Bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam Hệ thống chính trị của Việt Nam là một hệ thống các tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội có quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện quyền
Trang 1Chuyên đề 4 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỂ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
1 Khái niệm hệ thống chính trị
Khái niệm “hệ thống chính trị” được Đảng Cộng sản Việt Nam chínhthức sử dụng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI(tháng 3-1989) để thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” vẫn đượcdùng trước đây Đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng Từ đó đếnnay, trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm
“hệ thống chính trị” được sử dụng một cách thưòng xuyên và rộng rãi
Hệ thống chính trị là một đối tượng phức tạp về cấu trúc tổ chức và cácmôì quan hệ nảy sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động Vì vậy, để phản ánh
nó có rất nhiều định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa phản ánh hoặc nhấn mạnhmột mặt, một khía cạnh, một chức năng, đặc điểm nào đó của hệ thống chínhtrị
2 Bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị của Việt Nam là một hệ thống các tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội có quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện quyền lực củanhân dân
Cương lĩnh năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Toàn
bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong' giai đoạn mới là
nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” 1 bảo
đảm quyền lực thuộc về nhân dân, do đó bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam chính là một hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, thực
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 51, tr 145.
Trang 2hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống chính trị và các tổ chức thành viên của nó không có quyền lực
tự thân, quyền lực của hệ thống chính trị bắt nguồn từ quyền lực của nhân dân,
do nhân dân uỷ quyền, “mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” như Chủtịch Hồ Chí Minh đã nói Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thểduy nhất và tối cao của quyền lực chính trị Vì vậy, phải bảo đảm quyền lựcchính trị luôn phục vụ lợi ích và ý chí của nhân dân, phòng ngừa các nguy cơlạm quyền, tha hoá quyền lực làm phương hại đến quyền lực của nhân dân,không để nhân dân bị mất quyền sau khi đã uỷ quyền
Quyền lực chính trị do nhân dân uỷ quyền được thể hiện trên ba nội dung
cơ bản:
- Quyền quyết định đường lối chính trị
- Quyền thi hành đường lối chính trị
- Quyền kiểm tra, giám sát đối với việc quyết định đường lối chính trị
và thực thi đường lối chính trị
Hệ thống chính trị còn là một hình thức tổ chức thực hành dân chủ, mỗimột tổ chức trong hệ thống chính trị là một phương thức bảo đảm địa vị “làchủ” và quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Theo
Hồ Chí Minh, dân chủ tức “dân là chủ”, “dân làm chủ”, “dân là gốc” Vì vậy,mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị thực sự phải là một tổ chức dân chủ, làkhuôn mẫu của dân chủ để lãnh đạo, tổ chức và hướng dẫn các tầng lớp nhândân thực hành dân chủ Hệ thống chính trị có thế nói là một trường học dân chủ,giáo dục ý thức dân chủ và nâng cao năng lực thực hành dân chủ cho các tầnglớp nhân dân Thực chất của công cuộc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trịcủa Việt Nam là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làmchủ của nhân dân Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mụctiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới
3 Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị
Tương ứng với ba nội dung cơ bản trong sự uỷ quyền của nhân dân cho
Trang 3hệ thống chính trị, hệ thống chính trị có ba loại thiết chế (tổ chức): Đảng cầmquyền; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcchính trị - xã hội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà
nước và xã hội Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân”lãnh đạo hệ thống ấy Đảng quyết định đường lối chính trị cho sự phát triển củađất nước và chịu trách nhiệm trước nhân dân Đảng gắn bó mật thiết với nhândân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân đểxây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổHiến pháp, pháp luật
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: Nhà nước thực hiện đường lối chính trị do Đảng cầm quyền đề ra để tiến hành và quản lý đất nước thống qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và quản lý đất nước Nhà nước là tổ chức chính trị do nhân dân bầu ra, thể hiện tập trung quyền làm chủ, quyền dân chủ của nhân dân.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện
quyền tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, giám sát, phản biện đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước trong việcthực hiện quyền lực của nhân dân
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tựnguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cánhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phậncủa hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộngsản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận Mặt trận hoạtđộng theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhấthoạt động giữa các thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay có 46 tổ
Trang 4chức thành viên trong đó có 5 tổ chức chính trị - xã hội là:
+ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
+ Hội Nông dân Việt Nam
+ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
+ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
+ Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Năm tổ chức chính trị - xã hội này vừa là tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, vừa tồn tại độc lập và là những bộ phận của hệ thống chínhtrị
4 Chức năng và các cơ sở của hệ thống chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Chức năng tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân (quyền quyếtđịnh đường lối chính trị đối với sự phát triển đất nước; quyền thực hiện đườnglối chính trị trong điều hành và quản lý đất nước; quyền giám sát quá trình thựcthi quyền lực được nhân dân uỷ quyền)
- Chức năng xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc(xây dựng một xã hội đoàn kết, đồng thuận)
- Chức năng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm dânchủ (lãnh đạo tổ chức và hướng dẫn các quá trình dân chủ; giáo dục, nâng caonăng lực thực hành dân chủ cho các tầng lớp nhân dân)
- Chức năng giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranhtrấn áp các lực lượng thù địch âm mưu phá hoại sự nghiệp đổi mới trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội
b) Các cơ sở của hệ thống chính trị
- Cơ sở chính trị: là chế độ nhất nguyên chính trị với một đảng duy nhất
cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ xã hội chủnghĩa Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
- Cơ sở kinh tế: là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trang 5Cơ sở này đòi hỏi tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị phải tuân theocác quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giải quyết đúng đắn, hài hoà mốiquan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
- Cơ sở xã hội: là khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên
minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Trong thời
kỳ đổi mới, với sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, nên xuất hiệnnhiều giai tầng xã hội mới và những biến động trong mỗi giai tầng làm tăng lêntính đa dạng và phức tạp trong các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội, nhucầu và cơ hội phát triển của mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗi cộng đồng
- Cơ sở tư tưởng: nền tảng tư tưởng của chệ độ chính trị và hệ thống
chính trị Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Cơ sở nhân dân: đó là lòng dân, lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Cơ sở này có ý nghĩa quyết định bởi vìnhân dân là gốc của nước, được lòng dân là được tất cả, mất lòng dân là mất tất
cả Lòng dân là yếu tố bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của hệ thốngchính trị
5 Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị là một hệ thống các thiết chế được tổ chức và hoạtđộng trên nền tảng chính trị Vì vậy, các quan hệ trong tổ chức và hoạt động
giữa các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị về bản chất là các quan hệ chính trị Đặc điểm quan trọng của các quan hệ chính trị này là tính không đồng
cấp của các quan hệ Sự không đồng cấp này xuất phát từ vị trí, vai trò khácnhau của các thiết chế tổ chức tham gia hệ thống chính trị Các quan hệ nàyluôn tồn tại, vận động trong những quan hệ thứ bậc nhất định và phụ thuộc vàotương quan giữa các thiết chế trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền vàtrách nhiệm của từng thiết chế
Nhóm 1: Các quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhà nước, Mặt trận Tổ
Trang 6quốc và các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Trong mối quan hệ này, Đảng đóng vai trò là lực lượng lãnh đạo toàn bộ
hệ thống chính trị Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hộichịu sự lãnh đạo của Đảng Tính chất của mối quan hệ này được xác định bởinội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo bằngcương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằngcông tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát vàbằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu
tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của
hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước và các tổchức khác trong hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo bằng phương thức dân chủ,không áp đặt có tính chất hành chính mệnh lệnh
Đảng không chỉ là tổ chức lãnh đạo mà còn là tổ chức thành viên của hệthống chính trị Điều đó không có nghĩa xếp Đảng ngang hàng với các tổ chứckhác trong hệ thống chính trị Địa vị thành viên của Đảng trong hệ thống chínhtrị bao hàm ý nghĩa Đảng tôn trọng và đề cao vị trí, vai trò và phát huy tính chủđộng, sáng tạo của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xãhội; Đảng phục tùng pháp luật của Nhà nước, tôn trọng điều lệ, tôn chỉ, mụcđích của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Đảng tự đặt mình chịu sự kiểm tra,giám sát của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân
Nhóm 2: Mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức trong hệ thốngchính trị
- Mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng cầm quyền là mối quan hệ vừamang tính phụ thuộc, vừa mang tính độc lập
Tính phụ thuộc được xác định bởi vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyềncủa Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước, định hướng chính trị cho tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước ở cáccấp, các ngành
Tính độc lập của Nhà nước thể hiện ở chỗ:
Trang 7+ Nhà nước là tổ chức chính trị trụ cột trong hệ thống chính trị, là một tổchức công quyền, là hình thức tồ chức quyền lực của nhân dân Trong bản chấtsâu xa, Nhà nước là của nhân dân, do nhân dần, vì nhân dân Sứ mệnh của Nhànước là phụng sự lợi ích của nhân dân và chịu sự định đoạt của nhân dân.
+ Quyền lực của Đảng và quyền lực Nhà nước là hai loại quyền lực chínhtrị khác nhau Đảng không thực hiện quyền lực Nhà nước
+ Trong điều kiện nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vai trò tốì thượng,pháp luật là công cụ điều chỉnh cơ bản và trọng yếu mọi quan hệ xã hội Đảngcũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
- Mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội:
+ Là quan hệ giữa hai đối tượng đều cùng chịu lãnh đạo chính trị của mộtđảng cầm quyền
+ Là quan hệ giữa hai chủ thể có tính chất, vai trò, địa vị rất khác nhau:một bên là tổ chức công quyền, còn một bên là các tổ chức tập hợp đại bộ phậncác công dân theo các tiêu chí khác nhau (về nghề nghiệp, giới, lứa tuổi )
Nhóm 3: Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chínhtrị - xã hội trong hệ thống chính trị:
Các quan hệ này được xem xét trên hai phương diện:
- Phương diện thứ nhất: Các tổ chức chính trị - xã hội với tư cách lànhững tổ chức thành viên cùng với các đoàn thể quần chúng hợp thành tể chứcMặt trận Tổ quốc
- Phương diện thứ hai: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xãhội là những tổ chức có địa vị bình đẳng trong tư cách là những thành viên của
Trang 8xác định rõ hành lang pháp lý cho sự vận hành của các quan hệ này.
6 Các đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
a) Tính nhất nguyên chính tri
Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một đảng cầm quyền Hệthống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức, hoạt độngtrên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
b) Tính pháp lý vững chắc
Các thành viên của hệ thống chính trị Việt Nam (Đảng, Nhà nước, Mặttrận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội) đều được Hiến pháp và pháp luậtViệt Nam thừa nhận nên có tính chính đáng, có địa vị pháp lý vững chắc, hợphiến và hợp pháp
c) Thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc là một
đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam
Lịch sử nền chính trị Việt Nam cho thấy, các vấn đề giai cấp luôn gắn bócác vấn đề dân tộc Các giai cấp tiến bộ đều gắn mình với dân tộc Đấu tranhgiải phóng giai cấp gắn liền với đấu tranh giải phóng dân tộc Lợi ích giai cấpcông nhân thống nhất với lợi ích dân tộc
Ngày nay, hệ thống chính trị Việt Nam mang bản chất giai cấp côngnhân, đại diện trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàndân tộc Hệ thống chính trị Việt Nam là đại biểu cho dân tộc, là yếu tố đoàn kếtdân tộc, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dân, là hình thức, công cụthể hiện và thực hiện quyền làm chủ, quyền dân chủ của nhân dân; là hệ thốngchính trị của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, chịu sự giám sát của nhândân
d) Hệ thống chính tri được tổ chức rông khắp theo nguyên tắc tập
trung dân chủ
Trang 9Hiện nay Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố, với 600 quận, huyện và hàngchục nghìn phường, xã, thị trấn Hầu như ở đâu cũng có đầy đủ các tổ chứcđáng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội theo hệ thống từ trên xuốngdưới cho đến tận cơ sở, có mặt ở mọi cấp.
Hệ thống chính trị còn tồn tại theo các đơn vị, cơ quan, các tổ chức hànhchính - sự nghiệp, các doanh nghiệp Tất cả tạo nên một mạng lưới chằng chịt,gắn kết chặt chẽ
Do đó, hệ thống chính trị có tính thống nhất cao về ý chí và hành động,
có tính ổn định trong nhiều năm qua
II ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
TRONG ĐIỂU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1 Sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính tri trong điều kiện phát triển nền kinh tế thỉ trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quôc tế
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixưống và lãnh đạo đến nay đã gần 30 năm, đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử, đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thànhnước có thu nhập trung bình
Trong công cuộc đổi mối, đổi mới hệ thống chính trị là một nội dungtrọng yếu
Đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới nhận thức từ hệ thống chính trị, đổimới tố chức uà hoạt động của hệ thống chính trị nhằm xây dựng một hệ thốngchính trị vững mạnh, trong sạch, năng động, hiệu lực, hiệu quả, dân chủ, thực
sự gắn bó với nhân dân nhằm đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng làbảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Việc đổi mới hệ thống chính trị xuất phát từ các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
Trang 10nghĩa đòi hỏi một hệ thống chính trị thật sự phù hợp, năng động, gắn kết giữa
đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của kinh tế thị trường
- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đòi hỏi hệ thống chính trị phảivững mạnh, kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnhtrong nước với sức mạnh quốc tế, nâng cao hiệu quả hội nhập, giữ vững độclập, tự chủ, kịp thời ứng phó với tình hình quốc tế biến đổi nhanh, phức tạp
- Nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị phải được tổchức và hoạt động theo đúng các yêu cầu của chế độ pháp quyền
- Hệ thống chính trị đang đứng trước những thách thức mới của phân
tầng xã hội, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới để đủ năng lực xử lý các quan hệ nảysinh trong quá trình phân tầng xã hội
- Yêu cầu nâng cao năng lực của hệ thống chính trị trong việc giảiquyết các vấn đề tôn giáo, dân tộc
- Sự phát triển đất nước trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI đòi hỏi phảitiếp tục giữ vững ổn định chính trị, kiên định mục tiêu phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
- Đổi mới hệ thống chính trị để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệuquả hoạt động của hệ thống chính trị, khắc phục những hạn chế, yếu kém, bấtcập của hệ thống chính trị
2 Các quan điểm, nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị
a) Muc tiêu đổi mới hệ thống chính trị
- Khắc phục các yếu kém, bất cập trong tổ chức và hoạt động của Đảng,Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đấu tranh phòng,chống có hiệu quả với nạn quan liêu, tệ tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu, vôtrách nhiệm, sự thoái hoá, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên, công chức
Trang 11- Khắc phục nguy cơ tụt hậu của hệ thống chính trị so với phát triểnkinh tế, đảm bảo mốì quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chínhtrị.
* Nhằm xây dựng một hệ thống chính trị dân chủ, dân tộc, tiên tiến vàhiện đại, trong sạch và vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả
b) Các quan điểm đổi mới hệ thống chính trị
- Đổi mới hệ thống chính trị để thực hiện tốt mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn địnhchính trị, nâng cao chất lượng phát triển bền vững của đất nước
- Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống văn hoá, lịch sử củadân tộc, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới
- Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng, bản lĩnh cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng vừa là
“hạt nhân” lãnh đạo, vừa là thành viên của hệ thống chính trị
- Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Nhà nước là trụ cột của hệ thốngchính trị, tập trung xây dựng và thực hiện đúng chức năng của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, có bộ máy tinhgọn, năng động, trong sạch và hiệu quả
- Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcchính trị - xã hội thật sự là các tổ chức đại biểu cho tiếng nói, lợi ích, nguyệnvọng làm chủ của nhân dân và thực hiện chức năng phản biện, giám sát xã hộiđối với hoạt động của các cơ quan đảng, nhà nước, của cán bộ, đảng viên, côngchức; khắc phục tình trạng hành chính hoá, nâng cao tính tự chủ của các tổ chứcnày
- Đổi mới hệ thống chính trị gắn liền vối mục tiêu xây dựng, tăngcường và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với Nhà nứớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền