1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM ĐÀI LOAN

87 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Hợp Tác Kinh Tế Việt Nam - Đài Loan
Tác giả Ths. Lờ Văn Tớch
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Không có thông tin
Thể loại Không có thông tin
Năm xuất bản Không có thông tin
Thành phố Không có thông tin
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 502 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PAGE QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM ĐÀI LOAN Ths Lê Văn Tích më ®Çu 1 Lý do chän ®Ò tµi Toàn cÇu ho¸ mµ cèt lâi lµ toµn cÇu ho¸ kinh tÕ ®ang trë thµnh mét xu thÕ tÊt yÕu trong tiÕn tr×nh vËn ®éng cña thÕ giíi ®­¬ng ®¹i Héi nhËp vµ hîp t¸c trë thµnh ®éng lùc quan träng ®Ó thóc ®Èy sù ph¸t triÓn kinh tÕ x héi cña mçi quèc gia Trong ®ã, quan hÖ hîp t¸c kinh tÕ gi÷a c¸c n­íc lµ mét bé phËn kh«ng thÓ thiÕu trong tiÕn tr×nh héi nhËp khu vùc, quèc tÕ Trong t×nh h×nh ®ã, viÖc c¸c.

Trang 1

QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - ĐÀI LOAN

Trong tình hình đó, việc các nớc không ngừng mở rộng quan hệ vớinhau đã trở thành một yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết và quan hệ hợp táckinh tế Việt Nam - Đài Loan không nằm ngoài tiến trình vận động đó

Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan dù chỉ mới diễn ra saukhi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, song qua những số liệu công bốcủa các cơ quan hữu quan cho thấy Đài Loan đang ngày càng chiếm một vị tríquan trọng trong tổng số FDI vào Việt Nam Theo thông báo mới nhất của Bộ

Kế hoạch và Đầu t ngày 09/04/2007 thì Đài Loan hiện xếp thứ 3 sau Singapo

và Hàn Quốc có vốn đầu t tính đến ngày 22/02/2007 là gần 29 tỉ USD(chỉ tínhnhững dự án còn hiệu lực) với 6.992 dự án Tuy, không đợc gần nhau về địa lýnhng giữa Việt Nam và Đài Loan lại có nhiều điểm tơng đồng về văn hoá,lịch sử Đều là những nớc đi lên từ điểm xuất phát thấp kém của nền nôngnghiệp lạc hậu, ít hoặc nhiều chịu ảnh hởng của văn hoá Nho giáo Kể từ khiViệt Nam thực hiện đờng lối đổi mới năm 1986, nhất là từ khi Việt Nam banhành luật đầu t nớc ngoài cho đến nay, mối quan hệ hợp tác phi chính phủgiữa Việt Nam - Đài Loan trên các lĩnh vực phát triển nhanh chóng Trên lĩnhvực thơng mại, Đài Loan hiện là bạn hàng đứng thứ 5 của Việt Nam sauTrung Quốc, Nhật Bản, Mĩ, Singapo với kim ngạch thơng mại đạt gần 6 tỷUSD(2006) Trên lĩnh vực xuất khẩu lao động, Đài Loan là một trong nhữnglãnh thổ có số công nhân lao động Việt Nam đông nhất (năm 2006 là hơn46.000 ngời)

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Đài Loan đợc mệnh danh là một trong

bốn “con rồng” châu á, có nền kinh tế, khoa học - kỹ thuật phát triển Vì vậy việc

nghiên cứu quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan sẽ rút ra đợc những bài

Trang 2

học cần thiết về kinh nghiệm quản lý, tổ chức… phục vụ cho mục tiêu CNH- phục vụ cho mục tiêu HĐH của Việt Nam Với Việt Nam, mặc dù trong 20 năm tiến hành đổi mới đã

CNH-đạt đợc những thành tựu quan trọng về kinh tế-xã hội, đa nớc ta ra khỏi tình trạng

của nớc kém phát triển; đợc bạn bè quốc tế đánh giá là “ngôi sao đang lên ở khu vực châu á” Tuy nhiên, so với các nớc trong khu vực thì chúng ta cần phải nỗ lực

nhiều hơn nữa mới có thể đuổi kịp họ Chính vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hợptác kinh tế Việt Nam - Đài Loan sẽ gợi mở đợc ít nhiều kinh nghiệm trong xâydựng và phát triển đất nớc

Trên ý nghĩa đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá trình hợp tác kinh tếViệt Nam - Đài Loan không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà đã trở thànhmột yêu cầu cần thiết để góp phần thúc đẩy có hiệu quả hơn nữa sự phát triểnchung giữa hai bên Đó là lý do chúng tôi nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đài Loan trên thực tế là một quốc gia độc lập có chủ quyền nhng donhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là sự phức tạp của xu hớng thế giới đa cựctrong vài chục năm trở lại đây đã làm cho quan hệ ngoại giao của Đài Loanvới các nớc khác thờng chỉ là quan hệ phi chính phủ và Việt Nam trong quan

hệ với Đài Loan cũng không nằm ngoài bối cảnh đó Chính vì thế mà cáccông trình nghiên cứu về Đài Loan rất hạn chế Có chăng chỉ là những côngtrình nghiên cứu mang tính chất khu biệt nào đó mà cha thấy những nghiêncứu về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Đài Loan Có thể phân chia các loạicông trình nh sau

Loại công trình do các tác giả nớc ngoài viết, các tác giả nớc ngoài chủyếu là các tác giả ở Đài Loan hoặc các tác giả Đại lục viết nh: Hứa Cực Đôn

(1996), Lịch sử phát triển cận đại Đài Loan, NXB Tiền Vệ; Trơng Thắng Ngạn (1996), Lịch sử hình thành và phát triển của Đài Loan, NXB Đại học Không Trung; Cao Hy Quân và Lý Thành (1994), Bốn mơi năm kinh nghiệm của Đài Loan, NXB Đà Nẵng dịch và giới thiệu; Trì Điền - Triết Phu- Hồ Hân(1997), Đài Loan nền kinh tế siêu tốc và bức tranh cho thế kỷ sau, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội; Giang Bỉnh Khôn(1995), Kinh tế Đài Loan vấn

đề và đối sách, NXB KHXH Hà Nội… phục vụ cho mục tiêu CNH- Nội dung của các công trình chủ yếu đềcập về đất nớc Đài Loan nói chung, về quá trình phát triển kinh tế - xã hội, về cácbiện pháp, cách quản lý để đa Đài Loan trở thành một nền kinh tế siêu tốc, thành

Trang 3

“con rồng”… phục vụ cho mục tiêu CNH- Mà cha đề cập gì đến sự phát triển của Đài Loan trong quan hệ

t-ơng tác với Việt Nam

Loại công trình do các nhà nghiên cứu trong nớc viết nh: Nguyễn Huy

Quý(1995), Kì tích kinh tế Đài Loan, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội; Phạm Thái Quốc(1997), Kinh tế Đài Loan tình hình và chính sách, NXB KHXH Hà Nội; Phùng Thị Huệ(2000), Quá trình phát triển kinh tế xã hội Đài Loan(1949-1996), Luận án Tiến sĩ, Trờng ĐHKHXH và Nhân văn; Đỗ Tiến Sâm(chủ biên) (2006), Đài Loan trớc và sau khi gia nhập WTO kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Thế Giới Hà Nội… phục vụ cho mục tiêu CNH- Nội dung của các công trình này cũnggiống nh nội dung nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài nh đã nói ở trên, phầnnghiên cứu chủ yếu của họ là nói về các chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội,hoặc lý giải nguyên nhân phát triển của Đài Loan chứ cha đề cập đến quá trìnhhợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan

Các công trình dới dạng bài viết đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu

mà chủ yếu nhất là Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc nh: Dơng Văn Lợi

(2002), Quan hệ mậu dịch Việt Nam- Đài Loan: Mô thức phân công quốc tế Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2 và 3; Nguyễn Trần Quế(2003), Vai trò của Đài Loan trong phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới và triển vọng Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 5; Nguyễn Liên Hơng(2002), Bớc đầu tìm hiểu lĩnh vực hợp tác lao động giữa Việt Nam- Đài Loan Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 6; Nguyễn Đình Liêm (1995), Quan hệ kinh tế Việt Nam-Đài Loan trong bối cảnh chung của chính sách hớng nam Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3; Hoài Nam (2002), Triển vọng hợp tác phi chính phủ Việt Nam và lãnh thổ Đài Loan Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc

số 3… phục vụ cho mục tiêu CNH- ngoài ra còn một số bài viết dới dạng các tác phẩm báo chí đăng rảirác trên các tờ nhật báo ở Việt Nam Nội dung của các bài viết này đã đề cập

đến quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan nhng chỉ đề cập đến quan

hệ hợp tác mang tính chất từng mặt, từng bộ phận ở một vài lĩnh vực chuyênbiệt hoặc các chính sách, định hớng nào đó của hai bên mà cha có công trìnhnào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện có hệ thống quá trình hợp táckinh tế của Việt Nam và Đài Loan

Tuy nhiên, những công trình nói trên, dù cách tiếp cận ở góc độ, quan

điểm và mức độ nào cũng đều có tác dụng là những t liệu tham khảo, bổ sungmột cách phong phú và bổ ích để luận văn đợc ho n th nh

Trang 4

3 Phạm vi nghiên cứu và nguồn t liệu

mà chỉ tập trung làm nổi bật đối tợng và phạm vi nghiên cứu của mình là quátrình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan dới giác độ sử học Đặc biệt là quátrình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan từ năm 1990 đến 2006

Sở dĩ chúng tôi lấy năm 1990 làm mốc xuất phát nghiên cứu, vì đây làthời điểm Đài Loan bắt đầu có nhiều dự án đầu t vào thị trờng Việt Nam, lànăm mở đầu của thập kỷ 90, một thập kỷ có nhiều thay đổi và biến động Hơnnữa, Năm 1990 là thời điểm sau 5 năm chính phủ Việt Nam thực hiện đờnglối mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Kể từ đó, không chỉ với lãnh thổ ĐàiLoan mà Việt Nam còn có quan hệ hợp tác thơng mại và đầu t với nhiều quốcgia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới Đối với mốc kết thúc 2006, vì một là,

đây là thời gian gần nhất với thời điểm mà chúng tôi tiến hành nghiên cứuluận văn này; hai là năm 2006 là năm chẵn của Việt Nam sau 20 năm đổimới, chúng ta đã tiến hành tổng kết nhiều vấn đề về quá trình phát triển kinh

tế – xã hội Vấn đề hợp tác với nớc ngoài là một trong những nội dung quantrọng cần đợc tổng kết và đúc rút, trong đó có quan hệ hợp tác giữa Việt Nam

- Đài Loan

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tối chú trọng đến nhiều chính sáchkinh tế đối ngoại của cả hai bên cũng nh kết quả đạt đợc trong hai lĩnh vựcchủ yếu là thơng mại và đầu t Thông qua quá trình và kết quả của sự hợp tác

đó, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra đợc những mặt làm đợc và cha làm đợc donhững nguyên nhân chủ quan của cả hai bên Từ đó, góp một vài kiến nghị,

đề xuất với những ngời có chức trách và các cơ quan hữu quan để có những

điều chỉnh kịp thời bằng những chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô nhằm đẩymạnh tốc độ phát triển, nâng cao hiệu quả hợp tác của hai bên ngày càng đạt

đợc những thành tựu to lớn hơn

3.2 Nguồn t liệu

Trang 5

Phần lớn t liệu phục vụ cho nghiên cứu luận văn là t liệu bằng tiếng ViệtNam, bao gồm sách dịch của các tác giả nớc ngoài mà chủ yếu là tác giả ngờiTrung Quốc; một số tác giả phơng Tây khác và các tác giả trong nớc viết Nhữngtác phẩm này đã đợc công bố hợp pháp trên thị trờng do những nhà xuất bản có uytín ấn hành trong khoảng thời gian từ 1990 đến nay.

Loại t liệu thứ hai là những thông tin, bảng biểu do tác giả trực tiếp lấy

đợc trong quá trình tìm kiếm tài liệu do các cơ quan hữu quan cung cấp nhCục Đầu t Nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t; Tổng cục Thống kê; Văn phòng

đại diện Kinh tế - Văn hoá Đài Bắc tại Hà Nội; Bộ Thơng mại… phục vụ cho mục tiêu

CNH-Loại t liệu thứ ba là các bài viết đăng trên các tạp chí, nhật báo của ViệtNam; mạng thông tin toàn cầu… phục vụ cho mục tiêu CNH- Trong đó, các bài viết chủ yếu nhất viết về ĐàiLoan là ở Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc của Viện Khoa học- Xã hội

Ngoài ra, tác giả còn trực tiếp tiếp cận đợc với một số doanh nhân ĐàiLoan đang làm việc tại Việt Nam, một số ngời Việt Nam trực tiếp làm việctrong các dự án của các nhà đầu t Đài Loan

Dù cho những nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc là cha đầy đủ,song đó là những nguồn t liệu tơng đối phong phú, đáng tin cậy để tác giảhoàn thành luận văn của mình

4 Phơng pháp nghiên cứu

Nh đã nói ở phần trên, đề tài này trực tiếp nghiên cứu đến quan hệ kinh

tế, song cách tiếp cận (phơng pháp nghiên cứu) của chúng tôi không chú trọngnhiều những yếu tố “kỹ thuật” của kinh tế học mà cơ bản và chủ yếu nhất làphơng pháp luận sử học, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử của Triết học Mác-Lênin làm nền tảng Trong đó tính lịch đại đợc sửdụng nh một dòng mạch chính để làm nổi bật những vấn đề mà luận văn quantâm

Cùng với phơng pháp lịch sử là chủ yếu, chúng tôi còn kết hợp với cácphơng pháp khác nh phơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp… phục vụ cho mục tiêu CNH- nhằm so sánh

sự phát triển của quá trình hợp tác đó tiến triển theo từng năm, hoặc 5 năm,

10 năm để thấy đợc tốc độ phát triển nhanh, chậm và nguyên nhân dẫn đến sựnhanh chậm đó là gì Từ đó đa ra những kết luận mang giá trị nh là những giảipháp nhằm khắc phục hoặc tiếp tục phát huy quá trình hợp tác Đồng thời

Trang 6

thông qua phơng pháp này chúng ta có thể so sánh đợc quá trình hợp tác kinh

tế Việt Nam - Đài Loan có gì khác, nổi bật, hiệu quả hoặc hạn chế hơn so vớiquá trình hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các quốc gia, khu vực khác Từ

đó có thể gợi ra những kinh nghiệm về hợp tác kinh tế có thể tham khảo.Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thống kê để làm nổi bật hơn nữaquá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan

5 Những đóng góp của luận văn

Dựng lại bức tranh toàn cảnh có hệ thống về quá trình hợp tác kinh tếViệt Nam - Đài Loan từ 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu nhất là quá trìnhhợp tác thơng mại và đầu t giữa hai bên

Từ bức tranh toàn cảnh về quá trình hợp tác, luận văn muốn góp phần

bổ sung những t liệu cần thiết cho việc nghiên cứu về quá trình hợp tác hợptác kinh tế Việt Nam – Đài Loan

Thông qua những số liệu mà luận văn tổng hợp đợc sẽ nêu lên nhữngthành tựu, hạn chế cũng nh nguyên nhân của quan hệ hợp tác kinh tế ViệtNam - Đài Loan Đa ra một vài phân tích dựa trên những phán đoán của mình

Từ đó, tác giả cũng mạo muội rút ra một số bài học kinh nghiệm nho nhỏ nh

-ng cần thiết cho việc điều chỉnh chiến lợc hợp tác kinh tế giữa hai bên để làmsao đẩy mạnh quá trình hợp tác ngày càng có hiệu quả hơn nh mong muốncủa nhân dân Việt Nam và Đài Loan

Trang 7

nội dung

Ch ơng 1

kinh tế Việt Nam - Đài Loan

Những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI đangchứng kiến những thay đổi cha từng thấy trong lịch sử nhân loại Sự phát triển

của CNTT đã và đang từng bớc làm “phẳng” thế giới, ngoại trừ một vài quốc gia đang cố “núp” mình trong những vỏ ốc mỏng mảnh, số còn lại dờng nh tất cả đang chịu sự tác động nh vũ bão của “Chủ nghĩa Toàn cầu” Những tác

động đó vừa nh đang mở ra khả năng vô tận cho sự phát triển của nền sảnxuất thế giới, vừa tạo ra những thách thức không nhỏ cho những quốc gia cónền kinh tế thấp kém, chậm phát triển Thực tiễn hai mơi năm đổi mới củaViệt Nam đang từng bớc chứng minh con đờng đổi mới hội nhập là hoàn toàn

Trang 8

đúng đắn, phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới Đúng nh

nhận định của nghị quyết đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam: “ Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nớc tham gia,

vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh ”

Thực tiễn đó đặt ra những đòi hỏi cấp bách đối với nhân dân ta, đất nớc

ta rằng, Việt Nam cần có những cải cách đột phá hơn nữa để hội nhập vàocộng đồng kinh tế thế giới và quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - ĐàiLoan không nằm ngoài yêu cầu đó Nội dung của chơng 1 chúng tôi phân tíchcơ sở hay là những nhân tố tác động đến quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam -

Đài Loan Từ những cơ sở đó cho phép chúng ta đa ra những phân tích, tổnghợp về thành tựu và hạn chế trong sự hợp tác của cả hai bên trên lĩnh vực kinh

tế thơng mại, đầu t ở chơng 2 và chơng 3

1.1 Tình hình và chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam

1.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam

Ngày 30/4/1975 trở thành một trong những sự kiện trọng đại nhất củalịch sử dân tộc, kết thúc giai đoạn đất nớc bị chia cắt lâu dài, đem lại nền hoàbình, độc lập, thống nhất đất nớc Đó là cơ hội lớn để nớc ta bắt tay vào côngcuộc xây dựng và phát triển đất nớc Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp, bịchiến tranh tàn phá nặng nề, cộng với những sai lầm trong các chính sáchkinh tế… phục vụ cho mục tiêu CNH- đã làm cho nền sản xuất đình trệ nghiêm trọng, hàng hoá khanhiếm, giá cả đắt đỏ, ngân sách tài chính ngày càng lạm phát và thâm hụt ởmức cao, giá trị sản xuất không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng… phục vụ cho mục tiêu CNH- làm cho đờisống nhân dân gặp nhiều khó khăn Thu nhập quốc dân chỉ bằng 80 - 90% chitiêu quốc gia [3, 15] Toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phảidựa vào nguồn viện trợ của nớc ngoài Nguồn viện trợ của nớc ngoài chiếmtới 38,2% tổng thu ngân sách và bằng 61,9% tổng số thu trong nớc Mặc dù,

đến những năm 1981-1985 hai số liệu tơng ứng có giảm (22,4% - 28,9%)

nh-ng vẫn cha có đợc sự cải thiện đánh-ng kể nào Tronh-ng khi đó nhữnh-ng bạn hành-ngtruyền thống, những nớc tài trợ chủ yếu cho nớc ta đang đứng trớc nhữngnguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng Nớc ta đứng trớc tình thế vô cùng khókhăn

Trang 9

Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã đa

ra chủ trơng đổi mới toàn diện đất nớc trong đó trọng tâm là đổi mới về t duy,

đổi mới về phơng cách lãnh đạo, đặc biệt là đổi mới về t duy kinh tế Chính

đờng lối đúng đắn đó đã “cứu” nớc ta thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế

-xã hội, tránh đợc sự sụp đổ không đáng có đã xảy ra nh các nớc Liên Xô và

Đông Âu

Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới bớc đầu đã đạt đợcnhững thành tựu quan trọng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hớng xuấtkhẩu Tấn dầu thô đầu tiên đợc khai thác vào năm 1986, đến năm 1989 đã xuất

đợc 1,5 triệu tấn Trớc năm 1989, lợng gạo xuất khẩu không đáng kể thì đếnnăm 1989 chúng ta đã xuất khẩu đợc 1,5 triệu tấn, nâng tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam lần đầu tiên đạt gần 2 tỉ USD Một con số dù cha phải

là lớn nhng cả chục năm trớc đó chúng ta cha hề đạt đợc Tuy vậy, cho đếnnhững năm đầu thập kỷ 90, khi bớc vào thực hiện chiến lợc 10 năm (1991-2000), đất nớc vẫn cha bớc ra khỏi cuộc khủng hoảng Nhờ triển khai mạnh mẽ

đờng lối đổi mới toàn diện, năm 1995 hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt đợc

kế hoạch Đất nớc thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đa

n-ớc ta chuyển sang một giai đoạn phát triển mới

Từ năm 1996 đến năm 2000, kinh tế Việt Nam đã đạt đợc nhịp độ tăngtrởng cao Tốc độ tăng trởng GDP bình quân từ 1990 đến 2000 là 7,5% GDPcủa năm 2000 tăng gấp 2 lần năm 1990 [11]

Sắp xếp hợp lý sự phát triển của các thành phần kinh tế, theo đó, kinh tếnhà nớc ngày càng giảm đi (năm 1990 là 12.084, đến tháng 6 năm 2005 còn2.980 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nớc), đóng góp 39% GDP [3, 70]

Kinh tế t nhân ngày càng phát triển, đặc biệt là từ sau khi luật doanhnghiệp ra đời năm 2000 Đến năm 2005 cả nớc có khoảng 108.300 doanhnghiệp đăng ký, đa tổng doanh nghiệp đăng ký lên khoảng 150.000, gấp 2 lần

Kế hoạch và Đầu t) Năm 2005 khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5%

Trang 10

tổng thu ngân sách, 17,1% tổng vốn đầu t xã hội, 35% giá trị sản xuất côngnghiệp, thu hút hơn nửa triệu lao động [3, 71].

Nhờ vào chính sách chuyển dịch theo hớng xuất khẩu đã làm cho nềnkinh tế Việt Nam giai đoạn này đạt đợc tốc độ tăng trởng rất cao Tăng trởngGDP trung bình cho cả thời kỳ 1991-1995 là 8,77%; năm 1996 là 9,3% GDPbình quân đầu ngời đã đạt từ 168 USD năm 1991 lên 310 USD năm 1996 và

10 năm sau đó GDP bình quân đầu ngời đã tăng hơn gấp đôi với 720 USDnăm 2006 Về cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh theo hớng CNH -HĐH Từ năm 1988 đến nay, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDPtăng nhanh và liên tục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%, năm

2003 là 40%… phục vụ cho mục tiêu CNH-) Từ chỗ trớc năm 1986, chúng ta cha khai thác đợc dầu đến

2005 chúng ta đã khai thác đợc 20 triệu tấn/ năm Tỉ trọng nông nghiệp trongGDP năm 1988 là 46,3% thì năm 2003 chỉ còn 21,8% và năm 2005 là 20,5%[3, 73]

Trên đây là những thành tựu đạt đợc của đất nớc ta qua 20 năm đổimới Có đợc thắng lợi đó là nhờ vào đờng lối lãnh đạo đúng đắn của ĐảngCộng sản Việt Nam từ nghị quyết Đại hội Đảng VI đến Đại hội Đảng X Nó

đã tạo ra sức bật to lớn, gặt hái đợc những thành công “đầy ắp” và toàn diện

trong năm 2006

Năm 2006, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã thành công rực rỡ vớinhững quyết sách, chiến lợc đúng hớng, đa đất nớc trong vòng 5 năm (2006 -2010) ra khỏi tình trạng kém phát triển, có thu nhập đạt mức trung bình củathế giới (theo quy định của Liên hợp quốc năm 2007, một nớc đợc coi là kémphát triển nếu thu nhập GDP bình quân đầu ngời cha đạt 850 USD/ngời/năm).Phấn đấu đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020 Trong năm

2006, mọi chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra đều đạt và vợt mức, tăng ởng GDP đạt mức 8,17% Kinh tế đối ngoại đạt một lúc 3 kỷ lục: Kim nghạchxuất khẩu gần chạm ngỡng 40 tỉ USD; đầu t nớc ngoài vợt ngỡng 10 tỉ USD

tr-và tài trợ nớc ngoài cũng vợt ngỡng 4 tỉ USD (Báo Nhân dân Xuân Đinh hợi, 2007) Đặc biệt là trên lĩnh vực đối ngoại, có bốn sự kiện nổi bật là: Việt Nam

trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO); tổ chức

và chủ trì thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14; đợc Mĩ thông quaquy chế thơng mại bình thờng vĩnh viễn (PNTR) và đợc Hạ viện Mĩ rút tên rakhỏi danh sách các nớc đợc quan tâm đặc biệt về tôn giáo; đợc hầu hết các n-

Trang 11

ớc châu á nhất trí đề cử làm Uỷ viên không thờng trực Hội đồng Bảo an LiênHợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và tháng 10/2007 đã đợc trúng cử với sốphiếu gần nh tuyệt đối Cũng đồng thời với tuần lễ cấp cao APEC là một loạtcác nguyên thủ của các quốc gia lớn thăm chính thức nớc ta nh Mĩ, Nhật Bản,Trung Quốc, Nga… phục vụ cho mục tiêu CNH- Đó là sự kiện lịch sử lớn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt

Nam đồng thời thể hiện “tâm thế” ngày càng quan trọng của Việt Nam trên

tr-ờng quốc tế Có thể khẳng định rằng, những thắng lợi của năm 2006 đã đa nớc ta

đứng trớc những cơ hội “vàng” để dân tộc ta, non sông đất nớc ta nhanh chóng vơn ra “biển lớn”

1.1.2 Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế của Việt Nam

Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nớc ta đứng trớc mộthoàn cảnh hết sức khó khăn Cơ chế quản lý tập trung bao cấp đã làm cho nềnsản xuất của đất nớc ngày càng đình trệ, tụt hậu dẫn đến nguy cơ khủnghoảng nghiêm trọng Trong tình hình nguy kịch đó, tháng 12 năm 1986 Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đa ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc.Bao gồm đổi mới t duy, đổi mới tổ chức cán bộ, phong cách lãnh đạo, làmviệc, đặc biệt Đại hội nhấn mạnh phải đổi mới t duy, trớc hết là t duy kinh tế

Với phơng châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã đề ra ba chơng trình kinh tế lớn là lơng thực - thực phẩm,

hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Xem đó là mũi nhọn phát triển kinh tếtrong thời kỳ mới; Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xâydựng cơ chế quản lý mới, kích thích phát triển sản xuất hàng hoá, xoá bỏ tình

trạng “ngăn sông cấm chợ”, chia cắt thị trờng… phục vụ cho mục tiêu CNH-Đại hội VI đã đánh dấu một b

-ớc ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở n-ớc ta, tạo ra b-ớc độtphá lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới, đa nớc ta vợt qua giai đoạn khókhăn nhất để tiến lên

Đờng lối đổi mới của Đại hội Đảng VI đã mở ra thời cơ mới cho đất nớc,bớc đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới Nó là nền tảng, cơ sở cho những bớc

đổi mới sâu rộng hơn nữa đợc đa ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VII,VIII, IX và X Trong đó, đại hội Đảng VIII đã khẳng định đờng lối nhất quán

trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “ Thực hiện nhất quán đờng lối

đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Việt Nam sẳn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng

đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Trang 12

Những phân tích, tổng kết trong các nghị quyết đại hội Đảng là nềntảng lý luận vô cùng quan trọng đợc đúc rút từ thực tiễn 20 năm đổi mới, là

ánh sáng soi đờng đa con thuyền cách mạng Việt Nam tiến nhanh ra biển lớn

đúng nh nghị quyết Đại hội Đảng X khẳng định: “ Thực hiện nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam muốn là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng

đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

Quan điểm chỉ đạo trong nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng là cơ sở quantrọng để nớc ta liên tục đa ra những điều chỉnh về các chính sách kinh tế phùhợp với sự phát triển của kinh tế thế giới Thừa nhận sự phát triển kinh tế hànghoá theo quy luật của kinh tế thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa; cho phép

sự tồn tại của các thành phần kinh tế, trong đó phát triển kinh tế t nhân là chiếnlợc kinh tế lâu dài; ban hành nhiều chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo nhữnghành lang pháp lý nh: luật Đầu t nớc ngoài, luật Doanh nghiệp, cho phép Đảngviên làm kinh tế t nhân… phục vụ cho mục tiêu CNH-

Nhờ đờng lối đổi mới đúng đắn, Việt Nam đã xác lập đợc quan hệ ổn

định với các nớc lớn và hầu hết tất cả các nớc đều coi trọng vai trò của ViệtNam ở khu vực Đông Nam á; đã ký Hiệp định hợp tác với EU (1995); thoả

thuận với Trung Quốc khung khổ quan hệ với mời sáu chữ “vàng”: Láng

giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hớng tới tơng lai (1999);tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lợc với Nga (năm 2001); khung khổ quan

hệ đối tác tin cậy và ổn định lâu dài với Nhật Bản (năm 2002); bình thờng hoáquan hệ với Mĩ, mở ra một thị trờng hợp tác rộng lớn Khi tuyên bố bỏ cấmvận cho Việt Nam, Tổng thống Mĩ Bill Clinton đã công bố với toàn thể nhân

dân Mĩ rằng: “Giờ đây chúng ta có thể tiến tới một nền tảng chung Bất kể những gì chia rẽ chúng ta trớc đây, chúng ta hãy xếp vào quá khứ Hãy để cho giờ phút này là một thời điểm để hàn gắn và kiến tạo ” (Thời báo kinh tếViệt Nam, số 85, 17/7/2000) Đó là thắng lợi lớn trong chính sách ngoại giaocủa nhà nớc ta

Chính chủ trơng đờng lối đổi mới toàn diện và sâu sắc nh đã kể trên là

định hớng quan trọng cho quá trình hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nớctrên thế giới Điều này đã góp phần chi phối mạnh mẽ chiều hớng hợp táckinh tế ngày càng phát triển giữa Việt Nam - Đài Loan

Trang 13

1.2 Tình hình kinh tế và chính sách kinh tế đối ngoại của Đài Loan

1.2.1 Tình hình kinh tế của Đài Loan

Đài Loan là tên gọi chung của vùng lãnh thổ bao gồm 86 hòn đảo lớnnhỏ khác nhau với tổng diện tích khoảng 36.000 km2, thuộc vùng biển phía

Đông Nam Trung Quốc Phía Đông giáp với Thái Bình Dơng, phía Tây đốidiện với tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) qua eo biển Đài Loan, phía Nam cáchPhilippin khoảng 350 km, phía Bắc giáp với biển Hoa Đông, cách Nhật Bảnkhoảng 1.070km [19,13]

Về mặt hành chính, Đài Loan có 2 thành phố trực thuộc Viện Hànhchính là Đài Bắc và Cao Hùng; 5 thành phố thuộc tỉnh là Đài Trung, Đài Nam,Cơ Long, Tân Trúc và Gia Nghĩa; 16 huyện là Đài Bắc, Nghi Lan, Đào Viên,Tân Trúc, Miêu Lật, Đài Trung, Chơng Hoá, Nam Đầu, Vân Lâm, Gia Nghĩa,

Đài Nam, Cao Hùng, Bình Đông, Đài Đông, Hoa Liên và Bành Hồ [19, 16]

Về mặt lịch sử, cho đến cuối thế kỷ XV Đài Loan thời cổ đại thuộc đếchế Trung Hoa, nhng từ đầu thế kỷ XVI, các nớc phơng Tây nh Bồ Đào Nha,

Hà Lan, Vơng quốc Anh… phục vụ cho mục tiêu CNH- bắt đầu dòm ngó và thay nhau xâm chiếm ĐàiLoan Sau cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1895) với Điều ớc Mã Quan, TrungQuốc đã cắt nhợng lãnh thổ Đài Loan cho Nhật Bản và Nhật Bản thống trịtrong gần nửa thế kỷ Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đài Loan trở về TrungQuốc dới quyền cai trị của Quốc dân Đảng Đến năm 1949, khi cuộc nộichiến lần thứ III kết thúc, Quốc dân Đảng thất bại bỏ chạy ra đảo Đài Loan vàchiếm giữ chủ quyền cho đến nay[19, 20]

Về tình hình kinh tế của Đài Loan có thể chia thành các giai đoạn sau:

Từ thời “lập quốc” năm 1949 đến năm 1962 Đây là giai đoạn Đài Loan vừa ra

khỏi cuộc chiến tranh, để có thể khôi phục nhanh chóng tình trạng suy thoái vềkinh tế - xã hội, Đài Loan đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách quan trọnglàm hồi sinh toàn bộ nền kinh tế Từ năm 1949 thực hiện cuộc cải cách ruộng

đất với các bớc giảm tô, phóng lĩnh đất công, thực hiện ngời cày có ruộng… phục vụ cho mục tiêu

CNH-[19, 40 - 41] ngời nông dân từ chỗ không có một tấc đất để cắm dùi, nay trởthành những ngời chủ ruộng đất Sau khi có ruộng, ngời dân hăng hái tham gialao động sản xuất, năng suất tăng lên nhanh chóng

Bên cạnh chính sách cải cách ruộng đất, Đài Loan còn thực hiện cảicách tiền tệ nhằm tăng tích luỹ ngoại tệ và tăng tích luỹ xã hội Từ năm 1952,thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế hớng nội, trong đó chú trọng đến việc

Trang 14

quản lý lơng thực, quản lý chặt chẽ việc sản xuất và tiêu thụ nông sản; xâydựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nông nghiệp; đẩy mạnh việc nghiên cứu và pháttriển ngành công nghiệp tiến tới thay thế nhập khẩu Đẩy mạnh nội địa hoácác mặt hàng công nghiệp, quản lý chặt chẽ hàng nhập khẩu với nhữngnguyên tắc cụ thể của quốc gia; cải tiến chế độ thuế thu nhập; khuyến khíchxuất khẩu… phục vụ cho mục tiêu CNH-

Nhờ những chính sách và biện pháp tích cực đó đã làm cho nền kinh tế

Đài Loan nhanh chóng hồi phục Nông nghiệp liên tục ổn định, phát triển;công nghiệp chiếm tỉ trọng đáng kể trong toàn bộ nền kinh tế, năm 1953 là17,7% đến năm 1960 là 24,9%, trong đó công nghiệp chế biến thực phẩmchiếm 25%[19, 70]

Đến những năm đầu của thập kỷ 60, nền kinh tế Đài Loan cơ bản đợcphục hồi, tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm đợc duy trì ở mức độ đáng

kể Thập kỷ 50 tăng trởng kinh tế bình quân hằng năm là 8% và tiếp tục tănglên ở những năm 1961- 1964 là 9,8% Đó là điều kiện quan trọng để Đài Loanbớc sang giai đoạn phát triển mới, chuyển từ chiến lợc hớng nội sang chiến l-

ợc kinh tế hớng ngoại và chiến lợc kinh tế “hớng Nam”, tham gia tích cực vào

quá trình phân công lao động toàn cầu Trong chiến lợc kinh tế hớng ngoại

của Đài Loan nổi lên các chính sách điều chỉnh chủ yếu là thu hút đầu t nớc ngoài, đẩy mạnh hoạt động mậu dịch đối ngoại và điều chỉnh cơ cấu ngành nghề

Thực hiện chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, chính phủ Đài Loan đặcbiệt chú ý đến các doanh nhân Hoa kiều ở Hồng Kông và các nớc trên thếgiới Đây là lực lợng góp những viên gạch đầu tiên vào quá trình thu hút vốn

đầu t nớc ngoài của Đài Loan Một lực lợng khác cũng rất quan trọng đó làcác công ty lớn từ các quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến nhất nh Mĩ, NhậtBản, Tây âu Để có thể thực hiện đợc việc thu hút một số lợng lớn các nguồnvốn đầu t nớc ngoài, Đài Loan đã đẩy mạnh việc xây dựng những khu chếxuất (KCX) với những u đãi đặc biệt về thủ tục đầu t, về thuế xuất khẩu Từnăm 1966 đến năm 1969, Đài Loan đã xây dựng đợc 3 KCX là Cao Hùng,Nam Tử, Đài Trung Cả 3 KCX này đều đảm bảo hội tụ những yếu tố thuậnlợi nhất về giao thông, thông tin liên lạc, lực lợng lao động, môi trờng vănhoá… phục vụ cho mục tiêu CNH- đáp ứng đầy đủ trình độ đầu t phát triển của các nớc tiên tiến

Chính sách thu hút đầu t nớc ngoài đã đem lại những hiệu quả kinh tế

to lớn, giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 4,4% năm 1952 xuống 1,3% vào năm 1973

Trang 15

Tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động mỗi năm Năm 1974 có 230nghìn lao động làm việc trong các công ty nớc ngoài, năm 1978 là 357 nghìn.Hàng năm các KCX thu hút 60 nghìn lao động [19, 62].

Đồng thời với chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, xây dựng các KCX,

Đài Loan tiếp tục điều chỉnh hoạt động mậu dịch đối ngoại, khuyến khích và

đẩy mạnh xuất khẩu Nhờ vậy đến năm 1963, tổng kim ngạch xuất khẩu đãtăng gấp 3 lần năm 1952, đạt 320 triệu USD Đến 1964, lần đầu tiên sau chiếntranh, ngoại thơng Đài Loan đạt tỷ lệ xuất siêu với kim nghạch 433 triệu USD[19, 66] Tỷ lệ dự trữ ngoại tệ cũng không ngừng tăng lên, năm 1980: 2,2 tỷUSD; năm 1987: 76,7 tỷ USD; năm 1991: 82,4 tỷ USD; năm 2001: 122,2 tỷUSD [39, 40] Đây là điều kiện thuận lợi cơ bản thúc đẩy các doanh nghiệp

Đài Loan tìm đờng đầu t ra nớc ngoài

Song song với chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, đẩy mạnh mậu dịch

đối ngoại, Đài Loan còn điều chỉnh cơ cấu ngành nghề cho phù hợp Theo đó,tập trung vào những ngành nghề có giá trị kinh tế cao nh công nghiệp, dịch

vụ Giảm dần những mặt hàng có giá trị kinh tế thấp nh nông nghiệp Nhờvậy, đến năm 1980 tỷ trọng trong cơ cấu của các nghành đã có sự thay đổimạnh mẽ Nếu nh tỷ trọng ngành nông nghiệp năm 1952 là 32,2% thì đếnnăm 1980 là 7,7%, số liệu tơng ứng trong công nghiệp và dịch vụ là 19,7-45,7%; 48,7 - 46,6% [19, 68]

19,726,930,234,436,839,945,7

48,144,646,246,547,747,446,6[19, 70]

Có thể nói, đến những năm đầu của thập kỷ 80, nền kinh tế Đài Loan

đã đạt đợc những thành tựu rực rỡ, đợc mệnh danh là “kỳ tích” của nền kinh tế

Trang 16

thế giới Từ chỗ nhân dân Đài Loan từng phải sống trong hoang mang, lo sợ

về nguy cơ khủng hoảng kinh tế cuối những năm 40 của thế kỷ XX Nhờ

những chính sách cải cách, điều chỉnh “khôn ngoan” của chính quyền Đài Loan đã làm cho nền kinh tế - xã hội hồi sinh trở lại, trở thành một “con rồng” nổi trội ở châu á Tốc độ tăng trởng kinh tế đợc duy trì ở mức độ cao

và ổn định từ 7 - 9%; tổng sản phẩm quốc dân năm 1952 mới chỉ đạt 1,67 tỉUSD nhng đến năm 1969 đã tăng gấp 3 lần đạt 4,92 tỉ USD Năm 1974 là14,46 tỉ USD, năm 1979 là 33,22 tỉ USD [39, 45] Sang thập kỷ 80, nền kinh

tế Đài Loan nhanh chóng tăng vọt: năm 1983 tăng gấp 30 lần, đạt 52,42 tỉUSD; năm 1986 tăng gấp 46 lần năm 1952, đạt 75,43 tỉ USD Từ năm 1987giá trị tổng sản phẩm quốc dân luôn đạt trên 100 tỉ USD, đến năm 2000 GNP

đạt xấp xỉ 310 tỉ USD [39, 45] Sự tăng trởng mạnh mẽ về kinh tế làm cho đờisống nhân dân Đài Loan cũng đợc cải thiện nhanh chóng Thu nhập bình quân

đầu ngời từ 196 USD (1952) lên 203 USD(1955), 1.132 USD (1976); đến năm

1980 là 2.344 USD rồi vọt lên 13.260 USD năm 1996 [39, 46] Đài Loan đợcxếp vào hàng các nớc và khu vực có thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân

đầu ngời vào loại cao nhất thế giới Kim ngạch thơng mại luôn giữ đợc thếxuất siêu từ năm 1976 đến nay

1.2.2 Chính sách kinh tế đối ngoại của Đài Loan

Kể từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Chính quyền Đài

Loan bắt đầu đề ra chiến lợc tăng cờng triển khai phát triển ra thị trờng quốc tế.

Chính sách đầu tiên phải kể đến là cơng lĩnh kế hoạch tăng cờng công tác kinh tế thơng mại đối với khu vực Bắc Mĩ Mục tiêu của kế hoạch này là

nhằm đa ra những đối sách có hiệu quả, hiệp định mậu dịch tự do đợc ký vớikhu vực Bắc Mĩ năm 1995; thúc đẩy quan hệ mậu dịch, thực hiện tự do hoámậu dịch kinh tế quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng thể về kinh tế và thơng mạicủa Đài Loan với các nớc Bắc Mĩ mà chủ yếu là Hoa Kỳ và Canađa [24, 202]

Tiếp đến là kế hoạch triển khai ra thị trờng Nhật Bản nhằm cải thiện

tình hình nhập siêu với Nhật Bản Muốn vậy, phải đẩy mạnh hơn nữa việctăng cờng xuất khẩu sang Nhật Bản; khuyến khích các nhà kinh doanh phântán rộng khắp ở thị trờng Nhật Bản; gạt bỏ những trở ngại trong việc xuấtkhẩu sang Nhật, đào tạo ra những nhân tài đủ sức thuyết phục để chinh phục

đợc thị trờng của Nhật Bản [24, 205]

Trang 17

Thứ ba là tăng cờng thực thi kế hoạch công tác kinh tế thơng mại với

EC Mục tiêu của kế hoạch này nhằm thích ứng với tình hình mới khi EC đã

trở thành một thị trờng thống nhất; tăng cờng kinh tế mậu dịch, đầu t kỹ thuậtsong biên Đài Loan - châu Âu để nâng cao trình độ công nghệ của Đài Loan.Muốn vậy phải tập hợp mọi lực lợng, ra sức phối hợp nhằm nâng cao và pháttriển quan hệ thực sự giữa hai bên Điều tra nghiên cứu thị trờng để có biệnpháp thích ứng, đẩy mạnh việc phân tán nhập khẩu các thị trờng ở châu Âu đểnhập khẩu những hàng hoá và thiết bị kỹ thuật cao nhằm nâng cao hơn nữatrình độ khoa học công nghệ cho nền kinh tế Đài Loan [24, 207]

Thứ t là Kế hoạch tăng cờng phát triển với 5 khu vực mới: Khu vực

Đông Nam á; Khu vực Trung - Nam Mĩ; Khu vực Trung Đông; Khu vực châu Phi; Khu vực Đông Âu và SNG Mục tiêu của kế hoạch này là nhằm tăng

cờng quan hệ với 5 khu vực mới phát triển để phân tán thị trờng, thăng bằngthơng mại, ứng phó với xu thế tập đoàn hoá khu vực bắt đầu từ thập kỷ 90.Trong đó đối với khu vực Đông Nam á, trọng điểm công tác là tiếp tục triểnkhai thị trờng, tạo nguồn nhập khẩu nguyên liệu nông - công nghiệp, tập hợplực lợng đầu t, dùng đầu t để thúc đẩy thơng mại với ngoại giao để cải thiệnquan hệ chính thức về mặt nhà nớc giữa Đài Loan với các nớc Đông Nam á

Đối với khu vực Trung - Nam Mĩ, trọng điểm công tác là dùng hợp tác tàichính tiền tệ, giúp đỡ kỹ thuật, mời các nhân sĩ quan trọng trong giới kinh tế th-

ơng mại đến thăm, tổ chức các đoàn thăm viếng lẫn nhau, tham gia các hội chợ ởcác nớc, tăng cờng các cơ quan thơng vụ nhằm nâng cao quan hệ thơng mại vớicác nớc Trung - Nam Mĩ ngày càng hoà hợp và hữu nghị;

Khu vực Trung Đông: Trọng điểm công tác là các nớc Trung Đông cần

đợc xây dựng lại sau chiến tranh vì vậy cần phải triển khai thị trờng tiêu thụhàng hoá và thị trờng xây dựng, tổ chức các cuộc thăm viếng lẫn nhau giữacác doanh nhân hai nớc, tổ chức hội chợ triển lãm ở các nớc

Khu vực châu Phi: Trọng điểm công tác là thu thập các thông tin vềkinh tế thơng mại và nghiên cứu thị trờng để mở ra thị trờng mới, đặt thêmcác quan hệ hợp tác kỹ thuật Ký các hiệp định bảo đảm đầu t và tăng cờngquan hệ thơng mại

Khu vực Đông Âu và SNG: Trọng điểm công tác là thu thập các thôngtin kinh tế thơng mại, điều tra nghiên cứu thị trờng, tổ chức các đoàn thămviếng, xây dựng những kênh đối thoại chính thức, tham gia các cuộc triển

Trang 18

lãm, mở thêm các thơng vụ, mời những nhân vật quan trọng đến thăm ĐàiLoan, tăng cờng đầu t song biên về vận tải hàng không, vận tải biển, ký hiệp

định bảo đảm đầu t nhằm tăng cờng thực chất hơn quan hệ giữa hai bên [24,209]

Kể từ sau những năm 80 của thế kỷ XX nền kinh tế Đài Loan đã đạt

đ-ợc những “kỳ tích” quan trọng làm cho nền kinh tế đất nớc có bớc phát triển

mới Sang thập kỷ 90, tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, việc tìmkiếm sự ảnh hởng của mỗi quốc gia trở nên quan trọng trong sự tồn tại củamỗi nớc Đài Loan bắt đầu thực hiện những chiến lợc kinh tế đối ngoại, trong

đó đặc biệt chú ý đến khu vực Đông Nam á mà biểu hiện rõ nét nhất là

“chính sách kinh tế hớng Nam” đợc đa ra vào năm 1994 “Hớng Nam” có

nghĩa là hớng vào khu vực Đông Nam á Tháng 1-1994 Viện trởng hành

chính Liên Chiến thực hiện chuyến đi “nghỉ mát” đến Malaixia và Xingapo và

sau đó là chuyến thăm không chính thức của Tổng thống Đài Loan Lý ĐăngHuy đối với Philippin, Inđonexia và Thái Lan Trong chuyến đi này tổngthống Lý Đăng Huy đã có cuộc tiếp xúc và thoả thuận đợc với tổng thốngPhiđen Ramốt về việc Đài Loan và Philippin cùng đầu t phát triển, chuyểnquân cảng Xubic của Mĩ trớc đây thành khu công nghiệp do Đài Loan cùngvới Philippin đầu t xây dựng Liền tiếp đó, Bộ trởng Tài chính Đài Loan làGiang Bích Khôn đã dẫn đầu một đoàn khảo sát tới Xubic Sau đó Lý ĐăngHuy sang thăm Inđônêxia và hứa đầu t vào ngành dầu mỏ, khí đốt, đờng,muối và hợp tác với Inđonexia trong lĩnh vực điện nguyên tử và sản xuất máybay loại trung bình Đến Thái Lan, ông Lý Đăng Huy cũng đã đồng ý xâydựng một khu công nghiệp dành cho các doanh nghiệp Đài Loan sang đầu t,hứa sẽ sớm ký hiệp định bảo hộ đầu t Ngoài ra trong chuyến đi này ông cònyêu cầu các nớc ASEAN ủng hộ Đài Loan tham gia dự hội nghị cấp caoAPEC đợc tổ chức ở Inđônêxia vào tháng 11/1994

ở đây chúng ta không bàn đến khía cạnh động cơ chính trị mà quanhững thoả thuận và những ký kết mà hai bên đạt đợc cho thấy chính quyền

Đài Loan đã rất coi trọng vai trò vị trí của khu vực Đông Nam á trong chiếnlợc phát triển kinh tế đối ngoại của mình Và cho đến nay Đài Loan đã trởthành nhà đầu t lớn nhất vào khu vực Đông Nam á [24]

1.3 Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan trớc năm 1990

Trang 19

Ngày 30/4/1975 đi vào lịch sử nh một trong những sự kiện trọng đại nhấtcủa dân tộc Chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa đế quốcthực dân kéo dài suốt 30 năm Kể từ đó nớc ta bớc vào giai đoạn thuận lợi mới:

Đất nớc đợc độc lập, thống nhất; nhân dân ta cần cù sáng tạo trong lao động,giàu lòng yêu nớc; có chính quyền vững mạnh, đã kinh qua nhiều thử tháchtrong chiến tranh cộng với sự lãnh đạo kiên cờng của Đảng; nớc ta lại giàu tàinguyên thiên nhiên, có lực lợng lao động dồi dào… phục vụ cho mục tiêu CNH- Đó là những tiền đề vôcùng quan trọng để nớc ta thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc trênthế giới Mặt khác, tình hình thế giới đang có nhiều thay đổi tích cực, đặc biệt

là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Nó trở thànhcơ hội hiếm thấy cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn, cùng hợp tác và phát

triển Cuộc đấu tranh “ai thắng ai” đang từng bớc đi vào “quên lãng”, xu hớng

đối thoại hoà bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế từng bớc đợc xác lập.Tuy nhiên, đó mới chỉ là những vấn đề lý thuyết của chủ nghĩa nhận thức luận

mà trên thực tế thì còn quá nhiều sự khác biệt, đặc biệt là trong giới lãnh đạo

cha thể vợt qua đợc những “tỵ hiềm” về t tởng “địch thù” của quá khứ để lại.

Chính vì vậy mà trong suốt hơn 10 năm sau ngày giải phóng, đất nớc ta vẫn

đứng trớc những nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, hầu

nh cha tạo ra đợc một cơ hội đáng kể nào trong việc hoà nhập vào xu hớng phát

triển chung của thế giới Cho nên, ngoài quan hệ “làm ăn” mà chủ yếu là nhận nguồn viện trợ của các nớc xã hội chủ nghĩa mang tính “phe phái” ra chúng ta cha thiết lập đợc một sự hợp tác bình đẳng nào với các nớc thuộc “thế giới bên kia” thậm chí còn góp phần làm cho tình hình ngày càng căng thẳng và phức

tạp hơn

Trong tình hình đó, cho dù giữa Việt Nam và Đài Loan đã có những nhucầu chính đáng cũng cha thể tạo ra đợc một bớc đi tích cực nào trong quan hệhợp tác giữa hai bên Vì vậy trong suốt thời gian này, cả phía Việt Nam lẫn ĐàiLoan đều cha có đợc một hợp tác kinh tế chính thức nào giữa hai chính phủ.Nếu có cũng chỉ là sự buôn bán bất hợp pháp của nhân dân hai nớc

Từ sau năm 1986 đến năm 1990 tình hình đã có nhiều thay đổi tích cực

và cởi mở hơn Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đờng lối đổi mới theo

một t duy hoàn toàn mới với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng

sự thật, nói rõ sự thật” xác minh chính xác tình hình của đất nớc sau 10 năm

xây dựng và phát triển Từ đó, Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định đổi mớitoàn diện đất nớc trên mọi lĩnh vực, trong đó trọng tâm là đổi mới về các chínhsách kinh tế Lấy thực trạng đời sống của nhân dân làm thớc đo cho mọi đờng

Trang 20

lối chủ trơng của Đảng Đây là t tởng sáng suốt và đúng đắn chỉ đạo xuyênsuốt các chủ trơng chính sách của Đảng và nhà nớc ta sau này

Mặt khác, ở thời kỳ này quan hệ quốc tế cũng có nhiều thay đổi đángmừng cho nhân loại tiến bộ - những ai không muốn sống trong một thế giới

bạo lực và chiến tranh Cuộc “chiến tranh lạnh” kéo dài gần nửa thế kỷ đã kết

thúc, chấm dứt thời kỳ đối đầu vô bổ giữa các thế lực chính trị thế giới, mở ramột tơng lai xán lạn cho xu thế cùng hợp tác phát triển của nhân dân toàn cầu,trong đó có quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Đài Loan Hơn nữa, tình hìnhcủa nhân loại lúc này không thể cứ mãi chìm đắm trong những hận thù mùquáng vì điều đó không hề mang lại một tơng lai êm đẹp cho bất cứ ai Thế sự

đã đổi dời, thử thách của nhân loại lúc này không phải là những nghi kỵ lẫnnhau về những khác biệt chính trị, về địa giới mà là chúng ta cần phải đối xử

nh thế nào với môi trờng tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt vànghiêm trọng hơn là chúng ta sẽ đối xử nh thế nào về tình trạng suy thoái củacon ngời về bệnh dịch, đạo đức

Tình hình đó đã đa quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan sang

một giai đoạn mới Đài Loan bắt đầu biết đến Việt Nam nh một “vùng đất mới”

để đẩy mạnh “chính sách hớng ngoại” của mình

Kể từ đó quan hệ thơng mại và đầu t giữa hai bên đợc xúc tiến Mặc dùthời kỳ này cha có một số liệu thống kê cụ thể song có thể nói rằng đó là bớc

đi tích cực cần thiết tạo tiền đề đầu tiên cho quan hệ hợp tác giữa hai bên pháttriển rất mau lẹ sau này Dự án đầu t đầu tiên của Đài Loan trên đất Việt Nam

là vào năm 1989 với tổng vốn đầu t là 1,5 triệu USD

Tiểu kết

Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Đài Loan là hoàn toàn xuất phát

từ một nhu cầu khách quan của mỗi bên Trong quá trình hợp tác - đầu t, bên cạnhnhững thuận lợi nhất định nh tơng đồng về mặt lịch sử, văn hoá; xuất phát từ mộtthiện chí hợp tác cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình, phát triển của thế giới hiệnnay Nhng đồng thời cũng còn nhiều trở ngại không đáng có do những lý dokhách quan và chủ quan khác nhau Điều quan trọng nhất mà chúng ta rất hyvọng vào quá trình hợp tác này là mục tiêu lý tởng của nhân dân hai nớc, phấn đấuvì một một nền hoà bình, ổn định và phát triển Đó là lý do chính đáng nhất khiếncho chúng ta tin tởng về mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Đài Loan ngàycàng bền chặt và tốt đẹp hơn

Trang 21

Trong một nỗ lực đạt đợc nhận thức chung tích cực của cả hai bên, thiếtnghĩ, cả Việt Nam - Đài Loan cần phải tăng cờng hơn nữa việc trao đổi và hiểubiết lẫn nhau nhằm tháo gỡ và tiến tới gạt bỏ những nghi ngại không đáng có để

đa quan hệ hợp tác ngày càng hiệu quả hơn Đặc biệt là những cản trở từ phía ViệtNam nh hệ thống các chính sách luật pháp cần phải thông thoáng và rõ ràng hơn,quản lý hành chính phải tinh gọn và hiệu quả hơn, tránh gây ra những rắc rối,quan liêu đối với các đối tác; cần phải tuyên truyền giáo dục mạnh mẽ trong ýthức, tác phong lao động của công nhân, đồng thời cũng có những cơ chế giám sátthích hợp để đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên tham gia

sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới Nếu trong thập kỷ 70 của thế kỷ

XX tốc độ tăng trởng thơng mại của thế giới là 5,8%/năm, cao hơn 1,5 lần tốc

độ tăng trởng kinh tế thì đến thập kỷ 90 số liệu tăng lên tơng ứng là 7% và 2,5lần, chiếm 29,6% trong tổng GDP của toàn thế giới [5, 22] Đồng thời với sựtăng trởng mạnh mẽ của nền thơng mại thế giới, đầu t trực tiếp nớc ngoài trêntoàn thế giới cũng tăng lên nhanh chóng Theo thống kê của Tổ chức Thơngmại và Phát triển Liên hợp quốc, tổng mức đầu t nớc ngoài trên thế giới năm

1967 là 112 tỉ 400 triệu USD, đến năm 1983 tăng tới 600 tỉ USD, năm 1990 là

1700 tỉ USD, năm 1999 là 4000 tỉ USD Trong tổng vốn đầu t trực tiếp nớcngoài trên thế giới, khoảng 58% là đổ vào các nớc phát triển, 37% đổ vào cácnớc đang phát triển và 5% đổ vào các nớc Đông Âu [5, 23] Từ năm 1990 -

1999, hai nớc đợc nhận nhiều nhất từ nguồn FDI của thế giới là Mĩ (420 tỉUSD) và Trung Quốc là 200 tỉ USD [4, 24] Từ số liệu trên cho thấy những nớc

có nền kinh tế phát triển mạnh và giàu nhất chính là những nớc có kim ngạchthơng mại và đầu t trực tiếp nớc ngoài lớn nhất thế giới Qua đó để thấy rằngtham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới có một ý nghĩa to lớn trongviệc thúc đẩy sự phát triển kinh tế mỗi nớc và mỗi khu vực Quan hệ thơng mại

và đầu t giữa Việt Nam - Đài Loan cũng chính là để tăng thêm sự phát triểntheo chiều hớng trên

Trang 22

Trong những năm gần đây, thơng mại quốc tế đã phát triển nhanhchóng hơn so với nền kinh tế thế giới, chắc chắn rằng, xu thế này vẫn còn tiếptục Đối với các nớc đang phát triển, thơng mại là phơng tiện chủ yếu để thựchiện lợi ích toàn cầu hoá Nhập khẩu làm tăng thêm tính cạnh tranh và tính đadạng của thị trờng nội địa, mang lại lợi ích cho ngời tiêu dùng, còn xuất khẩu

sẽ góp phần mở rộng các thị trờng nớc ngoài, mang lại lợi ích cho kinh doanh.Nhng điều còn quan trọng hơn có thể là, thơng mại đã giúp các công ty trongnớc tiếp xúc với thực tiễn tốt nhất của các công ty nớc ngoài và nắm bắt đợcnhững yêu cầu của những khách hàng khó tính, khuyến khích tạo ra hiệu quảcao hơn Thơng mại đã giúp các công ty có cơ hội cải tiến nguồn vốn đầu tvào máy móc công cụ, cũng nh tăng năng suất lao động Kích thích sự phânphối lại sức lao động và vốn cho những khu vực có năng suất lao động tơng

đối cao hơn Đặc biệt nó giúp chuyển dịch một số hoạt động dịch vụ và chếtạo từ các nớc công nghiệp sang các nớc đang phát triển, tạo những cơ hộimới cho tăng trởng Việc sáng lập ra Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) vàonăm 1995, dựa trên Hiệp định chung về Thuế quan và Thơng mại (GATT), đó

là bớc phát triển đa phơng gần đây nhất, tạo ra một môi trờng có lợi để trao

đổi hàng, dịch vụ… phục vụ cho mục tiêu CNH- cho các quan hệ hợp tác kinh tế song phơng, đa phơngcùng những quan hệ hợp tác kinh tế phi chính phủ khác một hành lang pháp

lý minh bạch rõ ràng, đợc điều tiết bởi một hội đồng trọng tài quốc tế Trongcác quan hệ hợp tác ấy, quan hệ hợp tác kinh tế phi chính phủ giữa Việt Nam

- Đài Loan cũng không nằm ngoài những giới hạn quy định của “hội buôn thế giới” này.

Đờng lối mở cửa hội nhập, đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ quốc tế

đợc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đa ra cho đến nay có thểkhẳng định rằng đó là một hớng đi hoàn toàn đúng đắn phù hợp với xu thế vận

động của nền kinh tế thế giới Kể từ đó quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và cácnớc trên thế giới đợc mở rộng nhanh chóng và diễn ra trên nhiều lĩnh vực từkinh tế - chính trị cho đến văn hoá - xã hội, đặc biệt và chủ yếu nhất là trênlĩnh vực kinh tế Trong các mối quan hệ đó nổi bật lên là quan hệ hợp tác kinh

tế Việt Nam - Đài Loan Cho dù sự hợp tác này không diễn ra một cách toàndiện nh nhiều quan hệ song phơng khác vì những lý do khách quan và chủquan khác nhau, song những thành tựu về hợp tác thơng mại và đầu t giữa ViệtNam - Đài Loan đạt đợc trong gần 20 năm qua có ý nghĩa to lớn, góp phần làmcho kinh tế của nớc ta phát triển nhanh chóng, đa tên tuổi của Việt Nam trở

thành nh một “tấm gơng” của sự đổi mới và hoà nhập vào quá trình toàn cầu hoá Đợc bạn bè quốc tế đánh giá nh một “ngôi sao đang lên ở châu á”.

Trang 23

2.1 Quan hệ thơng mại

2.1.1 Kim ngạch mậu dịch Việt Nam - Đài Loan

Bảng 4: kim ngạch mậu dịch đài loan - việt nam (1990- 2006)

Đơn vị: 1000 USD

Năm Tổng kim ngạch hai chiều Đài Loan

xuất khẩu

Đài Loan nhập khẩu Kim ngạch Tỉ lệ tăng trởng(%)

Nguồn : http://www.cus.trade.gov.tw

Nhìn vào bảng thống kê của Tổng cục thuế quan Đài Loan cho chúng

ta thấy, tổng kim ngạch mậu dịch Đài Loan - Việt Nam đã tăng lên liên tục vàtơng đối ổn định qua các năm Nếu nh năm 1990 kim ngạch hai chiều chỉ đạt

Trang 24

118.3 triệu USD thì 1 năm sau, năm 1991 đã tăng lên gần gấp đôi (232,3 triệuUSD) đạt tỉ lệ tăng trởng 96,4% Đến năm 1992, 1993 kim ngạch hai chiềuvẫn tiếp tục tăng Đến năm 1995, giá trị kim ngạch có sự tăng lên đột biến,

đạt 1,283 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm 1994 Nguyên nhân dẫn đến sự tăngtrởng đột biến này, nh đã nói ở phần tình hình chính sách Đài Loan là năm

1995 chính phủ Đài Loan bắt đầu thực hiện “chính sách hớng Nam”, theo đó,

mở rộng và phát triển kinh tế ra bên ngoài là mũi nhọn cho chiến lợc pháttriển kinh tế về lâu dài và Đông Nam á đợc coi là thị trờng trọng tâm trongchính sách xuất khẩu của mình Việt Nam là một trong những thị trờng đợccác doanh nghiệp Đài Loan đặc biệt chú ý đến Mặt khác, năm 1995, Mĩ - nớc

có nền kinh tế lớn nhất thế giới vốn coi Việt Nam là kẻ thù, thì nay đã bìnhthờng hoá quan hệ với Việt Nam Các doanh nghiệp Đài Loan coi đó là cơ hộilớn để tiếp cận hàng hoá của mình vào thị trờng này Nhờ vậy mà luồng vốn

từ Đài Loan tăng nhanh Ngoài ra, thời gian này các hoạt động khác hỗ trợcho hợp tác kinh tế giữa hai nớc cũng diễn ra rất hiệu quả nh tháng 7/1995Việt Nam đã tổ chức thành công hai cuộc hội thảo về biện pháp thắt chặt vàhợp tác có hiệu quả hơn nữa sự hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Đài Loan[37, 153] Nhờ những cuộc hội thảo này, doanh nghiệp hai bên đã tháo gỡ đ -

ợc nhiều vớng mắc về quan thuế, về hình thức đầu t, nguồn lao động … phục vụ cho mục tiêu CNH- Từnăm 1996 đến 1997, giá trị kim ngạch hai chiều tiếp tục tăng với các chỉ số t -

ơng ứng là 1,492 tỷ USD và 1,688 tỷ USD song có chiều hớng chững lại vàgiảm đột ngột vào năm 1998, kim ngạch hai chiều giữa hai nớc không nhữngkhông tăng mà còn giảm sút với mức âm 9% Sở dĩ có tình trạng đó là do tác

động của cuộc khủng hoảng Tài chính - Tiền tệ châu á năm 1997 bắt đầu từThái Lan Cuộc khủng hoảng đã ảnh hởng mạnh mẽ đến các nền kinh tếtrong khu vực, trong đó có Đài Loan, làm cho các doanh nghiệp Đài Loannghi ngại trong việc tăng vốn đầu t vào khu vực này Bớc sang năm 1999, khinền kinh tế của các nớc đợc dần dần hồi phục trở lại thì giá trị kim ngạch giữaViệt Nam - Đài Loan cũng bắt đầu có nhiều dấu hiệu tích cực Năm 1999 đạt1,729 tỉ USD đến năm 2000 đạt 2,132 tỷ USD Kể từ đó, giá trị kim ngạchliên tục tăng lên với tốc độ trung bình khoảng 1 tỷ USD/năm Năm 2006, giátrị kim ngạch hai chiều đạt 5,6 tỷ USD, Đài Loan trở thành một trong nhữngbạn hàng lớn nhất của Việt Nam sau Trung Quốc, Nhật Bản, Xingapo

Nhìn vào bảng thống kê của Tổng cục Thuế quan Đài Loan, những con

số không ngừng tăng lên về giá trị kim ngạch hai chiều Từ 118,3 triệu USD,

Trang 25

sau 17 năm đã tăng lên 5,6 tỉ USD Chỉ số đó đã góp một phần không nhỏ vào

sự tăng trởng kinh tế của Việt Nam trong gần 20 năm qua Tuy nhiên, từ sốliệu của bảng thống kê trên cũng chỉ cho chúng ta thấy một sự tăng trởngkhông cân xứng trong cán cân thơng mại của hai bên, trong đó chiều hớngkhông có lợi nhiều hơn liên tục nghiêng về phía Việt Nam Nghĩa là lợi íchthu đợc của các doanh nghiệp mậu dịch Đài Loan luôn đợc nhiều hơn lợi íchcủa các doanh nghiệp Việt Nam Sự chênh lệch đó ngày càng cao và thậm chí

là gấp nhiều lần Nếu nh năm 1990, Đài Loan xuất khẩu sang Việt Nam là62,7 triệu USD và nhập khẩu từ Việt Nam là 55,5 triệu USD, đó là một sựchênh lệch không đáng kể Nhng từ năm 1995 trở đi thì cán cân thơng mạigiữa Đài Loan với Việt Nam chênh lệch gấp 3 lần thì quả là một sự chênhlệch đáng lo ngại cho nền mậu dịch của Việt Nam, nếu nh chúng ta không

có những điều chỉnh kịp thời Mức thâm hụt mậu dịch của Việt Nam so với

Đài Loan qua các năm là: 1995: 743,3 triệu USD (70% tổng giá trị kimngạch); 2000: 1,194 tỉ USD (85%); 2005: 3,392 tỉ USD (82,2%); 2006:3,853 tỉ USD (83,3%) Những số liệu này cho thấy hiện Đài Loan đang xuất khẩurất lớn sang thị trờng Việt Nam

So sánh giữa kim ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu của ĐàiLoan trong suốt 17 năm qua thì thấy rằng giá trị hàng hoá mà Đài Loan xuấtsang Việt Nam là rất lớn nhng giá trị nhập khẩu từ Việt Nam sang Đài Loanlại rất nhỏ Nếu nh năm 1990, giá trị kim ngạch nhập khẩu của Đài Loan từViệt Nam mới chỉ 55,6 triệu USD thì đến năm 1995, khi chính phủ Đài Loan

thi hành “chính sách hớng Nam”, kim ngạch xuất khẩu sang Việt Nam tăng

vọt lên mức hơn 1 tỉ USD (tăng 36,5% so với một năm trớc đó) Trong khi đó,kim ngạch nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam vẫn tăng lên rất chậm chạp

và khiêm tốn (chỉ hơn 270 triệu USD), chiếm khoảng 23,4% so với năm trớc

đó Đến năm 2005, khi kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan sang Việt Nam đãtăng vọt lên con số hơn 4 tỉ USD thì kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam cũngcha đến 1 tỉ USD, nghĩa là cán cân so sánh trong kim ngạch hai chiều của ĐàiLoan gấp hơn 4 lần so với Việt Nam Đến năm 2006 thì con số đó vẫn khôngthay đổi Cho dù quá trình hợp tác thơng mại giữa Việt Nam và Đài Loan đãdiễn ra gần 20 năm nhng phía các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cha có đợcmột sự điều chỉnh tích cực nào để có thể rút ngắn đợc sự chênh lệch

Tuy kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng đều qua các năm song tỷ trọng xuất

nhập khẩu ngày một giảm Nếu nh giai đoạn trớc khi thực hiện “Chính sách

Trang 26

hớng Nam”, kim ngạch nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam luôn đạt trên

30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Đài Loan, thì trong giai

đoạn sau đó tỷ trọng xuất nhập khẩu lại ngày càng tụt xuống thấp Đặc biệttrong vài năm trở lại đây con số này xuống rất thấp, chỉ đạt trên dới 20% vàtrong năm 2006 chỉ đạt 16,7% Điều này cho thấy tốc độ xuất khẩu của ĐàiLoan sang Việt Nam ngày càng mạnh, trong khi đó tốc độ nhập khẩu của ĐàiLoan từ Việt Nam lại tăng rất chậm Thực trạng này đã phản ánh đúng chủ tr-

ơng của Đài Loan trong “chính sách kinh tế hớng ngoại” của họ Ngay từ thập

kỷ 70, Đài Loan đã xem xuất khẩu làm tiêu chí phát triển kinh tế của mình

Kể từ đó ngoại thơng trở thành lĩnh vực quan trọng trong việc duy trì tốc độtăng trởng cao của kinh tế Đài Loan, cán cân mậu dịch luôn đạt tỷ trọng xuấtsiêu [19, 60] Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ vài chụcnăm trở lại đây, các doanh nghiệp Đài Loan đã ý thức đợc rằng, việc tiếp cận

và mở rộng thị trờng sang các nớc đang phát triển sẽ tạo ra những lợi thế vàmang về những nguồn lợi nhuận lớn Từ những năm của thập kỷ 80, các thơnggia Đài Loan đặc biệt a thích đầu t vào khu vực Đông Nam á, một khối lợnglớn về thiết bị máy móc, linh kiện điện tử đã đợc nhập khẩu vào thị trờng này,luôn đạt tỷ trọng thơng mại ở mức xuất siêu Đó cũng là thực trạng chung củanền thơng mại Việt Nam trong nhiều năm qua, điều này đợc chứng tỏ qua bảng

số liệu ở bảng 5

Bảng 5: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của việt

nam từ ĐàI Loan 1990-2006

Trang 27

đến năm 1995 đã tăng lên 12%(1) Điều đó chứng tỏ hàng hoá của Đài Loanrất phù hợp với thị trờng và thị hiếu của ngời tiêu dùng Việt Nam Đồng thời

phản ảnh “trình độ” thâm nhập thị trờng của các thơng nhân Đài Loan và họ

ngày càng chiếm đợc thứ bậc quan trọng trong 10 nớc đứng đầu về bạn hàngnhập khẩu của Việt Nam Năm 1990 Đài Loan chỉ đứng thứ 8 trong 10 nớc vàkhu vực có giá trị kim ngạch xuất khẩu vào Việt Nam nhng đến năm 1995 đãvơn lên vị trí thứ 4 và hiện nay đứng thứ 3 sau các nớc Trung Quốc vàSingapo

Bảng 6: 10 quốc gia và vùng l nh thổ xuất khẩu lớnãnh thổ xuất khẩu lớn

sang việt nam trong các năm 1990 – 1995 – 2006

Tỷ

Kim Ngạch

Tỷ Trọng

Nguồn : http://www.teco.org.vn

Trang 28

Về xuất khẩu, nh bảng số liệu thống kê trên thì giá trị kim ngạch xuất

khẩu của Đài Loan sang Việt Nam đã không ngừng liên tục tăng lên qua các

năm song ở chiều ngợc lại, chiều nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam tuy có

tăng về giá trị kim ngạch nhng tăng rất chậm và nếu nh so sánh trong sự đối

sánh với 10 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu lớn hàng hoá từ Việt Nam

thì Đài Loan không hề cải thiện đợc vị trí, trái lại đứng gần nh ở vị trí sau chót

trong bảng xếp hạng Đài Loan chỉ đứng vị trí thứ 9 trong 10 nớc có kim

ngạch nhập khẩu lớn nhất từ Việt Nam Thứ bậc đó đang phản ánh một sự yếu

kém nhiều mặt từ phía Việt Nam, từ khâu tiếp thị, quảng bá cho đến chất lợng

hàng hoá của Việt Nam đối với thị trờng Đài Loan Từ đó cũng khuyến nghị

với các nhà quản lý Việt Nam là cần có những nghiên cứu kịp thời để nhanh

chóng điều chỉnh đợc tình hình yếu kém nh hiện nay

Bảng 7: 10 nớc và vùng l nh thổ có kim ngạch nhập khẩu lớnãnh thổ xuất khẩu lớn

nhất từ việt nam trong các năm 1990- 1995-2006

Tỷ

Kim Ngạch

Tỷ Trọng

3 HồngKông 196,9 7,2 Nhật Bản 915,7 11,2 Đài Loan 4822,8 10,9

Nguồn : http://www.teco.org.vn

Trong số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam thì Đài Loan

hiện là bạn hàng lớn thứ 5 của Việt Nam sau Trung Quốc, Nhật Bản, Mĩ,

Singapo Còn theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế quan Đài Loan thì kim

ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam - Đài Loan cũng chiếm một vị trí

t-ơng đối trong khu vực Đông Nam á, chiếm khoảng 5,82% Thị phần của Việt

Nam hiện xếp thứ 6 sau Singapo, Malaixia, Thái Lan, Inđonexia, Philippin

trong tổng kim ngạch buôn bán giữa Đài Loan với 10 nớc Đông Nam á

Bảng 8: Kim ngạch mậu dịch của Đài loan với 10 nớc

Trang 29

đó quả là một số lợng ngoại tệ “khổng lồ” mà nếu nh vào thời kỳ đó chúng ta

có nằm mơ cũng không thể có đợc Sự tăng lên về giá trị kim ngạch mậu dịchhai chiều Việt Nam - Đài Loan đã góp phần quan trọng trong sự thành côngchung của chính sách mở cửa và hội nhập của Việt Nam, làm cho nền kinh tếViệt Nam liên tục duy trì đợc tốc độ tăng trởng cao trong nhiều năm Cho nên

dù ở mặt này, mặt khác sự hợp tác đó cha làm thoả mãn nh những gì chúng tamong muốn song nó phản ánh một sự hợp tác tích cực, tiến bộ trong quan hệthơng mại của hai bên Tuy nhiên, nhìn vào cán cân thơng mại hai chiều giữaViệt Nam - Đài Loan thì chúng ta cũng phải thừa nhận là lợi ích mà chúng tathu đợc so với phía các doanh nghiệp Đài Loan còn nhiều bất cập và cần đợc

điều chỉnh Trong khi các doanh nghiệp Đài Loan luôn luôn đứng ở vị trí xuấtsiêu thì phía Việt Nam lại luôn ở vị trí nhập siêu và có chiều hớng ngày càngtăng lên Nếu nh chiều hớng này không đợc điều chỉnh thì các doanh nghiệpViệt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi Đây chính là yếu kém mang tính phổ biến củahầu hết các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hiện nay

Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là gì? Trớc hết về mặt chủ quan,phía Việt Nam, do chúng ta đi lên từ một nền kinh tế thấp kém, trình độ khoa học

kỹ thuật lạc hậu dẫn đến chất lợng hàng hoá mà chúng ta có đợc cũng khó có đợc

điều kiện để cạnh tranh với một nền kinh tế Đài Loan phát triển trớc chúng ta cảnửa thế kỷ Hơn nữa, trình độ tổ chức quản lý kinh tế của ta còn yếu, từ khâu tiếpthị, đến phân phối hàng hoá… phục vụ cho mục tiêu CNH-đều thua xa so với họ Việt Nam cha thể tạo lập vàhình thành đợc những mạng lới phân phối đủ mạnh có hệ thống và có thơng hiệu

ở thị trờng Đài Loan; cha nắm bắt đợc thị hiếu tiêu dùng của ngời dân Đài Loan

nh các doanh nhân Đài Loan đã nắm bắt ở thị trờng Việt Nam dẫn đến hàng hoá

của Việt Nam không cạnh tranh và chiếm lĩnh đợc thị trờng “giàu có” này

Trang 30

Hai là, do phía Đài Loan hơn hẳn chúng ta nhiều lợi thế, từ khâu thăm dò

tìm hiểu và nắm bắt thị trờng, cho đến chất lợng hàng hoá đạt “chuẩn”, giá cả lại

hợp lý do hiệu quả của công tác tổ chức quản lý, trình độ công nghệ… phục vụ cho mục tiêu CNH- Thêm vào

đó, nh đã nói ở phần trên, ngay từ những thập niên 60 - 70 họ đã thực hiện “chính sách hớng ngoại”, xem xuất khẩu là u tiên hàng đầu để phát triển kinh tế, cũng là

lúc mà chính phủ Việt Nam thi hành chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.Hơn bất cứ quốc gia nào, chính Đài Loan là nớc hiểu hơn ai hết những nhu cầu về

hàng hoá của thị trờng Việt Nam vì Việt Nam chính là “hình ảnh” của họ mấy

chục năm trớc Họ hiểu đợc Việt Nam đang cần những loại hàng hoá gì để phục

vụ cho công cuộc CNH-HĐH, cần những công nghệ gì để có thể tăng tốc và đuổikịp các nớc trong khu vực Nghĩa là trớc khi xâm nhập vào thị trờng Việt Nam thì

họ đã hiểu rõ những nhu cầu ở Việt Nam, trong khi đó thì chúng ta đang “chập chững” từng bớc để nghiên cứu thị trờng của họ Trong tình hình đó, việc họ luôn

giữ đợc vị trí xuất siêu so với chúng ta là điều hiển nhiên

Kinh tế Việt Nam vốn đang trong giai đoạn chuyển đổi, các tiêu chuẩn vềchất lợng hàng hoá còn hết sức mập mờ, cha minh bạch, rõ ràng mà nói theo ngôn

ngữ chuyên môn thì đó là một thị trờng “dễ tính” cho nên hàng hoá của Đài Loan

khi nhập vào Việt Nam đợc dễ dàng chấp nhận hơn nhiều so với chiều ngợc lại

Thứ ba, hàng hóa của Việt Nam khi xâm nhập vào thị trờng Đài Loangặp phải trở ngại lớn từ một đối thủ khổng lồ Trung Quốc Họ không chỉ thuận

lợi hơn ta về mặt giao thông vận tải, về tình “máu mủ ruột rà” mà về cả quy

mô, chủng loại, đặc biệt là về giá cả cũng đều vợt trội so với hàng hoá của ViệtNam Đây quả là một thực tế khốc liệt trong cuộc cạnh tranh không khoan nh-ợng của luật chơi tự do đầy lạnh lùng này

Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất cân đối trongcán cân thơng mại giữa Việt Nam - Đài Loan Giải quyết đợc vấn đề này thực

sự là không đơn giản, một sớm một chiều Chính vì vậy, các nhà hoạch địnhchính sách Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp cần phải không ngừng nỗlực trong việc tiếp cận, quảng bá đối với thị trờng Đài Loan Nhng quan trọnghơn, ở một thời điểm mà giá cả không còn là lợi thế cạnh tranh nữa thì việc sảnxuất ra những hàng hoá có chất lợng, hớng đến phục vụ tốt nhất cho con ngờithực sự là điều vô cùng cần thiết Có nh vậy chúng ta mới cải thiện tình trạngmất cân đối trong cán cân thơng mại giữa Việt Nam và Đài Loan

2.1.2 Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam - Đài Loan

Trang 31

Nh đã nói ở phần trên, hiện Đài Loan là một trong những bạn hàng lớn nhấtcủa Việt Nam, giá trị kim ngạch mậu dịch hai chiều đạt gần 6 tỉ USD, sau Mĩ, NhậtBản, Trung Quốc, Singapo Thông tin đó không chỉ phản ánh vị trí quan trọng của

Đài Loan đối với nền mậu dịch của Việt Nam mà còn thể hiện sự phong phú đadạng trong cơ cấu những mặt hàng xuất nhập khẩu của cả hai bên Đài Loan từ

những năm 80 của thế kỷ XX đã đợc mệnh danh là một trong bốn “con rồng” của

châu á với một nền kinh tế - xã hội tơng đối phát triển Ngày nay, cho dù Đài Loantừng phải trải qua nhiều biến động phức tạp song lãnh thổ này vẫn là một tiềm lựckinh tế vợt trội so với Việt Nam Sự khác nhau về trình độ phát triển, đặc biệt tronglĩnh vực khoa học công nghệ, kinh tế tất yếu dẫn đến sự không tơng đồng về giaodịch hàng hoá Và nếu nh hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan chủ yếu

là những mặt hàng “tinh” với hàm lợng khoa học kỹ thuật cao thì ngợc lại hàng hoá

xuất khẩu của Việt Nam sang Đài Loan lại chủ yếu là những mặt hàng thô, phầnlớn là do yếu tố của tự nhiên và lao động thủ công làm nên Trong một thời đại màkhoa học kỹ thuật đang trở thành nhân tố chủ yếu quyết định đến chiều hớng pháttriển của một nền kinh tế thì đơng nhiên những mặt hàng có hàm lợng chất xámcao hơn sẽ có giá trị kinh tế lớn hơn và ngợc lại những hàng hoá không có hoặc rất

ít hàm lợng khoa học sẽ nhận đợc giá trị kinh tế nhỏ hơn Cho nên chúng ta cũnghoàn toàn dễ hiểu tại sao sự thâm hụt thơng mại trong cán cân mậu dịch hai chiềulại luôn nghiêng về phía Việt Nam Điều này đợc phản ánh rõ nét qua hai bảngthống kê do Tổng cục Thuế quan Đài Loan cung cấp

Hai bảng thống kê về cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu hai chiều củaViệt Nam và Đài Loan từ năm 1993 đến 2002 Mục đích mà chúng tôi đa haibảng này vào không phải để so sánh giá trị kim ngạch hai chiều mà qua đó đểchúng ta thấy rõ hơn về thực tế các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của ViệtNam và Đài Loan là hàng hoá gì, từ đó có những kết luận chính xác trongviệc điều chỉnh cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hoá để cả hai cùng tạo ra đợc giátrị kinh tế cao nhất

Theo lý luận thơng mại quốc tế phổ biến nhất hiện nay, một nớc có

những sản phẩm tập trung nhiều yếu tố “thiên bẩm” và có lợi thế so sánh hơn

so với các nớc khác thì nớc đó nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những

Bảng 9: Những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếucủa việt nam từ đài loan (1993 – 7/2002)

Đơn vị: USD

Trang 32

STT Chủng loại hàng hoá Xuất khẩu Nhập khẩu

9 Máy móc thiết bị nhà xởng, phòng thí nghiệm 221.503.622 37.664

12 Máy xử lý da, thuộc da, máy chế tạo và xử lý

giày da

13 Các loại nhựa và nguyên liệu nhựa 161.763.340 27.018.169

14 Máy gia công các loại cao su, nhựa, máy gia

19 Hoá chất tổng hợp nhựa làm cao su 102.767.413 42.359

20 Các loại giấy cuộn hoặc tấm, giấy có một hoặc

hai mặt dùng hoá chất vô cơ phủ lên 102.114.134 4.526

22 Vải dệt kim, dệt bông và khăn mặt 100.341.332 126.334

23 Thép cán nhiệt và thép cán phi hợp kim 91.107.107

-24 Các loại máy móc cơ khí và công cụ đặc thù 85.300.594 2.549.040

Đài loan từ việt nam (1993- 8/2002)

Đơn vị: USD

1 Đồ gỗ gia dụng và linh kiện kèm theo 178.840.350 13.058.367

2 Ghế ngồi, giờng ngủ và linh kiện 161.545.676 4.259.311

Trang 33

5 Lông chim và các bộ phận khác của chim 110.117.436 28.672.026

10 Dụng cụ bếp và đồ ăn uống bằng gỗ 82.629.808 227.641

18 Nguyên liệu gỗ, gỗ xẻ, gỗ cành, gỗ tấm 42.195.167 112.162

19 áo khoác phụ nữ và bé gái, áo Jacket,

quần áo đồng bộ

41.771.140 100.607

21 Thực vật lu giữ tạm thời (khí ga, lu

huỳnh, nớc muối, nớc lu huỳnh … phục vụ cho mục tiêu CNH- ) 35.410.273 73

23 áo lót phụ nữ và các loại phụ kiện đi

kèm

33.067.969 4.144.334

25 Vật liệu đặc thù (bảng đơn xuất nhập khẩu

tiểu ngạch và các vật liệu khác) 25.542.701 16.884.517

Nguồn:http://www.cus.trade.gov.tw

Nam là những sản phẩm mà Đài Loan không có đợc lợi thế thiên bẩm nh cácloại tài nguyên khoáng sản trong tự nhiên, lực lợng lao động… phục vụ cho mục tiêu CNH- trong khi đóViệt Nam lại phải nhập khẩu những sản phẩm của Đài Loan mà Việt Namkhông có đợc lợi thế thiên bẩm nh các loại linh kiện máy móc, các loại côngnghệ mà Việt Nam cha thể chế tạo đợc Thống kê của Tổng cục Thuế quan

Đài Loan thì những mặt hàng chủ yếu mà Đài Loan xuất khẩu sang Việt Namlà: hàng dệt (713,6 triệu USD); hàng dệt từ sợi tơ tằm (522,4 triệu USD); da

bò, da ngựa (517,9 triệu USD); linh kiện sản xuất giấy (494,4 triệu USD); cácloại xăng dầu (355,2 triệu USD); máy móc, thiết bị nhà xởng, phòng thínghiệm (221,5 triệu USD); linh kiện và phụ tùng ô tô (218,8 triệu USD)… phục vụ cho mục tiêu CNH-Những mặt hàng chủ yếu mà Đài Loan nhập khẩu từ Việt Nam là: đồ gỗ giadụng (178,8 triệu USD); ghế ngồi, giờng tủ (161,5 triệu USD); quần áo namgiới và bé trai (131,2 triệu USD); gỗ (126,6 triệu USD); lông chim (110,1triệu USD); cao su tự nhiên (88,2 triệu USD); than đá, than bánh, than tròn(38,2 triệu USD)… phục vụ cho mục tiêu CNH- Từ đó chúng ta thấy rằng các sản phẩm chủ yếu mà Việt

Trang 34

Nam xuất khẩu sang Đài Loan phần nhiều là các sản phẩm thô hoặc có quachế biến nhng chỉ ở dạng sơ chế, giá trị kinh tế thấp Ngợc lại các sản phẩm

mà Đài Loan xuất khẩu sang Việt Nam lại chủ yếu là những sản phẩm tinh,

có giá trị kinh tế cao Họ nhập của chúng ta mang về chế biến sau đó lại quaysang xuất cho Việt Nam nhng dới dạng tinh xảo và đắt tiền hơn Đó là mộtvòng kép kín hợp quy luật vì chúng ta còn lạc hậu hơn họ về trình độ khoahọc công nghệ, song có điều là ngời Việt Nam thì không mấy ai lại khôngthấy chạnh lòng bởi sự kém cỏi về trình độ công nghệ, tổ chức quản lý dẫn

đến sự mất cân đối quá thiệt thòi về mặt lợi ích

Nhận xét

Dựa vào bảng thống kê cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam

- Đài Loan chúng ta thấy rằng, quá trình hợp tác mậu dịch trong suốt 17 nămqua đã mang lại lợi ích nhiều mặt cho cả hai bên Sự chênh lệch về trình độphát triển của mỗi bên ở một mức độ nào đó đã tạo ra những lợi thế so sánhnhất định cho cả hai phía Phía Việt Nam có lợi thế về quy mô thị trờng (hơn

84 triệu dân), về nguyên vật liệu tự nhiên, về lực lợng lao động… phục vụ cho mục tiêu CNH- trong khi đó

Đài Loan lại không có những yếu tố này hoặc nếu có cũng rất hạn chế Ngợclại phía Đài Loan, trình độ phát triển vợt bậc so với Việt Nam cho nên họ đã

có đầy đủ những gì mà chúng ta đang thiếu nh máy móc trang thiết bị, vốn,công nghệ… phục vụ cho mục tiêu CNH- Từ đó chúng ta thấy, quan hệ hợp tác giữa hai bên có tính tơng

hỗ và bổ sung rất cao, thế mạnh của Việt Nam lại chính là cái hạn chế của

Đài Loan và ngợc lại những gì đang hạn chế và khó khăn của Việt Nam lạinằm ở Đài Loan Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, trong sự hợp tác đó, do

họ hơn hẳn ta về trình độ phát triển, về chất lợng dịch vụ… phục vụ cho mục tiêu CNH- nên trong quátrình hợp tác họ đã thu đợc những khoản lợi lớn trong khi đó do chúng ta chỉtạo ra những sản phẩm thô, sơ chế nên thu đợc lợi ích kinh tế thấp Mặc dùvậy, nếu chúng ta so sánh theo tính lịch đại thì những gì mà chúng ta tạo ra đ-

ợc trong quan hệ thơng mại với Đài Loan thì đó cũng là kết quả đáng khích lệ(mậu dịch hai chiều đạt gần 6 tỉ USD)

Thứ hai, cũng từ bảng thống kê về cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu củaViệt Nam - Đài Loan thì thấy rằng, trong mối quan hệ thơng mại này nókhông chỉ là sự tơng hỗ, bổ sung lẫn nhau mà nó còn diễn ra trong sự cạnhtranh cùng một mặt hàng với nhau, nghĩa là cả hai nớc đều xuất khẩu trên cùngmột mặt hàng Hiện tợng này đã phản ánh một là, quá trình phân công lao độngcủa toàn cầu hoá và kéo theo nó là quá trình phân phối hàng hoá không giới

Trang 35

hạn bởi sự phân biệt “địa hạt” quốc gia Đây là chiều hớng phát triển ngày

càng tích cực của tự do hoá thơng mại toàn cầu, là xu hớng tiến bộ của quátrình quốc tế hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng hiện nay Tuy nhiên, cũngphải thấy rằng sự phối hợp, hợp tác trong hoạt động thơng mại của Việt Nam -

Đài Loan còn thiếu chặt chẽ Nghĩa là cha tạo ra đợc sự thống nhất trong xuấtkhẩu hàng hoá của cả hai bên, điều đó dẫn đến sự lãng phí không cần thiếttrong chi phí vận chuyển hàng hoá cũng nh các loại dịch vụ khác qua lại giữahai bên Hơn nữa, trong sự trùng lặp về xuất khẩu hàng hoá thì chính phía cácdoanh nghiệp Việt Nam là ngời bị thiệt hại, trong khi đó các doanh nghiệp ĐàiLoan lại thu và tận dụng đợc nhiều lợi thế cho mình Vì rằng nếu cả hai bên

đều sản xuất trên một đơn vị sản phẩm giống nhau, thì Đài Loan chắc chắn baogiờ họ cũng sẽ lợi thế hơn chúng ta vì trình độ công nghệ, chất lợng dịch vụ,trình độ tổ chức quản lý… phục vụ cho mục tiêu CNH- cho nên năng suất và hiệu quả trong đơn vị sảnphẩm của họ cao hơn mình, nghĩa là họ sẽ hạ đợc giá thành so với sản phẩm dochúng ta sản xuất ra Vì vậy việc liên kết, chặt chẽ của nền thơng mại hai nớc

là hết sức cần thiết Tránh sự trùng lặp trong xuất khẩu của hai bên, mà nêndành cho sự tập trung hoá và chuyên môn hoá trên những lĩnh vực sản xuấtnhất định nào đó Có nh vậy thì hiệu quả trong sản xuất cũng nh xuất nhậpkhẩu mới đạt đợc hiệu quả cao và tốt hơn

Thứ ba, nói rằng quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam - Đài Loan có tính

t-ơng hỗ và bổ trợ cũng có thể tạm gọi đó là kiểu quan hệ tht-ơng mại theo chiềudọc Nghĩa là Việt Nam thì chủ yếu cung cấp nguyên liệu và nguồn lao độngthủ công, còn Đài Loan thì cung cấp cho Việt Nam thành phẩm Trong kiểuquan hệ này, Đài Loan là đối tợng đợc hởng lợi lớn hơn bởi các lý do sau.Một là, Đài Loan có thể phát huy tối đa lợi thế so sánh trong việc tập trungvốn, công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm mà chi phí sản xuất thấp hơnnhiều so với Việt Nam vì chúng ta thua họ về trình độ chuyên môn hoá, về kỹnghệ Trong khi đó lợi thế so sánh của chúng ta chỉ là tài nguyên thô, nguồnlao động rẻ, những yếu tố mà hàm lợng trí tuệ là rất ít Và khi đã tập trung sảnxuất đợc chuyên môn hoá cao nghĩa là sẽ hạ đợc giá thành sản phẩm để có thểkhông chỉ cạnh tranh với hàng hoá Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia khác

đang tham gia vào thị trờng thơng mại ở Việt Nam Hai là, khi đã tập trung

đ-ợc sản xuất nghĩa là họ sẽ tận dụng tối đa việc không ngừng cải tiến và nângcao trình độ công nghệ, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển sản xuất Trong trờnghợp này đối với Việt Nam lại gây nhiều bất lợi trong quá trình sản xuất

Trang 36

Trong khi những yếu kém khiến chúng ta cha đuổi kịp đợc họ là công nghệ,vốn thì chúng ta lại lo tập trung sản xuất để cạnh tranh với hàng hoá của ĐàiLoan, nhng trên thực tế, yếu tố thành công đợc tạo ra bởi sự chiếm lĩnh đợccông nghệ cao hay thấp chứ không phải là tập trung sản xuất ra hàng hóa gì.Tình hình đó đặt ra vấn đề là làm sao để có thể thu hút đợc sự đầu t nhiều hơnnữa vốn và kỹ thuật từ phía Đài Loan bên cạnh việc cùng liên kết thống nhất ởthị trờng sản xuất Có nh vậy chúng ta mới tránh đợc sự lạc hậu trong quátrình sản xuất, mặt khác làm giảm khả năng lũng đoạn của các thơng nhân

là một trong những nền kinh tế năng động nhất hiện nay ở khu vực châu á vàViệt Nam là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn cộng với nguồn lao động dồi dào,tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, đợc đánh giá là quốc gia có sứchấp dẫn lớn trong việc thu hút sự hợp tác đầu t nớc ngoài Nếu kết hợp đợc tấtcả những yếu tố nh vừa nói ở trên, chúng tôi tin rằng vị trí của Đài Loankhông chỉ đứng thứ 5 trong 10 bạn hàng lớn nhất của Việt Nam nh hiện nay

mà còn có thể cải thiện hơn nữa và Việt Nam cũng không chỉ là bạn hàng chỉ

đứng thứ 6 trong các nớc Đông Nam á có quan hệ thơng mại với Đài Loan

mà còn có thể thay đổi theo hớng tích cực hơn nhờ vào những lợi thế, tiềmnăng nh đã trình bày

2.2 Quan hệ hợp tác đầu t

Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là một trong những yếu tố quan trọngthúc đẩy quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay và chắc chắntrong tơng lai nó còn chiếm giữ một vai trò trọng yếu cả tích cực lẫn tiêu cực

đặc biệt là những nền kinh tế đang phát triển Bởi vì, “các luồng vốn nớc ngoài đem lại những thành tựu kinh tế cơ bản đối với tất cả các bên Các nhà

đầu t nớc ngoài đã đa dạng hoá những mạo hiểm của họ ở các thị trờng ngoài nớc và tạo ra những cơ hội mang lại lợi nhuận trên toàn thế giới Các nền kinh tế hiện nay đang nhận đợc nguồn lợi về vốn theo nhiều cách Trớc hết, các luồng vốn vào tăng mức đầu t Khi có sự tham gia đầu t trực tiếp nớc ngoài thì vốn phải đi kèm với những yếu tố nh: các chuyên gia quản lý, các

Trang 37

chơng trình đào tạo, các mối liên kết cần thiết với các nhà cung ứng và các thị trờng quốc tế Tuy nhiên các luồng vốn quốc tế đặc biệt là những luồng vốn đầu t ngắn hạn không chắc chắn là không gây nguy hiểm cho các nớc

đang phát triển Một trong những nguy cơ này là sự thay đổi mạnh mẽ tâm lý của các nhà đầu t và làn sóng đầu cơ tích trữ có thể làm đảo lộn tỷ giá hối

đoái, gây nguy hiểm cho các ngân hàng và các công ty lớn, gây tổn hại cho nền kinh tế Không thể bắt vị thần vốn đầu t nớc ngoài chui trở lại vào trong bình, một điều mà rốt cuộc, thật không đáng mong muốn Những nguồn vốn

nh vậy đến cùng với sự thách thức: đa ra những chính sách và những thể chế làm lệch cán cân, để khả năng lu chuyển vốn mang lại lợi ích cho nền kinh tế của các nớc phát triển, chứ không làm tổn hại chúng [45, 53] Vậy quan hệ

đầu t trực tiếp nớc ngoài của Đài Loan vào Việt Nam có nằm ngoài khả năng đó

Quá trình hợp tác đầu t giữa Việt Nam - Đài Loan trong suốt 17 năm qua(1990 – 2006) là một trong hai nội dung quan trọng để nói lên chiều hớngkhông ngừng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nớc Trong một cáinhìn dù sơ lợc nhất chúng ta cũng thấy đợc rằng quá trình hợp tác đó đã manglại một nguồn lợi quan trọng đối với Việt Nam trong thời gian qua Sở dĩ đạt đ-

ợc những thành tựu đó, cũng giống nh những điều kiện đã trình bày ở phầnquan hệ thơng mại Chính những tiền đề đó đã tạo ra cơ sở hết sức to lớn cho sựphát triển trong quan hệ đầu t giữa Việt Nam - Đài Loan

Trong nhiều năm qua, Đài Loan luôn là một trong những bạn hàngquan trọng và lớn nhất của nền thơng mại Việt Nam Cho dù quan hệ hợp tác

đầu t giữa Việt Nam - Đài loan chỉ thực sự bắt đầu diễn ra từ năm 1989 songcho đến nay, Đài Loan đã từng có 6 năm xếp ở vị trí thứ nhất trong 10 quốcgia có nguồn vốn đầu t lớn nhất vào Việt Nam ở các năm: 1992, 1995, 2002,

2003, 2004, 2006 (Văn phòng đại diện Kinh tế – Văn hoá Đài Bắc tại HàNội) Sự phát triển trong quan hệ đầu t giữa Việt Nam - Đài Loan không chỉthể hiện ở vị trí thứ nhất trong 6 năm mà nó còn đợc thể hiện ở rất nhiều khíacạnh khác nh khối lợng đầu t, quy mô đầu t, lĩnh vực đầu t, địa bàn đầu t… phục vụ cho mục tiêu CNH-

2.2.1 Khối lợng đầu t

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế cho đến

nay, Việt Nam đang thể hiện mình nh một vùng “đất hứa” đối với các nhà đầu

t nớc ngoài Hàng loạt các quốc gia, vùng lãnh thổ, hàng loạt dự án và đi cùngvới nó là vốn đầu t ồ ạt đổ vào khai thác thị trờng Việt Nam Trong số các nhà

Trang 38

đầu t ấy, Đài Loan nổi lên nh một trong những nhà đầu t hàng đầu tại ViệtNam Họ đã tìm thấy những lợi ích to lớn từ thị trờng đầy tiềm năng và mới mẻnày Với lợi thế về vốn, công nghệ, các thơng nhân Đài Loan đã nhanh chóng

và sớm thâm nhập vào thị trờng Việt Nam, một vùng đất còn rất “hoang sơ”

nhng cũng rất màu mỡ và hấp dẫn cha đợc khai thác Kể từ dự án đầu tiên vàonăm 1989, khối lợng đầu t của Đài Loan vào Việt Nam không ngừng ổn địnhbền vững mà còn liên tục phát triển theo thời gian

Năm 1989 là năm mở đầu cho quá trình đầu t của Đài Loan tại ViệtNam Cho dù trong năm đó Đài Loan chỉ thực hiện 1 dự án với tổng vốn đăng

ký là 1,5 triệu USD, xếp thứ 8 trong số 13 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt tạiViệt Nam, một vị trí còn rất khiêm tốn Nhng chỉ một năm sau, năm 1990, tổngvốn FDI của Đài Loan vào Việt Nam đã tăng vọt lên gấp hàng chục lần (251triệu USD), bứt phá lên xếp thứ 2 trong vị thứ xếp hạng đầu t trực tiếp nớcngoài của 10 nớc và vùng lãnh thổ có FDI vào Việt Nam [26, 62] Sự nhảy vọt

có tính bứt phá này, nói lên khả năng nắm bắt khá nhạy bén của các nhà đầu t

Đài Loan trong việc đầu t ra bên ngoài, đó là cú nhảy có chủ đích và hoàn toàn

đúng đắn Để thấy rõ hơn, chúng ta cùng theo dõi qua bảng thống kê khối lợngFDI của Đài Loan vào Việt Nam sau đây

Bảng 10: số dự án đầu t trực tiếp của đài loan đợc cấp phép qua các năm

(1989 – 2006)

Năm Số dự

án

Vốn đăng ký (Triệu USD)

Quy mô

(triệu USD/dự án)

Trang 39

2003 167 321,646 1,93 88,36 760,2 131,3

Nguồn: Cục Đầu t Nớc ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu t

Sang năm 1991 và 1992 số dự án và tổng vốn đăng ký tiếp tục tăng lênvới số liệu tơng ứng là 36 dự án - 520 triệu USD; 37 dự án - 561 triệu USD

Từ năm 1991 đến năm 1992, số dự án và số vốn đăng ký đều tăng lên gấp 2lần Và đó cũng là lần đầu tiên sau 4 năm thâm nhập vào thị trờng đầu t ViệtNam, Đài Loan đã vơn lên vị trí thứ nhất trong 10 quốc gia và vùng lãnh thổ

có FDI lớn nhất vào Việt Nam Đó quả là một thành tựu vô cùng đáng mừngcho cả Việt Nam và Đài Loan Các nhà đầu t Đài Loan thì tìm ra đợc một thịtrờng đầu t mới, từng bớc thu về những nguồn lợi nhuận lớn từ các dự án đầu

t Phía Việt Nam thì tăng thêm sự đa dạng về các nhà đầu t, giải quyết một sốlợng lớn nguồn lao động trong nớc và tất nhiên chính phủ cũng thu đợc mộtkhối lợng ngân sách không nhỏ từ các nhà đầu t Đài Loan Đến hai năm tiếptheo, 1993, 1994 tuy số dự án có tăng lên chút ít 1993 (49 dự án); 1994 (78

dự án) nhng tổng vốn đầu t lại giảm, 1993 (421,3 triệu USD); 1994 (518,6triệu USD) Nguyên nhân của sự giảm sút này không phải là do các nhà đầu t

Đài Loan chùn” lại sau những bớc đi thăm dò“ ” mà là do tính cha đồng đều

và ổn định trong giai đoạn đầu của quá trình đầu t Vì đến năm 1995, thì tổngvốn đầu t trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam lại tăng lên một cách chóngmặt, 65 dự án với tổng vốn đăng ký gần 1,240 tỷ USD Quy mô trên một dự

án là 19,07 triệu USD Đây cũng là năm có vốn đầu t cao nhất của Đài Loanvào Việt Nam kể từ năm 1989 cho đến nay (2006) Sở dĩ năm 1995, số vốn

đầu t trực tiếp nớc ngoài của Đài Loan vào thị trờng Việt Nam lại tăng mộtcách vợt trội nh vậy là có những nguyên nhân của nó Thứ nhất, từ tháng5/1995, ngân hàng thơng mại Chinatrust đã trở thành ngân hàng t nhân đầutiên của Đài Loan đợc cấp giấy phép hoạt động ở Việt Nam [26,50] Việc cấpgiấy phép hoạt động cho ngân hàng này đã giải toả đợc khó khăn về tài chínhcho các nhà đầu t Đài Loan tại Việt Nam, vấn đề lu chuyển vốn từ Đài Loansang Việt Nam đã đợc đảm bảo một cách thuận tiện và an toàn Thứ hai, cũngtrong năm 1995, hai sự kiện hết sức quan trọng đối với không chỉ nhân dânViệt Nam mà cả với các doanh nghiệp Đài Loan là Việt Nam chính thức trởthành thành viên của Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) và Việt Nam

đã bình thờng hoá quan hệ với Mĩ - một thị trờng rộng lớn và có nền kinh tế

Trang 40

phát triển nhất thế giới Hai sự kiện đó đã minh chứng và đảm bảo với các nhà

đầu t thế giới trong đó có các nhà đầu t Đài Loan rằng, Việt Nam đã chínhthức mở cửa và hội nhập cùng với sự phát triển chung của thế giới Đài Loanmuốn tận dụng Việt Nam nh là một thị trờng trung chuyển và khai thác để cóthể thâm nhập sâu hơn vào các thị trờng lớn mạnh đó Thứ ba, là sự chuyển h-ớng chỉ đạo trong chiến lợc phát triển kinh tế của chính quyền Đài Loan

Tháng 11/1994 Đài Loan thực hiện “chính sách hớng Nam”, tức là tiến xuống phía Nam hay còn gọi là “Nam tiến” coi khu vực Đông Nam á là thị trờng

trọng tâm của các nhà đầu t Đài Loan, trong đó Việt Nam đợc coi là thị trờngtrọng điểm và đáng tin cậy Đây là một sự điều chỉnh có cơ sở của chínhquyền Đài Loan, bởi vì khi sự phát triển của các thị trờng truyền thống đã trởnên bão hoà, hơn nữa Đông Nam á bớc vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX đang

nổi lên nh một “ngôi sao”, là khu vực có tốc độ tăng trởng cao nhất thế giới.

Vả lại chính khu vực này đang thực sự tạo ra những lợi thế có tính bổ sungcho sự phát triển của các nhà đầu t Đài Loan Với thị trờng rộng lớn, nguồnlao động dồi dào (500 triệu ngời), rẻ; nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng;nhiều lĩnh vực đầu t còn bỏ ngõ; môi trờng đầu t đang từng bớc đợc cảithiện… phục vụ cho mục tiêu CNH- Trong những điều kiện ấy, Việt Nam nổi lên nh một “câu chuyện” điển

hình về sự thay đổi và liên tục phát triển của thế giới Việt Nam đã chuyển từmột nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trờng và mọi cải cách đều theo hớng

“rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế” Có thể nói, đó là

một môi trờng đầu t hấp dẫn mà các nhà đầu t Đài Loan dù có khó tính và thậntrọng đến mấy cũng không thể bỏ qua hay từ chối đợc

Nếu chúng ta xem từ 1990 - 1995 là một giai đoạn đầu t của Đài Loan

vào Việt Nam thì đó quả là một giai đoạn “thịnh trị” nhất của các nhà đầu t

Đài Loan trên thị trờng Việt Nam So sánh tổng vốn đầu t của Đài Loan vàokhu vực Đông Nam á thì riêng Việt Nam đã chiếm 43% Một tỷ lệ lớn vốn đã

đổ vào Việt Nam và chắc rằng con số đó sẽ khiến cho nhiều nớc trong khuvực phải khao khát trong sự ghen tỵ với những gì mà Việt Nam đã gặt hái đ-

ợc Tuy nhiên, bớc sang năm 1996 thì tổng vốn FDI của Đài Loan vào Việt

Nam lại có chiều hớng “chùn” lại Số dự án từ 65 năm 1995 chỉ còn 48 dự án,

tổng vốn đầu t thì cha bằng một nửa (534,3 triệu USD) Đặc biệt là năm 1997thì vốn đầu t trực tiếp của Đài Loan đã tụt xuống một cách thảm hại, từ đỉnhcao năm 1995 là 1,240 tỷ USD chỉ còn lại 247,8 triệu USD, quy mô triệu USDtrên một dự án từ hơn 19 triệu chỉ còn 3,6 triệu USD Sự giảm sút này đã dẫn

Ngày đăng: 22/04/2022, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Hoàng Thế Anh (2001), Chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ: những gợi ý đối với Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 5 (39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa vànhỏ: những gợi ý đối với Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2001
[2]. Hoàng Thế Anh (1996), Mối quan hệ kinh tế giữa Đài Loan- Việt Nam, T liệu Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ kinh tế giữa Đài Loan- ViệtNam
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 1996
[3]. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận "–
[4]. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên), (2003), Góp phần nhận thức thế giới đơng đại. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đơng đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
[5]. Bộ Thơng mại (2005), Tài liệu bồi dỡng kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dỡng kiến thức cơ bản về hộinhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Thơng mại
Năm: 2005
[6]. Nguyễn Minh Châu (1998), Kinh nghiệm của Đài loan trong phát triển kinh tế, T liệu Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Đài loan trong pháttriển kinh tế
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1998
[7]. Tô Xuân Dân, Vũ Chí Lộc (1996), Giáo trình quan hệ quốc tế.NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ quốc tế
Tác giả: Tô Xuân Dân, Vũ Chí Lộc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
[8]. Doanh nhân Đài Loan tìm cơ hội đầu t tại Bình Dơng, http://www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân Đài Loan tìm cơ hội đầu t tại Bình Dơng
[9]. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội VI, NXB Sự Thật, Hà Néi, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VI
Nhà XB: NXB Sự Thật
[10]. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội VII, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VII
Nhà XB: NXB Sự Thật
[11]. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VIII
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
[12]. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội IX
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
[13]. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội X
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ơng, Ban chỉ đạo tổng kết lý luận, (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Lu hành nội bộ, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễnqua 20 năm đổi mới (1986-2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ơng, Ban chỉ đạo tổng kết lý luận
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc giaHà Nội
Năm: 2005
[15]. “Đài Loan Điều chỉnh chiến lợc đầu t vào Việt Nam”, http://www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đài Loan Điều chỉnh chiến lợc đầu t vào Việt Nam
[16]. Lu Văn Đạt (chủ biên), (1996), Đổi mới và hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện chính sáchcơ chế quản lý kinh tế đối ngoại
Tác giả: Lu Văn Đạt (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[17]. “Đầu t trực tiếp của Đài Loan tại Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng”, http://www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu t trực tiếp của Đài Loan tại Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng
[18]. Trì Điền, Triết Phu, Hồ Hân,(1997), Đài Loan nền kinh tế siêu tốc và bức tranh cho thế kỷ sau. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đài Loan nền kinh tế siêutốc và bức tranh cho thế kỷ sau
Tác giả: Trì Điền, Triết Phu, Hồ Hân
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[20]. Phùng Thị Huệ (1998), Ngoại thơng Đài Loan: Quá trình hình thành và phát triển. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3, tr 56-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hìnhthành và phát triển
Tác giả: Phùng Thị Huệ
Năm: 1998
[21]. Phùng Thị Huệ (1999), Hai mơi năm quan hệ kinh tế Đại Lục-Đài Loan. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5, tr 78-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mơi năm quan hệ kinh tế Đại Lục-"Đài Loan
Tác giả: Phùng Thị Huệ
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

GT bài: Ghi đề bài lên bảng - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
b ài: Ghi đề bài lên bảng (Trang 6)
Bảng 2: Giá trị sản lợng các ngành qua một số năm - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 2 Giá trị sản lợng các ngành qua một số năm (Trang 23)
2.1. Quan hệ thơng mại - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
2.1. Quan hệ thơng mại (Trang 35)
Nhìn vào bảng thống kê của Tổng cục thuế quan Đài Loan cho chúng ta thấy, tổng kim ngạch mậu dịch Đài Loan  -Việt Nam đã tăng lên liên tục và tơng đối ổn định qua các năm - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
h ìn vào bảng thống kê của Tổng cục thuế quan Đài Loan cho chúng ta thấy, tổng kim ngạch mậu dịch Đài Loan -Việt Nam đã tăng lên liên tục và tơng đối ổn định qua các năm (Trang 36)
Bảng 5: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của việt nam từ ĐàI Loan 1990-2006 - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 5 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của việt nam từ ĐàI Loan 1990-2006 (Trang 41)
Từ những số liệu bảng 4 còn cho chúng ta thấy rằng, giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  Đài Loan không ngừng tăng cao - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
nh ững số liệu bảng 4 còn cho chúng ta thấy rằng, giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan không ngừng tăng cao (Trang 42)
Về xuất khẩu, nh bảng số liệu thống kê trên thì giá trị kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan sang Việt Nam đã không ngừng liên tục tăng lên qua các năm song ở chiều ngợc lại, chiều nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam tuy có tăng về giá trị kim ngạch nhng tăng rất - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
xu ất khẩu, nh bảng số liệu thống kê trên thì giá trị kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan sang Việt Nam đã không ngừng liên tục tăng lên qua các năm song ở chiều ngợc lại, chiều nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam tuy có tăng về giá trị kim ngạch nhng tăng rất (Trang 43)
Bảng 8: Kim ngạch mậu dịch của Đài loan với 10 nớc đông nam á (1993- 2002) - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 8 Kim ngạch mậu dịch của Đài loan với 10 nớc đông nam á (1993- 2002) (Trang 44)
Bảng 9: Những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của việt nam từ  đài  loan (1993 – 7/2002) - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 9 Những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của việt nam từ đài loan (1993 – 7/2002) (Trang 50)
Bảng 10: Những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của Đài loan từ việt nam (1993- 8/2002) - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 10 Những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của Đài loan từ việt nam (1993- 8/2002) (Trang 51)
Từ bảng số liệu trên đây, chúng ta thấy lĩnh vực đợc các nhà đầu t Đài Loan quan tâm và đầu t lớn nhất là công nghiệp - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
b ảng số liệu trên đây, chúng ta thấy lĩnh vực đợc các nhà đầu t Đài Loan quan tâm và đầu t lớn nhất là công nghiệp (Trang 74)
Bảng 18: đầu t đài loan theo địa phơng 1989 -2006 (tính tới ngày 31/12/2006 – chỉ tính những dự án còn hiệu - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
Bảng 18 đầu t đài loan theo địa phơng 1989 -2006 (tính tới ngày 31/12/2006 – chỉ tính những dự án còn hiệu (Trang 86)
8 270.363.50 6 Bà Rịa – Vũng Tàu 23 219.110.78 - QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM  ĐÀI LOAN
8 270.363.50 6 Bà Rịa – Vũng Tàu 23 219.110.78 (Trang 86)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w