BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HCM KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN – BỘ MÔN KHXH TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM LỚP HP 310001203 GVHD NGUYỄN AN THỤY HỌ VÀ TÊN SV THỰC HIỆN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN – BỘ MÔN KHXH
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
LỚP HP: 310001203
GVHD: NGUYỄN AN THỤY
HỌ VÀ TÊN SV THỰC HIỆN: TRƯƠNG BÙI HOÀI THƯƠNG
MSSV: 19510101208
TP.HCM, NGÀY 05, THÁNG 07, NĂM 2021
Trang 2Câu hỏi thi: Thế nào là văn hóa ứng xử với môi trường xã hội? Trình bày văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Việt ở Nam Bộ.
( SV phải kí tên vào mục Họ và tên SV)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN
TRÚC
TP HỒ CHÍ MINH
Khoa: Khoa Học Cơ Bản
Bộ môn: Khoa Học Xã Hội
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
NĂM HỌC 2020 – 2021
Môn: Cơ sở văn hóa Việt Nam – HK II LỚP HP: 310001203
HỌ TÊN SINH VIÊN: Trương Bùi Hoài Thương MSSV: 19510101208
Bộ môn / Khoa
(Ký duyệt)
Nguyễn Thị Song
Thương
Chữ ký Giảng viên ra đề
Nguyễn An Thụy
Chữ ký giám thị 1 Chữ ký giám thị 2
Chữ ký giảng viên
chấm thi thứ 1 Chữ ký giảng viên chấm thi thứ 2 Điểm số Điểm chữ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG _1 Chương 1 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội _1 Chương 2 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Việt ở Nam Bộ _2 2.1 Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa của người Việt ở Nam Bộ 2 2.1.1 Đạo Hồi trong văn hóa người Chăm _2 2.1.2 Phật giáo tiểu thừa trong văn hóa người Việt, người Khmer 3 2.1.3 Đạo Hòa Hảo _4 2.1.4 Đạo Cao Đài _5 2.2 Điều kiện để tiếp xúc và giao lưu văn hóa ở Nam Bộ _6 2.3 Tổng kết sau quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa ở Nam Bộ _7
TỔNG KẾT _8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa được khẳng định có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và các quốc gia trên thế giới càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý Có nhiều thành tố cấu thành nên nền văn hóa Việt Nam, trong đó có thành tố văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Vậy hiểu như thế nào về thành tố đó và nó tác động đến người Việt như thế nào, mà cụ thể trong bài viết này là người Việt ở Nam Bộ
Nam Bộ là nơi hội tụ của các nền văn hóa Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cư dân nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer…) đến từ khắp mọi miền đất nước (Bắc - Trung - Nam) Điều này chứng tỏ nơi đây có mức độ “tứ xứ” cao nhất nước Nam Bộ còn là nơi gặp
gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á, Việt Nam với thế giới phương Tây, ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau Nằm trên trục giao thông quan trọng, người dân mở rộng giao lưu buôn bán với các vùng khác và cũng luôn mở cửa để đón nhận những yếu tố văn hóa du nhập từ ngoài vào Cũng do quá trình tiếp xúc thường xuyên với thế giới bên ngoài nên đã xảy ra quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa Quá trình đó đã ảnh hưởng đến bộ phận người Việt ở Nam Bộ như thế nào? Và
hệ quả của quá trình này là gì trong đời sống của người Nam Bộ?
NỘI DUNG Chương 1 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội còn có nghĩa là quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa văn hóa Việt Nam với những nền văn hóa bên ngoài Một cộng đồng dân cư không chỉ sống trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên mà còn luôn phải quan hệ với các dân tộc xung quanh, đó là môi trường xã hội Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa là phương thức tồn tại của mọi nền văn hóa, xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau tiếp xúc lâu dài với nhau, hệ quả gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa của một hoặc cả hai bên Có hai hình thức giao lưu và tiếp xúc văn hóa Tiếp thu thụ động: những yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa kia Tiếp thu chủ động: một số yếu tố của nền văn hóa kia được nền văn hóa này vay mượn điều chỉnh, cải biên cho phù hợp, dẫn đến sự giao thoa văn hóa
Trong tiến trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa, nhờ có vị trí địa lý đắc địa trong công cuộc ngoại giao nên Việt Nam đã tiếp nhận nhiều nền văn hóa từ thế giới Cụ thể có ba nền văn hóa tiếp xúc Thứ nhất là Ấn Độ, với sự tiếp nhận nhánh Phật giáo Tiểu thừa trong văn hóa người Việt, người Khmer ở miền Nam; văn hóa người Chăm ở khu vực miền Trung thì tiếp nhận hoàn toàn văn hóa Ấn Độ: Bà la môn giáo Thứ hai là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa với hệ tư tưởng tam giáo: Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo và Nho giáo, thành tựu là chữ
Trang 52
Hán, và chữ Nôm ra đời trên cơ sở chữ Hán Thứ ba là phương Tây: các yếu tố phương Tây tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt trên các lĩnh vực tư tưởng, triết học, tôn giáo (Kitô giáo) cùng những ảnh hưởng khác về mặt giáo dục, giao thông, kiến trúc, khoa học kỹ thuật… mà thành tựu là chữ quốc ngữ
Chương 2 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Việt ở Nam Bộ 2.1 Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa của người Việt ở Nam Bộ
2.1.1 Đạo Hồi trong văn hóa người Chăm
Nhắc đến người Chăm chắc hẳn người ta sẽ nghĩ ngay rằng họ theo đạo Bà la môn Nhưng cộng đồng người Chăm ở miền Nam lại có sự khác biệt Người Chăm ở miền Nam tuyệt đại đa số theo đạo Hồi Ở Thuận Hải (một tỉnh cũ ở khu vực Nam Trung Bộ Việt Nam), số đông người Chăm tín ngưỡng Bà la môn Đó là sự khác nhau giữa người Chăm ở Nam Bộ và người Chăm ở miền Trung Tại Châu Đốc (An Giang), Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, đồng bào chăm xây dựng nhiều thánh đường Hồi Hồi giáo (Islam) mới du nhập vào đồng bào Chăm từ Trung Đông Người Chăm theo Islam phổ biến ở An Giang Những người theo Hồi giáo này có sự liên lạc với Hồi giáo quốc tế, hàng năm có người hành hương đến thánh địa Mecca
Thánh đường Hồi Giáo Jamiul Azhar - làng người Chăm Châu
Ở miền Tây Nam Bộ, thánh đường đẹp nhất là thánh đường làng Châu Giang ở Châu Đốc Trước đây, hàng năm đồng bào Chăm thường cử người sang Mã Lai, Ả Rập Saudi, hoặc Ai Cập để học giáo lý, hoặc cử người đi hành hương ở thánh địa Lamecque (Ả Rập Saudi) Cho đến nay, những tục lệ khắt khe đối với người phụ nữ Chăm theo quy tắc Hồi giáo vẫn còn được duy trì, tuy đã có nhiều đổi thay căn bản Người phụ nữ trước đây ra đường phải có khăn che mặt, nay người phụ nữ ra đường phải có khăn che kín mái tóc hoặc một phần mái tóc Các cô gái Chăm trẻ tuổi lại thay thế khăn dày bằng một lớp khăn voan mỏng che tóc để tô điểm thêm vẻ đẹp của mình, những chùm tóc mai dịu dàng buông rũ
Trang 6
Nét duyên trong trang phụ phụ nữ Chăm
Người Chăm là cộng đồng theo hai tôn giáo khác nhau trong cùng một dân tộc Cộng đồng người Chăm ở Thuận Hải đa số theo Bà la môn giáo có tục lệ tôn thờ bò, còn cộng đồng người Chăm Hồi Giáo ở Nam Bộ lại rất kiêng cữ heo và thịt heo Các tục lệ ma chay, cưới xin đều hoàn toàn khác nhau, tâm lý phân biệt nhau giữa hai cộng đồng người Chăm này trước đây rất sâu sắc Ngày nay, người Chăm vẫn còn có sự phân biệt về tôn giáo, nhưng quá trình gần gũi và gắn kết dân tộc giữa hai cộng đồng Chăm nói trên sau năm 1975 ngày càng được phát triển
2.1.2 Phật giáo Tiểu thừa trong văn hóa người Việt, người Khmer
Trên vùng đất Nam bộ ngày nay, đã từng tồn tại một vương quốc cổ từ thế kỷ I đến thế kỷ VII với tên gọi Phù Nam Trong quá trình tồn tại của mình, cư dân Phù Nam đã tiếp nhận ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ, trong đó có Phật giáo Phật giáo từ Ấn Độ đã du nhập vào Phù Nam khá sớm và phát triển mạnh mẽ vào các thế kỷ IV - VI, để rồi trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn của vùng Đông Nam Á
Từ những năm đầu Công nguyên, các dân tộc ở Đông Nam Á đã rất quen thuộc trong việc trao đổi sản phẩm với các thương nhân Ấn Độ Giới Tăng lữ phái Tiểu thừa (Hinayana) không ngần ngại dấn thân vào những chuyến viễn du đầy hiểm nguy để truyền bá Phật pháp đến những vùng đất xa xôi Họ đã đưa đạo Phật đến Nam Ấn, cũng như đến miền Đông nam
Ấn Độ, dưới chân rặng núi Hy Mã Lạp sơn, xuống Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Phù Nam, Mã Lai bằng đường bộ Mặt khác, từ Nam Ấn, theo đường thủy, đạo Phật theo chân các thương gia phổ biến đến các quần đảo trên Ấn Độ Dương và Đông nam Thái Bình Dương, để rồi hai đường thủy bộ lại hội tụ tại Nam Việt Nam ngày nay, lan truyền ra miền Nam Trung bộ, rồi theo bước chân của người Chăm không ngừng tiến về phía bắc thời Tiền Đại Cồ Việt
Phật giáo tiểu thừa là tín ngưỡng chính của toàn dân Khmer ở Nam Bộ Từ nhiều thế
kỷ trước ở Nam Bộ đã có những ngôi chùa Phật phái Tiểu thừa được xây dựng, tập trung nhiều nhất ở tỉnh Cửu Long (ví dụ chùa Ông Mẹt ở Trà Vinh…) Hầu hết người Khmer từ
Trang 74
trẻ con đến người lớn đều có thể xem là những tín đồ Phật giáo Nguyện vọng sâu xa của người Khmer là cuối đời được lên cõi Phật Chùa Phật không chỉ là nơi tu hành mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa, nơi học hành, nơi hội họp của dân làng, nơi giải quyết những vụ kiện tụng trong gia đình và trong thôn xóm mà các vị sư là người đứng ra làm nhiệm vụ hòa giải
và phán quyết Các sư sãi Khmer có tục khất thực vào buổi sáng Người Việt gọi Phật giáo tiểu thừa là đạo Phật nguyên thủy Trên cơ sở những khảo cứu về văn hóa Óc Eo – Phù Nam cho thấy, nền văn hóa này “thấm đẫm tinh thần Phật giáo”
Chùa Dơi (Sóc Trăng), chùa Ông Mẹt (Trà Vinh)
Nóc chùa được thiết kế theo tổng thể hình tam giác cân, phía trước có hình tượng Đức Phật và hộ giá bởi rắn Naga hai bên Ở mỗi ngôi chùa Khmer, chính điện được xây theo hướng Đông - Tây với quan niệm Đức Phật luôn ngự ở phía Tây nhìn về hướng Đông mà ban phúc lộc, cứu độ chúng sinh Nóc chùa được thiết kế theo một tổng thể hình tam giác cân, mái chùa có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc Ở bốn góc nóc mái chính điện được trang trí hình tượng bốn đuôi rồng uốn lượn tạo cảm giác uyển chuyển, mềm mại cho ngôi chùa
2.1.3 Đạo Hòa Hảo
Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà (thờ cúng tổ tiên)
đã tạo nên Phật giáo Hòa Hảo, còn gọi là Đạo Hòa Hảo
Người sáng lập là giáo chủ Huỳnh Phú Sổ Ra đời từ năm 1940 và được phát triển mạnh sau khi Nam Kỳ khởi nghĩa bị thất bại, thực dân Pháp khủng bố trắng ở nông thôn Nam Bộ, Hòa Hảo là tên một làng trồng lúa ở vùng Long Xuyên nay thuộc tỉnh An Giang Đạo kế thừa truyền thống của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (1848) và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa: Ân
Trang 8cha mẹ; Ân đất nước; Ân tam bảo, ảnh hưởng từ Phật giáo, nghĩa là phật, pháp, tăng; Ân đồng bào, nhân loại
Triết lý của đạo mộc mạc, lễ thức đơn giản chỉ thờ một tấm trần điều, hương hoa, nước lã tại gia không có nơi thờ tự công cộng, thích hợp với tâm lý và tình cảnh của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long.Và cũng lại chính vùng đất Nam Bộ trong thời kỳ tiến hành hai cuộc kháng chiến cho đến nay, nảy sinh và phát triển những đạo mới trong đó có đạo Đạo Hòa Hảo thờ cúng tổ tiên và những người anh hùng hào kiệt dân tộc và địa phương được nhân dân ái mộ Nông dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ phần lớn đều theo đạo Hòa Hảo Riêng tỉnh An Giang có hơn 1 triệu tín đồ, chiếm 85,4% dân số toàn tỉnh
2.1.4 Đạo Cao Đài
Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh
Đạo Cao Đài biểu hiện cho tính dung hợp văn hóa Đông - Tây Tên gọi đầy đủ là Đại Đạo tam kì phổ độ, là một tôn giáo dân tộc hình thành khi mà hàng loạt phong trào yêu nước lần lượt bị đàn áp, các tôn giáo đã không đủ lấp chỗ trống trong lòng Xuất hiện ở miền Đông Nam Bộ năm 1926, được một nhóm trí thức và giới thượng lưu thời Pháp thành lập, hỗn hợp giáo lý của các tôn giáo đương thời nhuốm màu sắc Đạo giáo về nội dung và phương pháp hành lễ, lấy kinh nghiệm tổ chức đạo của Công giáo, tôn Đấng Chí tôn ngồi trên đài trên cao như một Đấng tối cao, đứng trên các vị sáng lập các tôn giáo Đông Tây theo nguyên tắc Tam giáo đồng nguyên, ngũ chi hợp nhất (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo, Công giáo và đạo Phong thần của Khương Tử Nha) Thánh thất Cao Đài nổi tiếng nhất là thánh thất Tây Ninh Ở Nam Bộ, đạo Cao Đài có 2 phái: Tây Ninh và Bến Tre Phần lớn các vùng nông nghiệp trù phú, ruộng hai mùa năng suất cao, nơi đô thị và thị trấn đông dân đều
có thánh thất Trước năm 1975, Đạo Cao Đài chỉ hoạt động tôn giáo và là một tôn giáo có đông đạo hữu ở nông thôn Biểu tượng thiêng liêng nhất của Cao Đài là con mắt thiêng chiếu sáng hào quang, thờ tam thánh Mắt trái tượng trưng cho mắt trời, được gọi là Thiên
Trang 96
nhãn, đặt trên quả cầu vũ trụ (càn khôn) Biểu tượng cho tâm linh vô hình (tâm tại nhãn) Mắt Trời soi xét tất cả, không việc gì không biết, tín đồ nhìn vào Thiên Nhãn thấy như đang nhìn vào chính cõi tâm linh của mình Chức sắc được phân cấp rõ rệt bằng màu áo, mũ từ màu trắng đến màu vàng, màu xanh, màu đỏ Ở miền Đông Nam Bộ và miền Trung Nam Bộ
có nhiều tín đồ Cao Đài hơn miền Tây
Thiên Nhãn, phía dưới Thiên Nhãn là một ngôi sao lớn, đó là sao Bắc đẩu, trung tâm của Càn Khôn Vũ Trụ Đây là nơi ngự của Đức Chí Tôn nên phải vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên sao Bắc đẩu Hai bên sao Bắc đẩu có
vẽ mặt trời và mặt trăng Hợp lại là Nhật, Nguyệt, Tinh Đó là Tam bảo của Trời; Ngũ chi đại đạo (hàng trên cùng, từ trái sang: Lão Tử, Thích
Ca, Khổng Tử, hàng thứ hai: Quan Âm, Lí Thái Bạch, Quan Đế, hàng thứ ba: Giê su, hàng thứ tư: Khương Thái Công; Bảy cái ngai, đặt phía dưới các Đấng, sơn son thếp vàng: ngai giữa lớn nhất là ngôi Giáo Tông, 3 ngai kế dưới dành cho 3 vị Chưởng Pháp ba phái Thái – Thượng – Ngọc,
3 ngai kế dưới nữa dành cho 3 vị Đầu Sư ba phái
(Bức tranh Cao Đài Tam Thánh: Tôn Dật Tiên, Victo Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm, ở lối vào chính của tòa thánh)
2.2 Điều kiện để tiếp xúc và giao lưu văn hóa ở Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đất mới so với bề dày lịch sử của dân tộc, là vùng đất nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, có bờ biển dài, nhiều bến cảng, sông ngòi, rất thuận lợi cho việc giao lưu với các nước, các vùng miền trong khu vực và trên thế giới Tính mở của một vùng đất mới góp phần tạo nên phong cách người Nam Bộ: năng động, sáng tạo, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, dễ tiếp thu cái mới Từ vị thế địa lý, văn hóa của Nam Bộ, đã làm cho cho nơi đây trở thành trung tâm giao lưu và tiếp biến văn hóa, là điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo từ nơi khác truyền đến
Tính cách truyền thống của văn hoá Việt Nam, theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, có năm đặc trưng chính: Thiên về âm tính; Ưa hài hòa; Tính tổng hợp; Tính cộng đồng; và Tính linh hoạt Mà nhận thấy sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa với các nền văn hóa nước ngoài dựa trên những đặc trưng ấy
Trang 10Tính bao dung: Các tôn giáo khác nhau vẫn tôn trọng nhau và cùng tồn tại với mật độ cao nhất nước Ngay từ thời Phù Nam đã có sự dung hòa đạo Phật với đạo Bà-la-môn; trong đạo Bà-la-môn, người Phù Nam tổng hợp hai thần Visnu và Siva thành thần Harihara với đầu hai nửa, một nửa là mặt Siva và nửa kia là mặt Visnu Thời người Việt, dung hòa Tam giáo với tín ngưỡng dân gian Lục Vân Tiên xuất thân là Nho sinh, khi gặp nạn thì nương nhờ cửa Phật, được ông Cọp và Sóng Thần cứu giúp (tín ngưỡng dân gian), rồi cuối cùng được Tiên ông (Đạo) chữa mắt sáng lại Hiện nay thì dung hòa mọi tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Bà-la-môn, đạo Hồi, đạo Hoà Hảo, đạo Cao Đài Nam Bộ là nơi có số lượng tôn giáo phong phú nhất nước
Tính năng động: Sự hình thành văn hoá Nam Bộ, trong cả thời gian lẫn không gian,
đã gặp tính mở - thoáng và tính năng động của phương Tây Một trong những hệ quả của tính năng động là khả năng dễ tiếp nhận cái mới Trong ẩm thực, các món ăn như lẩu, mì xào, hủ tiếu xào là tiếp thu của người Hoa; những món cà ri dê, cà ri gà là tiếp thu từ người Chăm Hồi giáo Trong phong tục, người Việt cũng hỏa thiêu và gửi tro trong tháp chùa theo cách của người Khmer; người Khmer cũng chôn huyệt đất theo cách của người Việt Trong tôn giáo tín ngưỡng, ngoài các đạo Cao Đài, Hoà Hảo, người Nam Bộ còn chấp nhận cả nhiều đạo kỳ lạ như đạo Dừa, đạo Chuối, đạo Ngồi Ông Địa Nam Bộ cũng dễ dàng theo thời mà chuyển qua hút thuốc đầu lọc ba số, uống cà phê điểm tâm Hệ quả của tính năng động là tính sáng tạo Do linh hoạt nên cái mới tiếp thu vào nhanh chóng được cải tiến, thích nghi Thời Phù Nam, một số tượng Di Lặc, Quan Âm đã được địa phương hóa bằng cách cho mang xà rông che tới đùi hoặc hết chân
2.3 Tổng kết về quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa ở Nam Bộ
Hệ quả về một vị trí địa lý thuận lợi trong việc giao lưu và tiếp xúc văn hóa đã làm cho vùng đất Nam Bộ có sự đa dạng về tôn giáo Một vài tộc người thiểu số có mặt sớm ở Nam Bộ như Khmer, Chăm đã đóng góp vào sự đa dạng tôn giáo bằng những tôn giáo riêng của tộc người đó là Islam giáo, Bàlamôn giáo trong người Chăm và Phật giáo Nam tông trong đồng bào Khmer
Sự đa dạng của tôn giáo trên vùng đất Nam Bộ không chỉ thể hiện ở nhiều loại hình tôn giáo có mặt ở đây mà còn thể hiện ở sự đa dạng về tổ chức giáo hội, phong phú về lễ nghi tôn giáo, sự giao lưu, tiếp biến và hỗn dung tôn giáo, tín ngưỡng rất đặc sắc Ngày nay, các tôn giáo ở Nam Bộ cũng đang biến đổi theo hướng gắn bó hơn với đời sống hiện thực, tham gia vào những vấn đề khó khăn mà đời sống xã hội đang đặt ra để góp phần giải quyết, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn tại trần gian Các tôn giáo có một điểm chung là giáo lý các tôn giáo đều giáo dục người tín đồ yêu thương con người Đó là lòng từ bi của Đức Phật được thấm nhuần từ lâu đời thành truyền thống Phật giáo Việt Nam: “Từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, lợi lạc quần sanh” Đó là pháp môn Học Phật - Tu Nhân của Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, trong đó nhấn mạnh phần Tu Nhân, dạy phải tu tâm sửa tánh để thành người