1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGỮ VĂN 8

21 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 272 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND TỈNH THÁI NGUYÊN ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TRƯỜNG THCS DƯƠNG THÀNH ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Tên sáng kiến “Một số kinh nghiệm dạy – học văn nghị luận ở trường THSC Dương Thành” Tác gi[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

Trang 2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Phú Bình

Nơi công tác (hoặc

nơi thườngtrú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo

ra sáng kiến

(ghi rõ đốivới từngđồng tác giả,nếu có)

1 Phạm Thị Thơm 23/08/1990 THCS

Dương Thành

Giáo viên

Đại học

sư phạmVăn Sử

100%

1.2 Tên sáng kiến:

“Một số kinh nghiệm dạy – học văn nghị luận ở trường THSC Dương

Thành”

2 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Dương Thành

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Sáng kiến này được áp dụng trong lĩnh

vực dạy và học, cụ thể ở đây là đổi mới phương pháp dạy - học

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Sáng kiến

được áp dụng từ năm học 2018 - 2019 (bắt đầu triển khai thử nghiệm từ ngày15/08/2018)

5 Mô tả bản chất của sáng kiến:

5.1 Về nội dung của sáng kiến:

Các bước thực hiện sáng kiến được tiến hành cụ thể như sau:

- Bước 1: Khảo sát tình hình thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy - học

văn nghị luận trong các nhà trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Bước 2: Nghiên cứu đặc điểm của văn nghị luận và tìm ra những giải pháp

về đổi mới phương pháp dạy - học văn nghị luận

- Bước 3: Ứng dụng vào thực tế dạy - học văn nghị luận ở Trường THCS

Dương Thành

- Bước 4: Tổng kết, đánh giá và rút ra kết luận chung, đề xuất những giải

pháp

Mô tả cụ thể nội dung của sáng kiến như sau:

a Thực trạng của việc dạy - học văn nghị luận ở Trường THCS Dương Thành nói riêng và các trường THCS trên địa bàn tỉnh thái Nguyên nói chung.

Trang 3

Nghiên cứu và phân tích thực trạng của việc dạy - học văn nghị luận ởTrường THCS Dương Thành và các trường THCS trên địa bàn tỉnh TháiNguyên, có thể rút ra một số kết luận như sau:

- Một số giáo viên và phần lớn học sinh chưa xác định đúng đặc diểm củaphân môn Tập làm văn và đặc trưng cơ bản của kiểu bài nghị luận

- Khi dạy về phương pháp làm bài văn nghị luận, một số giáo viên chưachú ý nhiều đến việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu, phân tích mẫu Một sốgiáo viên khác, tuy có chú ý tới việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu, phân tíchmẫu song còn máy móc, chỉ sử dụng các mẫu sẵn có trong sách giáo khoa, chưatìm tòi các mẫu khác sao cho phong phú, đa dạng; từ đó dễ dẫn tới tình trạng họcsinh viết bài văn nghị luận rập khuôn theo một mẫu nào đó

- Vốn kiến thức xã hội và kiến thức văn học phục vụ cho yêu cầu làm mộtbài văn nghị luận của học sinh rất hạn chế Trong khi đó nhiều giáo viên chưachú ý cung cấp thêm các kiến thức cho học sinh, chưa hướng dẫn học sinh tự tìmhiểu thêm các kiến thức ngoài Sách giáo khoa vì hiện nay, các trường đều có cácphòng máy được kết nối mạng, thuận tiện cho học sinh tìm hiểu thêm về văn họcqua Thư viện điện tử và tìm hiểu thêm các kiến thức xã hội qua các thông tintrên mạng

- Khi dạy văn nghị luận, giáo viên chủ yếu đặt ra yêu cầu học sinh viếtđúng (dù là đúng y như mẫu), chưa đặt ra yêu cầu sáng tạo cho học sinh Họcsinh nào viết đúng mẫu thì dễ đạt điểm cao Học sinh nào viết theo phong cáchriêng (có sáng tạo) thì lại dễ bị đánh giá với điểm số chưa cao Từ đó tạo chohọc sinh thói quen chạy theo điểm số, làm y như thầy, cô hướng dẫn, thui chộtnăng lực sáng tạo của các em

- Dạy - học văn nghị luận chưa gắn với thực tiễn đổi mới phương pháp dạyhọc là nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen chủ động, tích cực, tự giác tronghọc tập, phát huy mọi năng lực sẵn có của học sinh, gắn việc học kiến thức củachủ đề gắn với việc học tập các kiểu bài khác, các phân môn khác, các môn họckhác, và gắn với thực tiễn đời sống xã hội (Ví dụ như dạy - học dạng bài nghịluận văn học ngoài việc giúp học sinh làm tốt bài kiểm tra theo yêu cầu củachương trình còn phải rèn luyện cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, năng lựccần thiết để các em cảm nhận và học tốt các tác phẩm văn chương… )

- Dạy - học văn nghị luận với tư cách là một kiểu bài trong chương trìnhTập làm văn, đòi hỏi việc chấm bài, chữa bài hết sức nghiêm túc với sự tận tụycủa người thầy nhưng thực tế nhiều giáo viên còn xem nhẹ việc chấm và chữabài Từ đó hạn chế hiệu quả của việc dạy và học

b Đặc trưng của phân môn Tập làm văn và một số đặc điểm cơ bản của văn nghị luận

b.1 Đặc trưng của phân môn Tập làm văn

- Tâp làm văn là một môn thực hành tổng hợp

+ Trước hết, Tập làm văn là một môn thực hành Chương trình Tập làmvăn đưa ra chủ yếu là nội dung thực hành Ngay đối với những tiết lí thuyết ít ỏithì lí thuyết ấy cũng là lí thuyết thực hành Nghĩa là lí thuyết được rút ra từnhững ví dụ, những bài văn mẫu cụ thể

Trang 4

+ Nhưng thực hành trong tập làm văn khác với thực hành của môn TiếngViệt hay các môn Toán, Vật lí, Hóa học… Thực hành trong tập làm văn là thựchành tổng hợp bởi học sinh phải vận dụng nhiều loại kiến thức (kiến thức vănhọc, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức lịch sử, kiến thức xã hội và một số kiến thứckhác), kết hợp nhiều loại kĩ năng (kĩ năng phân tích đề, kĩ năng tìm ý, kĩ nănglập dàn ý, kĩ năng viết bài Chỉ xét riêng kĩ năng viết bài cũng phải kể tới lựachon luận cứ tiêu biểu, kĩ năng lập luận, kĩ năng dùng từ, kĩ năng đặt câu, kĩnăng viết đoạn văn, kĩ năng liên kết câu và liên kết đoạn văn…).

Tính chất thực hành tổng hợp trong tập làm văn còn thể hiện ở sự phongphú, đa dạng về hình thức thực hành: gồm cả nói và viết, viết tại lớp, viết ở nhàhoặc viết ở các chuyến đi thực tế

- Tập làm văn là một một phân môn có khả năng phát huy được nhiều nhất các năng lực sẵn có của học sinh, nhất là năng lực sáng tạo.

Để tạo lập một văn bản, học sinh phải huy động nhiều loại kiến thức, kếthợp nhiều loại kĩ năng nên cũng từ đó mà phát huy được nhiều nhất các năng lựcsẵn có như năng lực quan sát, năng lực phán đoán, năng lực hợp tác, năng lựcchia sẻ, năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực thuyết trình… Mỗi văn bản tập làm văn là sự sáng tạo riêng của người viết, mang đậm dấu

ấn cá nhân của người viết Ngay kể cả kiểu bài nghị luận, dù có tuân thủ theomột cách thức làm bài, sử dụng một phương thức biểu đạt như nhau, sử dụngmột phương pháp lập luận như nhau nhưng mỗi văn bản của mỗi người viết vẫnkhác nhau về cách lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ, cách diễn đạt, hành văn Đóchính là sự sáng tạo riêng để tạo ra những văn bản khác biệt nhau

- Tập làm văn cho phép sự sáng tạo không ngừng

Sự sáng tạo không ngừng thể hiện ở chỗ đã có nhiều người viết về một vấn

đề nhưng vẫn vấn đề ấy, có thể hàng triệu người khác tiếp tục viết về nó

Sự sáng tạo không ngừng trong Tập làm văn còn thể hiện ở chỗ ngay viết

về một vấn đề đối với một cá nhân, có thể viết đi viết lại nhiều lần theo nhiềucách diễn đạt, hành văn khác nhau

b.2 Một số đặc điểm của kiểu bài nghị luận

Văn nghị luận là một trong sáu kiểu văn bản được hình thành trong thực tếđời sống và được đưa vào dạy- học trong chương trình Tập làm văn trung học cơ

sở (6 kiểu bài gồm: miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và văn bản

điều hành) và là kiểu bài được phân bố nhiều tiết học nhất (lớp 7 học 18 tiết, lớp

8 học 12 tiết, lớp 9 học 19 tiết) và tiếp tục được tìm hiểu sâu hơn, rèn luyện vớiyêu cầu cao hơn ở bậc trung học phổ thông

Văn bản nghị luận là một loại văn bản được tạo lập theo phương thức biểuđạt đặc trưng riêng, một cách hành văn riêng, nhằm mục đích riêng Cụ thể:

* Mục đích tạo lập kiểu văn bản nghị luận: nhằm thuyết phục người đọc,

người nghe về một vấn đề nào đó đang được bàn luận theo tư tưởng, quan điểmriêng của mình

* Đặc điểm về ngôn ngữ: văn bản nghị luận có 3 đặc trưng cơ bản về ngôn

ngữ:

Trang 5

- Tính đại chúng: tức là phải hướng tới đông đảo công chúng người đọc,

người nghe, từ đó đòi hỏi việc sử dụng ngôn ngữ phải giản dị, dễ hiểu, là ngônngữ mang tính toàn dân

- Tính thuyết phục: văn bản nghị luận phải thuyết phục được người đọc,

người nghe hiểu được, tin và làm theo tư tưởng, quan điểm mà người viết dưa

ra Từ đó đòi hỏi phải luận luận chặt chẽ, ngôn ngữ phải giàu sắc thái biểu cảm(cho phép sử dụng rộng rãi các phép tu từ )

- Tính riêng về phong cách cá nhân: mỗi văn bản nghị luận phải mang

đậm dấu ấn cá nhân từ việc đưa ra luận điểm, việc sử dụng các luận cứ, việc kếthợp các cách lập luận, các phương thức biểu đạt đến việc lựa chọn từ ngữ, đặtcâu, viết đoạn văn, tu từ…

* Phương thức biểu đạt: Phương thức biểu đạt chính của văn nghị luận

là nghị luận Nghị luận là cách trình bày vấn đề bằng cách đưa ra ý kiến, quan

điểm riêng của người viết để bàn luận, đánh giá nhằm thuyết phục người đọc,người nghe Ý kiến, quan điểm mà người viết đưa ra được trình bày dưới dạngluận điểm Và để làm sáng tỏ những luận điểm đã đưa ra, người viết dùng một

hệ thống luận cứ được lấy trong đời sống văn học hoặc trong thực tiễn cuộcsống Đồng thời, để liên kết các luận điểm, luận cứ thành một mạch văn chặtchẽ, thóng nhất và có sức thuyết phục, người viết sử dụng các phương pháp lậpluận như giải thích, chứng minh, bình luận, bình giảng, phân tích, tổng hợp… Trong bài văn nghị luận, để làm tăng tính hấp dẫn, tính thuyết phục, ngườiviết còn sử dụng kết hợp một số phương thức biểu đạt khác như miêu tả, biểucảm, thuyết minh, tự sự

* Hai yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận: Từ phân tích trên, có thể xác

định, hai yếu tố cơ bản tạo nên văn bản nghị luận là luận điểm và luận cứ.

- Luận điểm là ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề được bàn luận.

Luận điểm thường được trình bày bằng một câu khẳng định hoặc phủ định

và thường được đặt ở đầu đoạn văn (trình bày theo cách diễn dịch) hoặc cuốiđoạn văn (trình bày theo cách quy nạp)

Ví dụ 1 : “Đời người phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu

trước giông tố” (Trích “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”)

Ví dụ 2: Truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện

thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

- Luận cứ: Luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng mà người viết đưa ra để

làm sáng tỏ luận điểm ( Trong ví dụ 1 hướng dẫn học sinh lấy dẫn chứng trongcuộc sống hàng ngày và trong các tác phẩm văn học, ví dụ 2 hướng dẫn học

sinh lấy dẫn chứng về các chi tiết và hình ảnh tiêu biểu trong tác phẩm Chiếc

lược ngà của Nguyễn Quang Sáng để làm sáng tỏ động tình cha con sâu nặng

và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh)

Luận cứ cũng có thể là ý kiến của người khác về vấn đề hoặc yếu tố tự sự

mà người viết đưa vào bài văn

* Các phương pháp lập luận thường được sử dụng trong văn nghị luận:

Trang 6

- Giải thích: Giải thích là phương pháp lập luận mà người viết chủ yếu

dùng hệ thóng lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề

- Chứng minh: Chứng minh là cách lập luận mà người viết chủ yếu dùng

hệ thống dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề

- Phân tích: Phân tích là cách lập luận bằng đánh giá, xem xét từng mặt,

từng khía cạnh của vấn đề một cách chi tiết, cụ thể

- Tổng hợp: Tổng hợp là cách lập luận bằng cách khái quát lại vấn đề.

Tổng hợp thường đi liền với phân tích, nghĩa là sau khi đã phân tích vấn đề thìphải tổng hợp lại vấn đề

* Bố cục của một bài văn nghị luận: thường gồm ba phần:

- Mở bài (đặt vấn đề): Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (luận điểm xuất

phát, tổng quát)

- Thân bài (giải quyết vấn đề): trình bày nội dung chủ yếu của bài viết

(các luận điểm phát triển)

- Kết bài (kết thúc vấn đề): Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái

độ, quan điểm của bài

c Đổi mới phương pháp dạy- học văn nghị luận được ứng dụng tại Trường THCS Dương Thành

c.1 Một số phương pháp dạy - học văn nghị luận được nghiên cứu và ứng dụng

* Phương pháp nghiên cứu và phân tích mẫu

Nghiên cứu và phân tích mẫu vốn là một thao tác không thể thiếu trongdạy- học tập làm văn Ở đây, chúng tôi coi nghiên cứu và phân tích mẫu là mộtphương pháp đặc thù trong dạy - học tập làm văn nói chung và dạy - học vănnghị luận nói riêng

Nghiên cứu và phân tích mẫu có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúphọc sinh tìm hiểu được phương pháp làm một bài văn nghị luận, học tập đượccách thức làm bài từ những văn bản mẫu để vận dụng vào việc tạo lập các vănbản nghị luận

Nghiên cứu và phân tích mẫu gồm một số thao tác chính sau đây:

- Lựa chọn mẫu để nghiên cứu và phân tích

Mẫu được lựa chọn để nghiên cứu, phân tích phải đạt được các yêu cầu sau: + Phù hợp với dạng bài văn nghị luận đang học tập (nghị luận về hiệntượng đời sống,, vấn đề xã hội, về tư tưởng, đạo lí, hay nghị luận văn học); phùhợp với từng nội dung tiết học (tìm hiểu chung hay tìm hiểu đề, tìm ý, hay viếtđoạn văn…)

+ Mang tính tiêu biểu Nghĩa là mẫu ấy phải là các bài văn, đoạn văn nghịluận hay, sáng tạo, độc đáo, giàu sức thuyết phục

+ Mang tính toàn diện Nghĩa là phải có nhiều mẫu khác nhau cho từngyêu cầu hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng khác nhau

+ Phong phú và đa dạng: Cùng một nội dung kiến thức và kĩ năng cần rènluyện cần cho học sinh tìm hiểu nhiều mẫu khác nhau, của nhiều tác giả khácnhau để các em học tập được nhiều phong cách nghị luận khác nhau, từ đó tìm

ra cho mình một sự sáng tạo riêng

Trang 7

- Nghiên cứu và phân tích mẫu: Nghiên cứu và phân tích mẫu được tiến

hành qua các bước:

+ Bước chuẩn bị ở nhà: Học sinh đọc thật kĩ mẫu, tập trả lời các câu hỏi

theo gợi ý, hướng dẫn của giáo viên khi giao nhiệm vụ ở nhà cho học sinh

+ Bước tìm hiểu tại lớp: Giáo viên cho một số học sinh (2 đến 3 em) đọc

lại mẫu, các học sinh khác chú ý theo dõi; sau đó cho HS thảo luận theo nhómhoặc thảo luận chung cả lớp để tìm hiểu về mẫu rồi tổng hợp và rút ra kết luận,rút ra những cái hay cần học tập từ những mẫu đã phân tích

Ví dụ như khi dạy tiết 128 bài “Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ bàithơ” (Ngữ văn 9 – học kì II), yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà chu đáo đọc kĩ lại

đề bài trong sách giáo khoa, nghiên cứu kĩ và tập trả lời các câu hỏi theo gợi ýcủa sách giáo khoa Bước tìm hiểu trên lớp được tiến hành: Học sinh chú đọcthầm lại văn bản mẫu HS thảo luận theo nhóm theo các câu hỏi gợi ýthảo luận chung cả lớp rút ra ghi nhớ

* Phương pháp bổ trợ kiến thức

Như trên đã đề cập, hai yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận là luận điểm vàluận cứ Trong các luận cứ, có một bộ phận quan trọng là các dẫn chứng đượclấy từ trong văn học hoặc trong đời sống xã hội Vì thế, việc cung cấp và làmgiàu có thêm vốn kiến thức văn học và kiến thức xã hội là khâu không thể thiếutrong dạy- học văn nghị luận

- Đối với các kiến thức văn học:

Trên thực tế, hiện nay, sự hiểu biết về văn học của học sinh còn rất hạn chế(một phần do các em không ham mê tìm hiểu văn học mà bị lôi cuốn vào nhữngtrò chơi điện tử hoặc phim ảnh, ca nhạc; một phần là do thư viện của các trường

ở một huyện nông thôn như Phú Bình rất nghèo nàn, rất thiếu các tác phẩm vănhọc hay của các thời kì) Vì thế việc làm phong phú thêm vốn hiểu biết về tácphẩm văn chương là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên, do hiện nay áp lực họctập về các môn học của học sinh là rất lớn, để đảm bảo cho học sinh có thể phân

bố thời gian hợp lí cho việc học tập giữa các bộ môn, giữa học tập với nghỉ ngơi

và vui chơi giải trí là điều không dễ Để khắc phục thực trạng này, chúng tôi dựavào ưu thế của văn chương có một chức năng quan trọng là chức năng giải trí

Do đó việc cung cấp thêm kiến thức về các tác phẩm văn chương khác đượcchúng tôi tiến hành theo cách gắn với giải trí Chẳng hạn, với những kiến thức

về thơ, chúng tôi tổ chức thi đọc tho, ngâm thơ, hoặc chọn những bài thơ đã phổnhạc để cho học sinh thi hát; với những kiến thức về tác phẩm truyện, có thể tổchức thi kể chuyện theo chủ đề, thể loại, chẳng hạn tổ chức “Đêm cổ tích” để

HS thi kể chuyện, sắm vai về các truyện cổ tích nổi tiếng của văn học Việt Nam

và nước ngoài, tổ chức “Về miền huyền thoại” để học sinh thi kể về các tácphẩm liên quan đến những nhân vật huyền thoại, những chiến trận oai hùng.Cách làm này chắc chắn sẽ gây hứng thú với học sinh hơn nhiều bằng cách bắtcác em học thuộc lòng những bài thơ, những truyện ngắn một cách máy móc

- Đối với các kiến thức lịch sử, xã hội, cách cung cấp kiến thức cho học

sinh cũng nên phải sáng tạo dưới hình thức tổ chức những hoạt động ngoại khóa,những chuyến đi thực tế, tổ chức thi tìm hiểu…

* Phương pháp thu thập và xử lí thông tin

Trang 8

Để tạo lập một văn bản nghị luận, người viết có cả một kho dữ liệu luận

cứ Song không thể đưa mọi luận cứ vào bài văn mà phải có lựa chọn Thu thập

và xử lí thông tin trong dạy- học văn nghị luận tức là quá trình học sinh thu thậpcác lí lẽ, dẫn chứng được dùng làm luận cứ cho bài viết và lựa chọn những lí lẽ,dẫn chứng phù hợp nhất, tiêu biểu nhất để đưa vào bài văn nhằm làm sáng tổluận điểm

Thu thập và xử lí thông tin được tiến hành với một số thao tác cụ thể nhưsau:

- Tập hợp các luận cứ

- Lựa chọn các luận cứ tiêu biểu, thích hợp

- Sắp xếp các luận cứ cho phù hợp với từng luận điểm

Ví dụ khi hướng dẫn HS làm bài văn nghị luận theo chủ đề “Lỗi lầm và lòng biết ơn” Với luận cứ là các dẫn chứng, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lựa chọn những dẫn chứng: Thực tế nhân dân ta đã luôn ghi nhớ công ơn của người đi trước hay của người lao động , chúng ta có rất nhiều ngày thể hiện đạo lí ấy như: 20/11/ 27/7, 10/3, lễ vu lan Dân tộc Việt tha thứ cho kẻ thù như

Lê Lợi tha thứ cho quân Minh, người Việt Nam tha thứ cho Pháp, Mĩ, bây giờ còn bắt tay hợp tác với cả những nước từng xâm lược Việt Nam

Hoặc khi hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận văn học về chủ đề về vẻ

đẹp của thơ ca :Có ý kiến cho rằng: “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ

ngữ”

Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ nhận định trên quamột số bài thơ em yêu thích? Có thể sử dụng các đoạn trích của Truyện Kiềuhoặc một số bài thơ tiêu biểu như Đồng chí, Bài thơ tiểu đội xe không kính, Ánhtrăng, Đoàn thuyền đánh cá…)

Tất nhiên đây là những kiến thức mà học sinh đã có qua quá trình bổ trợ kiếnthức)

* Phương pháp thực hành, luyện tập

Thực hành - luyện tập là một phương pháp cơ bản và quan trọng trong học tập làm văn nói chung và dạy- học văn nghị luận nói riêng Thực hành-luyện tập phải được tiến hành ở mọi khâu, mọi bước làm bài, với mọt hệ thốngbài tập từ dễ đến khó, từ chuyên đề đến bài viết tổng hợp, hoàn chỉnh

- Các bài tập thực hành gồm:

+ Các bài tập thực hành nghiên cứu và phân tích mẫu để củng cố lí thuyết,hiểu sâu thêm về văn nghị luận và học tập được cách thức làm bài văn nghị luận + Các bài tập thực hành để rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề

+ Các bài tập thực hành để rèn luyện kĩ năng tìm ý và lập dàn ý

+ Các bài tập thực hành viết đoạn văn để rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn

và liên kết đoạn văn, phát triển năng lực sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ, tronglập luận

+ Các bài thực hành luyện nói để rèn luyện năng lực thuyết trình

Trang 9

+ Các bài tập thực hành viết bài văn nghị luận hoàn chỉnh để rèn luyệntổng hợp nhiều loại kĩ năng.

+ Các bài tập chữa bài (chữa lỗi chính tả, lõi dùng từ, đặt câu, lỗi liên kết,lỗi lập luận…) từ chính những bài viết của học sinh để phát triển năng lực tựnhận xét, tự đánh giá, tự điều chỉnh

+ Các bài tập vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống đặt ratrong thực tiễn cuộc sống

- Tổ chức thực hành - luyện tập:

+ Thực hành- luyện tập trong các tiết tìm hiểu về văn nghị luận: thường làcác bài tập nghiên cứu - phân tích mẫu và các bài tập viết ngắn như viết đoạnvăn

+ Thực hành - luyện tập trong các tiết viết bài, kiểm tra: làm theo yêu cầu

Thực hành luyện tập ở nhà, ngoài các bài tập theo yêu cầu của chươngtrình, giáo viên chú ý thêm các bài tập vận dụng kiến thức liên môn để giảiquyết tình huống đặt ra trong thực tiễn (thực tiễn ô nhiễm môi trường, phá hủylàm cạn kiệt nguồn tài nguyên, thực tiễn tha hóa, xuống cấp về đạo đức xã hội,thực tiễn chủ quyền đất nước bị xâm phạm, đe dọa…) Những bài tập này khôngchỉ giúp học sinh rèn luyện được các kĩ năng, phát triển được các năng lực màcòn góp phần giúp học có trách nhiệm hơn với cuộc sống, đảm bảo nguyên lícủa đổi mới giáo dục là gắn lí thuyết với thực tiễn cuộc sống, gắn dạy chữ vớidạy người

5.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến

a Những giải pháp đã được ứng dụng vào đổi mới phương pháp dạy học văn nghị luận ở Trường THCS Dương Thành trong năm học qua và hiệu quả đem lại.

a.1 Những giải pháp đã được ứng dụng vào đổi mới phương pháp dạy học văn nghị luận ở Trường THCS Dương Thành trong năm học 2018-2019

* Giải pháp thứ nhất: Tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

Do thực trạng của đội ngũ giáo viên dạy Ngữ văn ở Trường THCS DươngThành còn nhiều hạn chế nên bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được coi là giải phápđầu tiên, là cơ sở để có thể thực hiện đổi mới dạy - học văn nghị luận Nhận thức

rõ vấn đề nên tôi mạnh dạn đề xuất với Ban giám hiệu và Tổ chuyên môn để đẩymạnh và tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

- Đối tượng tham gia bồi dưỡng: gồm tất cả những giáo viên được đào tạo

về chuyên ngành Ngữ văn

Trang 10

- Nội dung bồi dưỡng bao gồm cả kiến thức khoa học và các kĩ năng cầnthiết phục vụ dạy văn nghị luận, phương pháp dạy - học văn nghị luận.

+ Về kiến thức khoa học: vừa bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về bộ mônđược đào tạo, vừa bồi dưỡng những kiến thức liên môn, tích hợp cần thiết ngoài

bộ môn (kiến thức của các môn học khác có liên quan, kiến thức thực tiễn trongđời sống xã hội, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ hiện nay, kiến thức về tinhọc, ngoại ngữ…)

+ Về kĩ năng làm bài văn nghị luận: Giáo viên dạy văn nghị luận chỉ có thểnội dung này khi bản thân họ có kĩ năng làm bài văn nghị luận tốt bởi nếukhông có kĩ nang làm bài văn nghị luận tốt làm sao có thể hướng dẫn học sinhrèn luyện các kĩ năng làm bài văn nghị luận cũng như làm sao có thể đánh giáđược mức độ đạt được của học sinh về kiến thức, kĩ năng và phát triển năng lực.giáo viên dạy Ngữ văn phải được bồi dưỡng, rèn luyện về tất cả các kĩ năng như

kĩ năng ra đề, kĩ năng tìm hiểu đề, kĩ năng tìm ý và lập dàn ý, kĩ năng viết đoạnvăn, kĩ năng liên kết đoạn văn, kĩ năng viết bài văn hoàn chỉnh, kĩ năng tự đánhgiá, nhận xét về bài làm

+ Kĩ năng chấm bài: Kĩ năng chấm bài (thậm chí còn có thể coi là nănglực) là một kĩ năng quan trọng cần bồi dưỡng cho giáo viên

+ Phương pháp dạy - học văn nghị luận: Ngoài việc bồi dưỡng cho giáoviên các phương pháp dạy - học văn nghị luận theo phương pháp đặc trưng như

dã nêu ở mục 5.1 ý c, cần bồi dưỡng thêm cho giáo viên kĩ năng dạy học theo lốiphân hóa, kĩ năng dạy học tích hợp, kĩ năng hướng dẫn học sinh nghiên cứukhoa học và vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống đặt ratrong thực tiễn cuộc sống…

- Hình thức bồi dưỡng: bao gồm cả bồi dưỡng tập trung và tự bồi dưỡng + Bồi dưỡng tập trung được tổ chức qua các sinh hoạt chuyên đề ở tổ bộmôn, ở nhóm (mỗi tháng từ 1 đến 2 buổi)

+ Tự bồi dưỡng được coi là hình thức bồi dưỡng chính vì sinh hoạtchuyên đề không chỉ dành một nội dung là đổi mới phương pháp dạy - học vănnghị luận, mà còn nhiều nội dung khác

* Giải pháp thứ hai: Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh để bổ

trợ kiến thức, rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực về văn nghị luận và một

số năng lực khác cho các em

- Một số hoạt động ngoại khóa cần được tổ chức:

+ Tìm hiểu thực tế tình hình môi trường, tình hình kinh tế, xã hội ở địaphương và trên phạm vi cả nước để tăng cường hiểu biết cho học sinh về các vấn

đề đời sống, xã hội, ccs vấn đề về tư tưởng, đạo lí

+ Tổ chức những đêm thơ, đêm nhạc, các cuộc thi kể chuyện, thi tìm hiểu

về văn học để tăng cường vốn kiến thức về văn chương cho học sinh

+ Tổ chức các diễn đàn, các buổi thi diễn thuyết, hùng biện với tính chấtbài văn nghị luận luyện nói để rèn luyện, phát triển một số năng lực cho họcsinh

* Giải pháp thứ ba: Làm tốt hơn nữa việc chấm bài và chữa bài cho học

sinh

Ngày đăng: 22/04/2022, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Bước 1: Khảo sát tình hình thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy- học văn nghị luận trong các nhà trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGỮ VĂN 8
c 1: Khảo sát tình hình thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy- học văn nghị luận trong các nhà trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Trang 2)
Sau đây là bảng so sánh kết quả thi học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn trước và sau khi ứng dụng sáng kiến - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGỮ VĂN 8
au đây là bảng so sánh kết quả thi học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn trước và sau khi ứng dụng sáng kiến (Trang 13)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w