 trường hợp u hai bên đều có cùng mô bệnh học, trong đó 2 trường hợp lành tính và 6 trường hợp ác tính Kết quả mô bệnh học của

mẫu nghiên cứu thể hiện trong Bảng 1

Trang 4

Bảng 1 Mô bệnh học của 208 khối u trong nghiên

cứu

U tuyến bọc dịch

U tuyến bọc dịch

U tuyến bọc dịch

U hỗn hợp Brenner

lành và u tuyến bọc

dịch trong – nhầy

U quái trưởng thành 11 U quái chưa trưởng thành 10

U hỗn hợp tế bào mầm ác

U quái ác tính loại carcinôm

Trong nhóm u ác tính, nhóm u biểu mô bề

mặt (ung thư tuyến dịch trong và ung thư dạng

nội mạc tử cung) chiếm ưu thế trong khi đối với

u lành tính, nhóm u sợi chiếm ưu thế

Đặc điểm CHT thường quy

Bảng 2 Đặc điểm CHT thường quy của các u trong

mẫu nghiên cứu

Lành tính (n=63)

Ác tính (n=145)

Giá trị

p

Kích thước u (5,5 – 12,2) 7,9 (6,9 – 15,0) 10,5 0,007

Kích thước mô đặc (16,6 – 67,0) 35,7 (32,9 – 72,4) 50,6 0,019

Lành tính (n=63)

Ác tính (n=145)

Giá trị

p

Xâm lấn xung

Không có sự khác biệt về tuổi, mức độ bắt thuốc tương phản so với cơ tử cung, tình trạng dịch ổ bụng giữa u lành và u ác Các đặc điểm kích thước u ≥ 9,4 cm, kích thước mô đặc ≥ 24,5

mm gợi ý u ác tính, độ nhạy 61,4% – 86,2%, độ đặc hiệu 60,3% – 41,4% Hạch lớn, di căn phúc mạc, xâm lấn xung quanh là các đặc điểm chẩn đoán ác tính có độ đặc hiệu 100%, độ nhạy 6,2%

– 18,6% (Bảng 2)

Đặc điểm CHT khuếch tán

Trong các u lành tính, mô đặc có tín hiệu thấp chiếm 49,2%, tín hiệu trung bình 38,1%, tín hiệu cao 12,7% Tỷ lệ này trong nhóm u ác tính tương ứng là 2,0%; 9,0%; 89,0% Khi chẩn đoán phân biệt u ác với u lành, đặc điểm “tín hiệu mô đặc cao trên DW” có OR là 55,4 (KTC 95%: 22,6 – 135,3), chẩn đoán u ác tính với độ nhạy 89%, độ đặc hiệu 87,3%, giá trị tiên đoán dương 94,2%, giá trị tiên đoán âm 77,5%, độ chính xác 88,5%

Đặc điểm “tín hiệu mô đặc thấp trên DW” có OR

là 45,9 (KTC 95%: 13,9 – 149,3), hướng đến chẩn đoán u lành tính với độ nhạy 49,2%, độ đặc hiệu 97,9%, giá trị tiên đoán dương 91,2%, giá trị tiên đoán âm 81,6%, độ chính xác 83,2%

U lành có giá trị ADC trung vị là 1,12 x mm²/s, u ác tính 0,93 x mm²/s ADC u lành cao hơn u ác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p

<0,001) Đường cong ROC của ADC trong chẩn đoán u ác tính có AUC = 0,71 Sử dụng giá trị ADC trung bình <1,19 x mm²/s chẩn đoán u

ác tính có độ nhạy 93,8%, độ đặc hiệu 47,6%, giá trị tiên đoán dương 80,5%, giá trị tiên đoán âm 76,9%, độ chính xác 79,8%

Đặc điểm động học bắt thuốc tương phản

Trong nhóm lành tính, có 58,7% u bắt thuốc loại 1; 25,4% bắt thuốc loại 2; 15,9% bắt thuốc loại 3 Tỷ lệ này ở nhóm u ác tính tương ứng là 4,1%, 55,2%, 40,7% Trong chẩn đoán phân biệt

Trang 5

giữa u ác với u lành, đặc điểm “đường cong bắt

thuốc loại 2, 3” có OR là 33,0 (KTC 95%: 12,9 –

83,9), chẩn đoán u ác tính độ nhạy 95,9%, độ đặc

hiệu 58,7%, giá trị tiên đoán dương 84,2%, giá trị

tiên đoán âm 86%, độ chính xác 84,6%

Bảng 3 Giá trị của CHT trong chẩn đo{n ph}n biệt u

ác với u lành tính

Biến số nhạy Độ

(%)

Độ đặc hiệu (%)

Giá trị tiên đoán dương (%)

Giá trị tiên đoán

âm (%)

Độ chính xác (%)

T2W + DW +

T2W + DW +

Giá trị của CHT trong chẩn đoán phân biệt u

ác với u lành tính thể hiện trong bảng 4 Kết hợp

hai đặc điểm tín hiệu mô đặc cao trên DW và giá

trị ADC <1,19 x mm²/s, đạt được độ đặc

hiệu 92,1%, độ nhạy 86,2% Kết hợp CHT

khuếch tán thêm vào CHT thường quy giúp

tăng độ đặc hiệu lên đến 98,4% so với 81% khi

chỉ dùng CHT thường quy, tuy nhiên độ nhạy

giảm từ 80% xuống còn 70,3% Khi kết hợp

đường cong bắt thuốc với CHT thường quy

cũng làm tăng độ đặc hiệu nhưng không đáng

kể, từ 81% lên 84,4%, đồng thời độ nhạy giảm

nhẹ từ 80% xuống còn 77,9%

BÀN LUẬN

Các khối u ác tính có mật độ tế bào cao, tỷ

lệ nhân/bào tương lớn, bờ nhân không đều, tạo

góc, ít khoang gian bào, do đó các phân tử

nước bị hạn chế khuếch tán, thể hiện tín hiệu

cao trên DW Ngược lại, các khối u lành tính có

mật độ tế bào thấp, nhiều khoang gian bào,

không gây hạn chế khuếch tán cho các phân tử

nước, biểu hiện bằng tín hiệu thấp trên DW

Theo nhiều báo cáo trước đây, giá trị của tín

hiệu trên DW trong phân biệt u buồng trứng

lành và ác tính đã từng bước được chứng minh Tác giả Thomassin-Naggara I phân tích

77 khối phần phụ cho thấy 94% mô đặc trong

u ác tính có tín hiệu cao trên DW (so sánh với nước tiểu), trong nhóm lành tính là 30% (p

<0,0001), tín hiệu cao của mô đặc trên DW cho chẩn đoán u ác có khả dĩ dương là 3,1(4) Tương

tự, tác giả Zhang P chỉ xét phần mô đặc ở 202 khối u buồng trứng cho kết quả 100% u ác có tín hiệu cao trên DW (so sánh với nước tiểu) trên hình giá trị b = 1000 s/mm², so với u lành

là 71,6% (p <0,05)(5) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tín hiệu trên DW được chia thành 3 mức, cao khi tín hiệu ngang bằng rễ thần kinh

(Hình 1), trung bình khi ngang bằng ruột và

thấp khi tín hiệu mô đặc của u thấp hơn ruột

Ở những u tín hiệu cao có đến 94,2% là u ác tính tỷ lệ này ở nhóm u có tín hiệu thấp là 8,8%, tương đồng với tác giả Đoàn Tiến Lưu báo cáo tỷ lệ ác tính của u có tín hiệu cao trên

DW là 76,9%, tỷ lệ này khi u có tín hiệu thấp trên DW là 4,5%(6) Tác giả sử dụng tín hiệu cao trên DW (tăng tín hiệu so với dịch trong bàng quang trên hình DW b = 1000 s/mm²) chẩn đoán u ác tính có độ nhạy cao 96,8%, nhưng độ đặc hiệu thấp 68,1% Còn chúng tôi sử dụng đặc điểm tín hiệu cao trên DW (tức mô đặc có tín hiệu ngang bằng rễ thần kinh) chẩn đoán u

ác tính đạt độ nhạy 89%, độ đặc hiệu 87,3%, giá trị tiên đoán dương 94,2% Với những u có tín hiệu thấp trên DW (tín hiệu thấp hơn ruột), chẩn đoán u lành tính với độ nhạy 49,2%, độ đặc hiệu 97,9%, giá trị tiên đoán dương 91,2%

Như vậy, tín hiệu trên DW có giá trị tốt trong tiên đoán lành – ác của khối u buồng trứng

Giá trị ADC là thông số định lượng phản ánh mức độ khuếch tán của nước nội và ngoại bào Một số u lành tính cấu tạo chủ yếu bởi thành phần sợi cũng làm giảm sự khuếch tán của phân tử nước do sự dày đặc của các tế bào sợi và mạng lưới sợi collagen ngoại bào Bên cạnh đó, trong một số tổn thương ác tính có tồn tại những vùng hoại tử hoặc hóa nang nhỏ bên trong mô đặc, tích tụ dịch trong khoảng kẽ giữa

Trang 6

các nhánh của chồi nhú Vì vậy, có sự chồng lấp

giá trị ADC trung bình giữa u ác tính với u lành,

thể hiện qua nhiều báo cáo(9,4,7,8) Trong nghiên

cứu của chúng tôi có 51% u lành chứa thành

phần sợi (2 u sợi tuyến, 2 u Brenner, 1 u hỗn hợp

Brenner và tuyến bọc dịch trong – nhầy, 27 u

sợi), ADC trung vị của nhóm này là 0,89 x

mm²/s và không khác biệt so với u ác tính

(p=0,95) Tác giả Zhao SH khi phân tích 42 u mô

đệm – dây giới bào báo cáo chỉ có sự khác biệt

giữa nhóm u lành và u ác tính sau khi đã loại trừ

u sợi ra khỏi mẫu nghiên cứu(9) Tác giả Li W

nghiên cứu trên 131 u biểu mô kết luận giá trị

ADC rất khác biệt giữa nhóm u lành và u ác tính,

với KTC 95% không có sự chồng lấp, sử dụng

điểm cắt 1,25 x 10-3 mm²/s cho chẩn u ác có độ

nhạy 90,1%, đặc hiệu 89,9%, AUC là 0,91 Trong

nghiên cứu này chỉ có 8,7% u lành chứa thành

phần sợi(10) Tác giả Zhang P nghiên cứu trên 202

khối u cho thấy có sự khác biệt giữa u lành và u

ác, nhóm u lành có 39% u chứa thành phần sợi,

sử dụng điểm cắt 1,2 x 10-3 mm²/s cho chẩn đoán

u ác tính, khi loại trừ khỏi mẫu những u này thì

có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm, AUC thay đổi lần lượt là 90,9% – 90,1%; 66,7% – 97,7%; 82,1% – 99,1%; 81,4% – 86,6%; 0,72% – 0,96%(5) Tương tự, chúng tôi sử dụng ADC cho chẩn đoán u ác ở điểm cắt 1,19 x

10-3mm²/s, có độ nhạy không thay đổi 93,8%, độ đặc hiệu, AUC tăng lên tương ứng 47,6% – 80,6% và 0,71 – 0,92 Như vậy, khi không có những u lành chứa thành phần sợi, ADC có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính Và vì đặc trưng chứa nhiều mô sợi, những khối u này có tín hiệu thấp trên T2W

và DW Do đó, diễn giải kết quả ADC nên cần kết hợp với các đặc điểm trên chuỗi xung khác

Hình 1 U buồng trứng tr{i có mô đặc (mũi tên) tín hiệu cao trên T2W (A), bắt thuốc tương phản sau tiêm (B),

tín hiệu cao trên DW b = 1200, giá trị ADC thấp 0,63 x 10 -3 mm²/s Nguồn: Bệnh nhân Hà Ngọc L., 68 tuổi, SVV

12737, mô bệnh học carcinôm tuyến dạng nội mạc tử cung

Trang 7

Hình 2 Đường cong bắt thuốc loại 2 U buồng trứng phải có mô đặc (vùng ROI 1) bắt thuốc vừa phải, chậm

hơn cơ tử cung, theo sau l| giai đoạn bình nguyên (đường nét liền) Đường nét đứt biểu thị bắt thuốc của cơ tử

cung (vùng ROI 2) Mô bệnh học u sợi giàu tế bào Nguồn: Bệnh nhân Trần Huyền T, 21 tuổi, SVV 29059, mô

bệnh học u sợi giàu tế bào

Đường cong bắt thuốc tương phản là biểu đồ

tín hiệu sau tiêm thuốc tương phản của phần mô

đặc trong u thay đổi theo thời gian so với tín

hiệu trước khi tiêm thuốc Các khối u ác tính

thường có tăng sinh mạch, thành của các mạch

máu này thiếu lớp áo cơ, tăng tính thấm, do đó

thuốc tương phản rò rỉ nhanh từ lòng mạch vào

mô kẽ, biểu hiện bằng hình ảnh bắt thuốc sớm,

mạnh hơn so với mô bình thường xung quanh

Trong khi đó, các u lành tính của buồng trứng

thường giàu mô sợi, nghèo mạch máu, biểu hiện

ngấm thuốc tương phản chậm và ít hơn so với

cơ tử cung Khi phân tích theo loại đường cong

bắt thuốc, trong số những u bắt thuốc loại 1 có

đến 86,1% là u lành tính Trong khi đó, 83,3% u

bắt thuốc loại 2 là u ác tính (Hình 2), tỷ lệ này là

85,5% ở những u bắt thuốc loại 3 Như vậy, sử

dụng đường cong bắt thuốc loại 2, 3 chẩn đoán u

ác tính có độ nhạy cao 95,9%, nhưng độ đặc hiệu

thấp, chỉ đạt 58,7%, giá trị tiên đoán dương

84,2%, giá trị tiên đoán âm 86%

Các trường hợp dương tính giả trong

nghiên cứu của chúng tôi phần lớn là u quái

giáp (10/10 u quái giáp bắt thuốc loại 2, 3), 2/2

u tế bào steroid bắt thuốc loại 3, một số u sợi

và u quái trưởng thành Theo tác giả Poncelet

E, trong phần mô đặc của u quái giáp và u

quái trưởng thành, khi phân tích mô học có sự

hiện diện của mô thần kinh và mô tuyến giáp bình thường, hóa mô miễn dịch cho thấy số lượng lớn mạch máu bên trong(11) Vì là đánh giá định tính, sử dụng tham chiếu là cơ tử cung nên phần nào phụ thuộc vào tình trạng mãn kinh của bệnh nhân Lớp cơ ngoài tử cung, được chứng minh là không thay đổi tính chất tưới máu theo chu kỳ kinh nguyệt, tại vị trí không có bệnh lý được sử dụng để so sánh

Tuy nhiên ở một số bệnh nhân trẻ tuổi, u ác tính biểu hiện bắt thuốc chậm hơn so với cơ tử cung, đây chính là hạn chế của đánh giá định tính, khi đó có thể cần phải kết hợp thêm với các thông số bán định lượng để chẩn đoán

KẾT LUẬN

CHT khuếch tán làm tăng độ đặc hiệu trong chẩn đoán u ác tính, giúp củng cố giá trị của CHT trong phân định khối u buồng trứng lành –

ác, nên được dùng kết hợp với các chuỗi xung thường qui trong thực hành phân tích khối u buồng trứng có mô đặc Đường cong bắt thuốc tương phản không thay đổi đáng kể giá trị chẩn đoán của CHT thường quy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Sung H, Ferlay J, Rebecca L, Siegel MPH, et al (2021) Global

cancer statistics 2020: GLOBOCAN estimates of incidence and

mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries A Cancer Journal for Clinicians, 71(3):209-249

Trang 8

2 Fujii S, Kakite S, Nishihara K, Kanasaki Y, et al (2008) Diagnostic

accuracy of diffusion‐weighted imaging in differentiating

benign from malignant ovarian lesions Journal of Magnetic

Resonance Imaging, 28(5):1149-1156

3 Sadowski E, Rockall A, Maturen KE, Robbins FB, et al (2019)

Adnexal lesions: Imaging strategies for ultrasound and MR

imaging Diagnostic and Interventional Imaging, 100(10):635-646

4 Thomassin-Naggara I, Darạ E, Cuenod CA, Fournier L, et al

(2009) Contribution of diffusion-weighted MR imaging for

predicting benignity of complex adnexal masses European

Radiology, 19(6):1544-1552

5 Zhang P, Cui Y, Li W, Ren G, et al (2012) Diagnostic accuracy of

diffusion-weighted imaging with conventional MR imaging for

differentiating complex solid and cystic ovarian tumors at 1.5 T

World Journal of Surgical Oncology, 10(1):1-8

6 Đồn Tiến Lưu (2019) Nghiên cứu giá trị của chụp cộng hưởng

từ trong chẩn đốn ung thư buồng trứng Luận Án Tiến Sĩ Y Học,

Đại học Y Hà Nội

7 Cappabianca S, Iaselli F, Reginelli A, Urraro F, et al (2013) Value

of diffusion-weighted magnetic resonance imaging in the

characterization of complex adnexal masses Tumori Journal,

99(2):210-217

8 Mansour S, Wessam R, Raafat M (2015) Diffusion-weighted magnetic resonance imaging in the assessment of ovarian masses with suspicious features: strengths and challenges

Egyptian Journal of Radiology and Nuclear Medicine, 46(4):1279-1289

9 Zhao SH, Li HM, Qiang JW, Wang DB, et al (2018) The value of

MRI for differentiating benign from malignant sex cord-stromal tumors of the ovary: emphasis on diffusion-weighted MR

imaging Journal of Ovarian Research, 11(1):1-8

10 Li W, Chu C, Cui Y, Zhang P, et al (2012) Diffusion-weighted

MRI: a useful technique to discriminate benign versus malignant ovarian surface epithelial tumors with solid and

cystic components Abdominal Radiology, 37(5):897-903

11 Poncelet E, Delpierre C, Kerdraon O, Lucot JP, et al (2013) Value

of dynamic contrast-enhanced MRI for tissue characterization of

ovarian teratomas: correlation with histopathology Clinical Radiology, 68(9):909-916

Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ng|y b|i b{o được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Đặc điểm CHT thường quy của cá cu trong mẫu nghiên cứu   - Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc
Bảng 2. Đặc điểm CHT thường quy của cá cu trong mẫu nghiên cứu (Trang 4)
Bảng 1. Mơ bệnh học của 208 khố iu trong nghiên cứu  - Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc
Bảng 1. Mơ bệnh học của 208 khố iu trong nghiên cứu (Trang 4)
Bảng 3. Giá trị của CHT trong chẩn đo{n ph}n biệ tu ác với u lành tính   - Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc
Bảng 3. Giá trị của CHT trong chẩn đo{n ph}n biệ tu ác với u lành tính (Trang 5)
Hình 1. U buồng trứng tr{i cĩ mơ đặc (mũi tên) tín hiệu cao trên T2W (A), bắt thuốc tương phản sau tiêm (B), tín hiệu cao trên DW b = 1200, giá trị ADC thấp 0,63 x 10-3 mm²/s - Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc
Hình 1. U buồng trứng tr{i cĩ mơ đặc (mũi tên) tín hiệu cao trên T2W (A), bắt thuốc tương phản sau tiêm (B), tín hiệu cao trên DW b = 1200, giá trị ADC thấp 0,63 x 10-3 mm²/s (Trang 6)
Hình 2. Đường cong bắt thuốc loại 2. U buồng trứng phải cĩ mơ đặc (vùng ROI 1) bắt thuốc vừa phải, chậm hơn cơ tử cung, theo sau l| giai đoạn bình nguyên (đường nét liền) - Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán và động học bắt thuốc trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành và ác tính có thành phần mô đặc
Hình 2. Đường cong bắt thuốc loại 2. U buồng trứng phải cĩ mơ đặc (vùng ROI 1) bắt thuốc vừa phải, chậm hơn cơ tử cung, theo sau l| giai đoạn bình nguyên (đường nét liền) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm