1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018

12 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiện Internet là một vấn đề ngày càng gia tăng ở sinh viên đại học trên toàn thế giới gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, kết quả học tập và công việc. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ nghiện Internet và phân tích một số yếu tố liên quan đến nghiện Internet ở sinh viên.

Trang 1

trình phỏng vấn.

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để

xác định số hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi:

Với Z = 1,96 (ứng với = 0,05), p = 0,37 [3], = 0,14

tính được N = 334 Dự phòng khoảng 20% đối tượng từ

chối trả lời, cuối cùng cỡ mẫu là 409 hộ gia đình có con

dưới 5 tuổi.

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: mỗi miền chọn ngẫu nhiên 1 tỉnh:

Hòa Bình-miền Bắc, Hà Tĩnh – Miền Trung và Kiên

Giang- Miềm Nam;

Giai đoạn 2: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 xã bao

gồm xã nông thôn, thành thị (thị trấn/phường) và khó

khăn (miền núi/hải đảo): tổng 9 xã;

Giai đoạn 3: mỗi xã chọn 46 hộ gia đình có

con dưới 5 tuổi, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu

tiêu, sau đó lựa chọn các hộ gia đình tiếp theo, theo

phương pháp là “cổng liền cổng”

2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu

Bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và

chỉnh sửa sau khi có thử nghiệm tại Thạch Thất, Hà Nội

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra viên

phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Sai số và khống chế sai số: Sai số do người cung

cấp thông tin bỏ sót hoặc cố tình sai thực tế, để hạn

chế sai số, điều tra viên được tập huấn kỹ, có kinh

nghiệm trong giao tiếp Sau khi kết thúc phỏng vấn,

điều tra viên kiểm tra lại phiếu ngay để không bỏ

sót thông tin Giám sát viên kiểm tra phiếu khi kết

thúc để kịp thời phát hiện sai số và bổ sung kịp thời

sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 11, thống kê mô tả với tỷ lệ

%, thống kê suy luận với kiểm định 2

2.7 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được

tiến hành dưới sự chấp thuận của chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thông tin được hoàn toàn bảo mật và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy

Hình 1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/

bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409)

Nhận xét: Gần 80% bà mẹ có kiến thức đúng về

cách cho trẻ ăn/bú khi bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ ở miền núi có kiến thức đúng về cách cho trẻ bú/ăn khi

bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,9%, sau đó đến miền núi và thấp nhất là ở nông thôn với 74,3%

Bảng 1 Lý do không cho trẻ ăn bú bình thường khi bị

tiêu chảy (n=409)

Nội dung

Thành thị Nông thôn Miền núi Tổng p

Người khác khuyên 1 0,7 6 4,3 0 0 6 1,7

0,006 Sợ trẻ bệnh nặng

Nhận xét: Về lý do không cho trẻ ăn bú bình

thường khi bị tiêu chảy, gần 10% người được phỏng vấn cho rằng trẻ bị nặng thêm nếu tiếp tục cho ăn/bú bình thường, trong đó, người dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 12,1%, gấp gần 4 lần so với thành thị Có 1,7% người không cho trẻ ăn/bú bình thường

do người khác khuyên Sự khác biệt này có ý nghĩa

2

2 1

2

1

p P

px

Z

Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018

Hồ Thị Linh Đan1, Nguyễn Thị Hồng Hải1, Nguyễn Thị Mai1, Nguyễn Võ Trà Mi1, Trần Thị Hoa1, Trần Thị Thanh Hồng1, Võ Ngọc Hồng Phúc1, Tơn Nữ Nam Trân1, Trần Thị Quỳnh Tâm1, Trần Thị Mỹ Huyền1, Phan Văn Thắng1, Hà Minh Phương1, Nguyễn Thị Minh Hịa1, Trịnh Thị Việt Hằng1, Võ Thị Tố Nga1, Hồ Hồng Nhi1, Nguyễn Thị Cẩm Nhi1, Châu Nguyên Đan1, Phạm Thị Thu Hà1, Nguyễn Đức Dân1, Trịnh Ngọc Tấn1, Hồng Tuấn Anh1, Nguyễn Hồng Minh1, Võ Ngọc Hà My1, Hồng Hữu Hải1, Nguyễn Thanh Gia1, Trần Bình Thắng1,

Lê Đình Dương1, Trần Anh Quốc2, Trần Đình Trung2, Hồng Hữu Khơi2, Nguyễn Minh Tú1

Tĩm tắt:

Đặt vấn đề: Nghiện Internet là một vấn đề ngày càng gia tăng ở sinh viên đại học trên tồn thế giới

gây ra ảnh hưởng khơng nhỏ đến sức khỏe, kết quả học tập và cơng việc Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ nghiện Internet và phân tích một số yếu tố liên quan đến nghiện Internet ở sinh viên

Phương pháp: Mơ tả cắt ngang trên 1098 sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe tại Trường Đại

học Y - Dược, Đại học Huế năm 2018 Sử dụng thang đo đánh giá nghiện Internet (s-IAT) gồm 12 câu hỏi đánh giá hai yếu tố: Mất kiểm sốt/quản lý thời gian và suy giảm hiệu suất/vấn đề xã hội Các câu hỏi sử dụng thang đo Likert từ 1 (khơng bao giờ) đến 5 (luơn luơn) và điểm số dao động

từ 12 đến 60 điểm, bộ câu hỏi được chuẩn hĩa cĩ độ tin cậy và tính thích hợp tại Việt Nam.

Kết quả: 36,9% sinh viên nghiện Internet, một số yếu tố liên quan tới sinh viên nghiện Internet là

nhận được sự quan tâm của cố vấn học tập (OR= 0,73; 95%CI: 0,57-0,94), thời gian tự học ≥3 giờ/ ngày (OR= 0,46; 95%CI:0,32-0,66); cĩ thĩi quen đọc sách trong thời gian rảnh (OR= 0,60; 95%CI: 0,32-0,65), thĩi quen chỉ học lại bài khi đến gần kì thi (OR= 1,46; 95%CI= 1,04-2,06) với p<0,05.

Kết luận: Tỷ lệ nghiên Internet trong sinh viên là phổ biến, do đĩ sinh viên cần nhận được sự quan

tâm của cố vấn học tập, khuyến khích sinh viên dành nhiều thời gian cho việc tự học, tạo thĩi quen tốt như đọc sách trong thời gian rảnh và thường xuyên học bài để giảm nguy cơ nghiện Internet.

Từ khĩa: Nghiện Internet, sinh viên Y khoa, Cố vấn học tập.

Prevalence of internet addiction and some associated factors in students at University of Medicine and Pharmacy, Hue University in 2018

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

là hai bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở những

nước đang phát triển Ở nước ta, 80% tử vong do tiêu

chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi, bình quân 1 trẻ dưới

5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8-2,2 đợt tiêu chảy, ước

tính hàng năm có 1100 trường hợp tử vong [6], [5]

Về NKHH, trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9

lần, tỷ lệ tử vong do NKHH chiếm 1/3 (30-35%) so

với tử vong chung [1], [4] Tỷ lệ mắc và tử vong của

hai bệnh này rất cao nhưng hoàn toàn có thể hạn chế

bằng cách chủ động phòng tránh tác nhân gây bệnh

và xử lí kịp thời khi bị bệnh Để phòng chống bệnh,

người dân nói chung và người chăm sóc trẻ nói riêng

phải có kiến thức đầy đủ về phòng bệnh và cách xử

lý khi trẻ bị mắc bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong

Chính vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:

“Kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về

phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp

tính ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam”, với

mục tiêu mô tả kiến thức của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn

hô hấp ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam

năm 2014 Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị phù hợp vào công tác truyền thông phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014 tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Hà Tĩnh và Kiên Giang, đại diện cho

3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi, có tinh thần minh mẫn, tự nguyện, hợp tác trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ: Tinh thần không minh mẫn

hoặc không có mặt tại hộ gia đình trong thời gian nghiên cứu hoặc không tự nguyện, hợp tác trong quá

mothers being able to detect some severe signs of diarrhea and ARI was low Only 6.6% of mothers recognized wrinkled skin signs (14.4 % in urban and 2.1% in rural region, respectively); 11 % of mothers recognized signs of dyspnea (25.9 % in urban and 1.5% in mountainous region) Mothers’ knowledge about prevention of diarrhea and ARI in urban was better than that of mothers in rural and mountain regions.

Keywords: Diarrhea, acute respiratory infections, knowledge, under 5-year-old child.

Tác giả:

1 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Email: thangtcyt@gmail.com

2 Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế

Email: longmoh@yahoo.com

3 CNYTCC4 năm học 2015-2016, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội Email: vietanhmsg1@gmail.com, dinhminhnb01@gmail.com

4 Bộ Y tế

Email: dducthien@yahoo.com, trantuananh2000@yahoo.com

Ho Thi Linh Dan1, Nguyen Thi Hong Hai1, Nguyen Thi Mai1, Nguyen Vo Tra Mi1, Tran Thi Hoa1, Tran Thi Thanh Hong1, Vo Ngoc Hong Phuc1, Ton Nu Nam Tran1, Tran Thi Quynh Tam1, Tran Thi My Huyen1, Phan Van Thang1, Ha Minh Phuong1, Nguyen Thi Minh Hoa1, Trinh Thi Viet Hang1, Vo Thi To Nga1, Ho Hoang Nhi1, Nguyen Thi Cam Nhi1, Chau Nguyen Dan1, Pham Thi Thu Ha1, Nguyen Duc Dan1, Trinh Ngoc Tan1, Hoang Tuan Anh1, Nguyen Hoang Minh1, Vo Ngoc Ha My1, Hoang Huu Hai1, Nguyen Thanh Gia1, Tran Binh Thang1,

Le Dinh Duong1, Tran Anh Quoc2, Tran Dinh Trung2, Hoang Huu Khoi2, Nguyen Minh Tu1

Abstract

Background: Internet addiction is a prominent issue in students worldwide, which significantly

impacts health, work, and academic results We conduct this study to determine the proportion of Internet addiction and analyze some related factors among students.

Method: A cross-sectional study was conducted on 1098 medical students at University of Medicine

and Pharmacy, Hue university in 2018 Short-version of Internet Addiction Test (s-IAT) including

12 questions was used to identify 2 factors: loss of control/time management and craving/social problems The questions are graded on the Likert scale of 1 (never) to 5 (always), with total scores ranging from 12 to 60 points The standardized questionnaire is reliable and relevant in Vietnam.

Result: 36.9% of students are addicted to the internet, and some associated factors to internet

addiction include receiving academic advisor attention receiving the attention of a learning advisor (OR = 0.73; 95% CI: 0.57-0.94); self-study time ≥3 hours/day (OR = 0.46; 95%CI: 0.32-0.66); habit of reading books in free time (OR= 0.60; 95%CI: 0.32-0.65); habit of re-studying only when approaching the exam (OR = 1.46; 95% CI = 1.04-2.06) with p<0.05

Conclusion: To reduce the risk of Internet addiction, students should must receive the attention of

academic advisors, be encouraged to spend more time on self-study, develop positivegood habits such as reading in the sparefree time, and regularly study on a regular basis.

Keywords: Internet addiction, Medical student, Learning advisor.

Tác giả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

h ng ạng các t n ích ph c

nt n t t th nh ột ph n hơng th th ế

Trang 3

trình phỏng vấn.

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để

xác định số hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi:

Với Z = 1,96 (ứng với = 0,05), p = 0,37 [3], = 0,14

tính được N = 334 Dự phòng khoảng 20% đối tượng từ

chối trả lời, cuối cùng cỡ mẫu là 409 hộ gia đình có con

dưới 5 tuổi.

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: mỗi miền chọn ngẫu nhiên 1 tỉnh:

Hòa Bình-miền Bắc, Hà Tĩnh – Miền Trung và Kiên

Giang- Miềm Nam;

Giai đoạn 2: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 xã bao

gồm xã nông thôn, thành thị (thị trấn/phường) và khó

khăn (miền núi/hải đảo): tổng 9 xã;

Giai đoạn 3: mỗi xã chọn 46 hộ gia đình có

con dưới 5 tuổi, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu

tiêu, sau đó lựa chọn các hộ gia đình tiếp theo, theo

phương pháp là “cổng liền cổng”

2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu

Bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và

chỉnh sửa sau khi có thử nghiệm tại Thạch Thất, Hà Nội

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra viên

phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Sai số và khống chế sai số: Sai số do người cung

cấp thông tin bỏ sót hoặc cố tình sai thực tế, để hạn

chế sai số, điều tra viên được tập huấn kỹ, có kinh

nghiệm trong giao tiếp Sau khi kết thúc phỏng vấn,

điều tra viên kiểm tra lại phiếu ngay để không bỏ

sót thông tin Giám sát viên kiểm tra phiếu khi kết

thúc để kịp thời phát hiện sai số và bổ sung kịp thời

sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 11, thống kê mô tả với tỷ lệ

%, thống kê suy luận với kiểm định 2

2.7 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được

tiến hành dưới sự chấp thuận của chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thông tin được hoàn toàn bảo mật và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy

Hình 1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/

bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409)

Nhận xét: Gần 80% bà mẹ có kiến thức đúng về

cách cho trẻ ăn/bú khi bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ ở miền núi có kiến thức đúng về cách cho trẻ bú/ăn khi

bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,9%, sau đó đến miền núi và thấp nhất là ở nông thôn với 74,3%

Bảng 1 Lý do không cho trẻ ăn bú bình thường khi bị

tiêu chảy (n=409)

Nội dung

Thành thị Nông thôn Miền núi Tổng p

Người khác khuyên 1 0,7 6 4,3 0 0 6 1,7

0,006 Sợ trẻ bệnh nặng

Nhận xét: Về lý do không cho trẻ ăn bú bình

thường khi bị tiêu chảy, gần 10% người được phỏng vấn cho rằng trẻ bị nặng thêm nếu tiếp tục cho ăn/bú bình thường, trong đó, người dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 12,1%, gấp gần 4 lần so với thành thị Có 1,7% người không cho trẻ ăn/bú bình thường

do người khác khuyên Sự khác biệt này có ý nghĩa

2

2 1

2

1

p P

px

Z

ột ch ng ố ạn h nh ph ến t ng

h ng ến phát t n nh th ng c n

h c t p 2,, g t í nh , ố ạn g c ng 3,

2, ,5,6 t t 2,6T ngh n nt n t th nh

n ạ h c nh c ng c c ngh n

nt n t t ng hộ 2, t ng t ngh n

h c S h g C p ạ h c h h c Y h

, ngh n c t n th nh th ế n n ch th

t ngh n nt n t ch ế 21,2 5, t n

h n t “Thực trạng nghiện Internet và

một số yếu tố liên quan ở sinh viên Trường

Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018”

phân tích một số yếu tố liên quan đến nghiện

Internet ở sinh viên.

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên

cứu

2.2 Thiết kế nghiên cứu

gh n c c t ng ng

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu: tính th cơng th c

2

2 2 / 1

1

d

p p Z

ch th t ngh n nt n t 21,2 5

Phương pháp chọn mẫu:Sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước

ạn 1 Ch n ph n t ng t th

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

là hai bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở những

nước đang phát triển Ở nước ta, 80% tử vong do tiêu

chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi, bình quân 1 trẻ dưới

5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8-2,2 đợt tiêu chảy, ước

tính hàng năm có 1100 trường hợp tử vong [6], [5]

Về NKHH, trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9

lần, tỷ lệ tử vong do NKHH chiếm 1/3 (30-35%) so

với tử vong chung [1], [4] Tỷ lệ mắc và tử vong của

hai bệnh này rất cao nhưng hoàn toàn có thể hạn chế

bằng cách chủ động phòng tránh tác nhân gây bệnh

và xử lí kịp thời khi bị bệnh Để phòng chống bệnh,

người dân nói chung và người chăm sóc trẻ nói riêng

phải có kiến thức đầy đủ về phòng bệnh và cách xử

lý khi trẻ bị mắc bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong

Chính vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:

“Kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về

phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp

tính ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam”, với

mục tiêu mô tả kiến thức của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn

hô hấp ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam

năm 2014 Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị phù hợp vào công tác truyền thông phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014 tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Hà Tĩnh và Kiên Giang, đại diện cho

3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi, có tinh thần minh mẫn, tự nguyện, hợp tác trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ: Tinh thần không minh mẫn

hoặc không có mặt tại hộ gia đình trong thời gian nghiên cứu hoặc không tự nguyện, hợp tác trong quá

mothers being able to detect some severe signs of diarrhea and ARI was low Only 6.6% of mothers recognized wrinkled skin signs (14.4 % in urban and 2.1% in rural region, respectively); 11 % of mothers recognized signs of dyspnea (25.9 % in urban and 1.5% in mountainous region) Mothers’ knowledge about prevention of diarrhea and ARI in urban was better than that of mothers in rural and mountain regions.

Keywords: Diarrhea, acute respiratory infections, knowledge, under 5-year-old child.

Tác giả:

1 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Email: thangtcyt@gmail.com

2 Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế

Email: longmoh@yahoo.com

3 CNYTCC4 năm học 2015-2016, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội Email: vietanhmsg1@gmail.com, dinhminhnb01@gmail.com

4 Bộ Y tế

Email: dducthien@yahoo.com, trantuananh2000@yahoo.com

h c t p, th g n t h c, ch c p c g nh,

nt n t c nh n 5.

c ng c h n ch th c ộ ngh n

2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

ph n t

ến g t c ác nh các ế tố n

n ến ngh n

2.6 Đạo đức nghiên cứu

ng 02/01/201

3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=1098)

lượng

Tỷ lệ (%)

tính

g nh

th t h nh nh

h c t p

ếp

h c t p

T nh

t ạng

h n tạ

Th

g n t

h c

Trang 5

trình phỏng vấn.

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để

xác định số hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi:

Với Z = 1,96 (ứng với = 0,05), p = 0,37 [3], = 0,14

tính được N = 334 Dự phòng khoảng 20% đối tượng từ

chối trả lời, cuối cùng cỡ mẫu là 409 hộ gia đình có con

dưới 5 tuổi.

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: mỗi miền chọn ngẫu nhiên 1 tỉnh:

Hòa Bình-miền Bắc, Hà Tĩnh – Miền Trung và Kiên

Giang- Miềm Nam;

Giai đoạn 2: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 xã bao

gồm xã nông thôn, thành thị (thị trấn/phường) và khó

khăn (miền núi/hải đảo): tổng 9 xã;

Giai đoạn 3: mỗi xã chọn 46 hộ gia đình có

con dưới 5 tuổi, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu

tiêu, sau đó lựa chọn các hộ gia đình tiếp theo, theo

phương pháp là “cổng liền cổng”

2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu

Bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và

chỉnh sửa sau khi có thử nghiệm tại Thạch Thất, Hà Nội

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra viên

phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Sai số và khống chế sai số: Sai số do người cung

cấp thông tin bỏ sót hoặc cố tình sai thực tế, để hạn

chế sai số, điều tra viên được tập huấn kỹ, có kinh

nghiệm trong giao tiếp Sau khi kết thúc phỏng vấn,

điều tra viên kiểm tra lại phiếu ngay để không bỏ

sót thông tin Giám sát viên kiểm tra phiếu khi kết

thúc để kịp thời phát hiện sai số và bổ sung kịp thời

sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 11, thống kê mô tả với tỷ lệ

%, thống kê suy luận với kiểm định 2

2.7 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được

tiến hành dưới sự chấp thuận của chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thông tin được hoàn toàn bảo mật và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy

Hình 1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/

bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409)

Nhận xét: Gần 80% bà mẹ có kiến thức đúng về

cách cho trẻ ăn/bú khi bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ ở miền núi có kiến thức đúng về cách cho trẻ bú/ăn khi

bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,9%, sau đó đến miền núi và thấp nhất là ở nông thôn với 74,3%

Bảng 1 Lý do không cho trẻ ăn bú bình thường khi bị

tiêu chảy (n=409)

Nội dung

Thành thị Nông thôn Miền núi Tổng p

Người khác khuyên 1 0,7 6 4,3 0 0 6 1,7

0,006 Sợ trẻ bệnh nặng

Nhận xét: Về lý do không cho trẻ ăn bú bình

thường khi bị tiêu chảy, gần 10% người được phỏng vấn cho rằng trẻ bị nặng thêm nếu tiếp tục cho ăn/bú bình thường, trong đó, người dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 12,1%, gấp gần 4 lần so với thành thị Có 1,7% người không cho trẻ ăn/bú bình thường

do người khác khuyên Sự khác biệt này có ý nghĩa

2

2 1

2

1

p P

px

Z

lượng

Tỷ lệ (%)

c

ch

c p

t g

nh

1,5 2,5 t /

2,5 ,5 t /

th

Y

thích

ng nh

h c

C ế

h ạch

h c t p

Th

n

c

ách

t ng

th

g n

nh

Th

n

ch h c

h ến

g n

th

c ách t ng th g n nh c ến 9,2

g n th

3.2 Tình trạng nghiện Intenet của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1 Tỷ lệ nghiện Internet của đối tượng nghiên cứu.

Trang 6

1 Đặt vấn đề

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

là hai bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở những

nước đang phát triển Ở nước ta, 80% tử vong do tiêu

chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi, bình quân 1 trẻ dưới

5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8-2,2 đợt tiêu chảy, ước

tính hàng năm có 1100 trường hợp tử vong [6], [5]

Về NKHH, trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9

lần, tỷ lệ tử vong do NKHH chiếm 1/3 (30-35%) so

với tử vong chung [1], [4] Tỷ lệ mắc và tử vong của

hai bệnh này rất cao nhưng hoàn toàn có thể hạn chế

bằng cách chủ động phòng tránh tác nhân gây bệnh

và xử lí kịp thời khi bị bệnh Để phòng chống bệnh,

người dân nói chung và người chăm sóc trẻ nói riêng

phải có kiến thức đầy đủ về phòng bệnh và cách xử

lý khi trẻ bị mắc bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong

Chính vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:

“Kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về

phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp

tính ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam”, với

mục tiêu mô tả kiến thức của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn

hô hấp ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam

năm 2014 Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị phù hợp vào công tác truyền thông phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014 tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Hà Tĩnh và Kiên Giang, đại diện cho

3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi, có tinh thần minh mẫn, tự nguyện, hợp tác trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ: Tinh thần không minh mẫn

hoặc không có mặt tại hộ gia đình trong thời gian nghiên cứu hoặc không tự nguyện, hợp tác trong quá

mothers being able to detect some severe signs of diarrhea and ARI was low Only 6.6% of mothers recognized wrinkled skin signs (14.4 % in urban and 2.1% in rural region, respectively); 11 % of mothers recognized signs of dyspnea (25.9 % in urban and 1.5% in mountainous region) Mothers’ knowledge about prevention of diarrhea and ARI in urban was better than that of mothers in rural and mountain regions.

Keywords: Diarrhea, acute respiratory infections, knowledge, under 5-year-old child.

Tác giả:

1 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Email: thangtcyt@gmail.com

2 Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế

Email: longmoh@yahoo.com

3 CNYTCC4 năm học 2015-2016, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội Email: vietanhmsg1@gmail.com, dinhminhnb01@gmail.com

4 Bộ Y tế

Email: dducthien@yahoo.com, trantuananh2000@yahoo.com

3.3 Phân bố yếu tố Mất kiểm sốt/ quản lý thời gian và Suy giảm hiệu suất/ vấn đề xã hội

Biểu đồ 2 Biểu đồ hộp tỷ lệ hai yếu tố Mất kiểm sốt/ quản lý thời gian và Suy giảm hiệu suất/ vấn đề xã hội trong nhĩm nghiện Internet của đối tượng nghiên cứu

3.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng nghiện Internet của đối tượng

Bảng 2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng nghiện Internet (n=1098)

Giới tính

0, 9

h c t p

0,5

Xếp loại học tập

0,555

Trang 7

trình phỏng vấn.

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để

xác định số hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi:

Với Z = 1,96 (ứng với = 0,05), p = 0,37 [3], = 0,14

tính được N = 334 Dự phòng khoảng 20% đối tượng từ

chối trả lời, cuối cùng cỡ mẫu là 409 hộ gia đình có con

dưới 5 tuổi.

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: mỗi miền chọn ngẫu nhiên 1 tỉnh:

Hòa Bình-miền Bắc, Hà Tĩnh – Miền Trung và Kiên

Giang- Miềm Nam;

Giai đoạn 2: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 xã bao

gồm xã nông thôn, thành thị (thị trấn/phường) và khó

khăn (miền núi/hải đảo): tổng 9 xã;

Giai đoạn 3: mỗi xã chọn 46 hộ gia đình có

con dưới 5 tuổi, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu

tiêu, sau đó lựa chọn các hộ gia đình tiếp theo, theo

phương pháp là “cổng liền cổng”

2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu

Bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và

chỉnh sửa sau khi có thử nghiệm tại Thạch Thất, Hà Nội

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra viên

phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Sai số và khống chế sai số: Sai số do người cung

cấp thông tin bỏ sót hoặc cố tình sai thực tế, để hạn

chế sai số, điều tra viên được tập huấn kỹ, có kinh

nghiệm trong giao tiếp Sau khi kết thúc phỏng vấn,

điều tra viên kiểm tra lại phiếu ngay để không bỏ

sót thông tin Giám sát viên kiểm tra phiếu khi kết

thúc để kịp thời phát hiện sai số và bổ sung kịp thời

sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 11, thống kê mô tả với tỷ lệ

%, thống kê suy luận với kiểm định 2

2.7 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được

tiến hành dưới sự chấp thuận của chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thông tin được hoàn toàn bảo mật và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy

Hình 1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/

bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409)

Nhận xét: Gần 80% bà mẹ có kiến thức đúng về

cách cho trẻ ăn/bú khi bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ ở miền núi có kiến thức đúng về cách cho trẻ bú/ăn khi

bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,9%, sau đó đến miền núi và thấp nhất là ở nông thôn với 74,3%

Bảng 1 Lý do không cho trẻ ăn bú bình thường khi bị

tiêu chảy (n=409)

Nội dung

Thành thị Nông thôn Miền núi Tổng p

Người khác khuyên 1 0,7 6 4,3 0 0 6 1,7

0,006 Sợ trẻ bệnh nặng

Nhận xét: Về lý do không cho trẻ ăn bú bình

thường khi bị tiêu chảy, gần 10% người được phỏng vấn cho rằng trẻ bị nặng thêm nếu tiếp tục cho ăn/bú bình thường, trong đó, người dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 12,1%, gấp gần 4 lần so với thành thị Có 1,7% người không cho trẻ ăn/bú bình thường

do người khác khuyên Sự khác biệt này có ý nghĩa

2

2 1

2

1

p P

px

Z

Yêu thích ngành học

0,012

Thời gian tự học

0,001

Mức chu cấp

0,52

1,5 2,5 t /

2,5 ,5 t /

Cĩ kế hoạch học tập

0,0

Thĩi quen đọc sách trong thời gian rảnh

0,001

Thĩi quen chỉ học lại bài khi đến gần kì thi

0,001

Sự quan tâm của cố vấn học tập

0,006

c cố n h c t p p 0,05 hơng t th

c ch c p p 0,05

3.5 Mơ hình hồi quy logistic đa biến xác định mối liên quan giữa tình trạng nghiện Internet với một số yếu tố

Trang 8

1 Đặt vấn đề

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

là hai bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở những

nước đang phát triển Ở nước ta, 80% tử vong do tiêu

chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi, bình quân 1 trẻ dưới

5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8-2,2 đợt tiêu chảy, ước

tính hàng năm có 1100 trường hợp tử vong [6], [5]

Về NKHH, trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9

lần, tỷ lệ tử vong do NKHH chiếm 1/3 (30-35%) so

với tử vong chung [1], [4] Tỷ lệ mắc và tử vong của

hai bệnh này rất cao nhưng hoàn toàn có thể hạn chế

bằng cách chủ động phòng tránh tác nhân gây bệnh

và xử lí kịp thời khi bị bệnh Để phòng chống bệnh,

người dân nói chung và người chăm sóc trẻ nói riêng

phải có kiến thức đầy đủ về phòng bệnh và cách xử

lý khi trẻ bị mắc bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong

Chính vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:

“Kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về

phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp

tính ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam”, với

mục tiêu mô tả kiến thức của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn

hô hấp ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam

năm 2014 Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị phù hợp vào công tác truyền thông phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014 tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Hà Tĩnh và Kiên Giang, đại diện cho

3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi, có tinh thần minh mẫn, tự nguyện, hợp tác trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ: Tinh thần không minh mẫn

hoặc không có mặt tại hộ gia đình trong thời gian nghiên cứu hoặc không tự nguyện, hợp tác trong quá

mothers being able to detect some severe signs of diarrhea and ARI was low Only 6.6% of mothers recognized wrinkled skin signs (14.4 % in urban and 2.1% in rural region, respectively); 11 % of mothers recognized signs of dyspnea (25.9 % in urban and 1.5% in mountainous region) Mothers’ knowledge about prevention of diarrhea and ARI in urban was better than that of mothers in rural and mountain regions.

Keywords: Diarrhea, acute respiratory infections, knowledge, under 5-year-old child.

Tác giả:

1 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Email: thangtcyt@gmail.com

2 Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế

Email: longmoh@yahoo.com

3 CNYTCC4 năm học 2015-2016, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội Email: vietanhmsg1@gmail.com, dinhminhnb01@gmail.com

4 Bộ Y tế

Email: dducthien@yahoo.com, trantuananh2000@yahoo.com

Bảng 3 Mơ hình hồi quy logistic đa biến xác định mối liên quan đến tình trạng nghiện Internet

(CI 95%)

OR hiệu chỉnh

Th g n t h c

2 g / ng

c ách t ng th

g n nh

hơng

n h c t p

hơng

ạ h ến g n

th

hơng

h c

hơng

ng nh h c p 0,05

4 BÀN LUẬN

4.1 Tình trạng nghiện Internet của sinh viên

Trang 9

trình phỏng vấn.

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để

xác định số hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi:

Với Z = 1,96 (ứng với = 0,05), p = 0,37 [3], = 0,14

tính được N = 334 Dự phòng khoảng 20% đối tượng từ

chối trả lời, cuối cùng cỡ mẫu là 409 hộ gia đình có con

dưới 5 tuổi.

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: mỗi miền chọn ngẫu nhiên 1 tỉnh:

Hòa Bình-miền Bắc, Hà Tĩnh – Miền Trung và Kiên

Giang- Miềm Nam;

Giai đoạn 2: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 xã bao

gồm xã nông thôn, thành thị (thị trấn/phường) và khó

khăn (miền núi/hải đảo): tổng 9 xã;

Giai đoạn 3: mỗi xã chọn 46 hộ gia đình có

con dưới 5 tuổi, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu

tiêu, sau đó lựa chọn các hộ gia đình tiếp theo, theo

phương pháp là “cổng liền cổng”

2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu

Bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và

chỉnh sửa sau khi có thử nghiệm tại Thạch Thất, Hà Nội

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra viên

phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Sai số và khống chế sai số: Sai số do người cung

cấp thông tin bỏ sót hoặc cố tình sai thực tế, để hạn

chế sai số, điều tra viên được tập huấn kỹ, có kinh

nghiệm trong giao tiếp Sau khi kết thúc phỏng vấn,

điều tra viên kiểm tra lại phiếu ngay để không bỏ

sót thông tin Giám sát viên kiểm tra phiếu khi kết

thúc để kịp thời phát hiện sai số và bổ sung kịp thời

sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 11, thống kê mô tả với tỷ lệ

%, thống kê suy luận với kiểm định 2

2.7 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được

tiến hành dưới sự chấp thuận của chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thông tin được hoàn toàn bảo mật và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy

Hình 1 Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/

bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409)

Nhận xét: Gần 80% bà mẹ có kiến thức đúng về

cách cho trẻ ăn/bú khi bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ ở miền núi có kiến thức đúng về cách cho trẻ bú/ăn khi

bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,9%, sau đó đến miền núi và thấp nhất là ở nông thôn với 74,3%

Bảng 1 Lý do không cho trẻ ăn bú bình thường khi bị

tiêu chảy (n=409)

Nội dung

Thành thị Nông thôn Miền núi Tổng p

Người khác khuyên 1 0,7 6 4,3 0 0 6 1,7

0,006 Sợ trẻ bệnh nặng

Nhận xét: Về lý do không cho trẻ ăn bú bình

thường khi bị tiêu chảy, gần 10% người được phỏng vấn cho rằng trẻ bị nặng thêm nếu tiếp tục cho ăn/bú bình thường, trong đó, người dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 12,1%, gấp gần 4 lần so với thành thị Có 1,7% người không cho trẻ ăn/bú bình thường

do người khác khuyên Sự khác biệt này có ý nghĩa

2

2 1

2

1

p P

px

Z

ố g á t ng ạ nh ng tác ộng hơng áng

4.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng

nghiện Internet của đối tượng nghiên cứu

ng 2, ch th ế tố n n ến t nh t ạng

h c, ế h ạch h c t p, th n ch h c ạ

g n nh c ng c ngh n nt n t th p h n

c ngh n nt n t Ch ng t nh h c h n n

th g n h c t n p ph nh th g n nh

nh th g n t h c nh th c ng c

nh n c thích ng nh h c c t

h ng h c t p, t th ộng c h c t p n n

c ế h ạch h c t p ngh n nt n t th p

,9, n h c t p, ếp ạ h c t p, c ch c p

p 0,05

ngh n nt n t th g n t h c g / ng

Trang 10

1 Đặt vấn đề

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em

là hai bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất ở những

nước đang phát triển Ở nước ta, 80% tử vong do tiêu

chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi, bình quân 1 trẻ dưới

5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8-2,2 đợt tiêu chảy, ước

tính hàng năm có 1100 trường hợp tử vong [6], [5]

Về NKHH, trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9

lần, tỷ lệ tử vong do NKHH chiếm 1/3 (30-35%) so

với tử vong chung [1], [4] Tỷ lệ mắc và tử vong của

hai bệnh này rất cao nhưng hoàn toàn có thể hạn chế

bằng cách chủ động phòng tránh tác nhân gây bệnh

và xử lí kịp thời khi bị bệnh Để phòng chống bệnh,

người dân nói chung và người chăm sóc trẻ nói riêng

phải có kiến thức đầy đủ về phòng bệnh và cách xử

lý khi trẻ bị mắc bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong

Chính vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:

“Kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về

phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp

tính ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam”, với

mục tiêu mô tả kiến thức của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về phòng chống tiêu chảy và nhiễm khuẩn

hô hấp ở trẻ em tại một số vùng/miền Việt Nam

năm 2014 Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị phù hợp vào công tác truyền thông phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014 tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Hà Tĩnh và Kiên Giang, đại diện cho

3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi, có tinh thần minh mẫn, tự nguyện, hợp tác trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ: Tinh thần không minh mẫn

hoặc không có mặt tại hộ gia đình trong thời gian nghiên cứu hoặc không tự nguyện, hợp tác trong quá

mothers being able to detect some severe signs of diarrhea and ARI was low Only 6.6% of mothers recognized wrinkled skin signs (14.4 % in urban and 2.1% in rural region, respectively); 11 % of mothers recognized signs of dyspnea (25.9 % in urban and 1.5% in mountainous region) Mothers’ knowledge about prevention of diarrhea and ARI in urban was better than that of mothers in rural and mountain regions.

Keywords: Diarrhea, acute respiratory infections, knowledge, under 5-year-old child.

Tác giả:

1 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Email: thangtcyt@gmail.com

2 Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế

Email: longmoh@yahoo.com

3 CNYTCC4 năm học 2015-2016, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội Email: vietanhmsg1@gmail.com, dinhminhnb01@gmail.com

4 Bộ Y tế

Email: dducthien@yahoo.com, trantuananh2000@yahoo.com

n ch h c ạ h ến g n th c

g n t h c g , h c t nh t ạng ngh n

t n ạng hộ

g n g á t c ộc ống t ng t ng t ng ách

c ách hác

h c ạ h ến g n th c t nh t ạng

h c th ến th ng hơng c th g n

h c t p ng, ph n n th g n h ch

n n t nh t ạng ngh n nt n t c h n các ố

5 KẾT LUẬN

th p 0,05 T ngh n nt n t t ng nh

ngh n nt n t

Ngày đăng: 22/04/2022, 09:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=1098) - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=1098) (Trang 4)
Hình 1. Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư  (n=409) - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
Hình 1. Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409) (Trang 5)
Bảng 2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng nghiện Internet (n=1098) - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
Bảng 2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng nghiện Internet (n=1098) (Trang 6)
1. Đặt vấn đề - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
1. Đặt vấn đề (Trang 6)
Hình 1. Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư  (n=409) - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
Hình 1. Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn/ bú đúng khi bị tiêu chảy phân theo địa dư (n=409) (Trang 7)
1. Đặt vấn đề - Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018
1. Đặt vấn đề (Trang 8)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w