Phân tích, đánh giá những kết quả đạtđược và những bất cập tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch cũng như đề racác giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật QHSDĐ và nâng cao hiệu
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
“Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất
và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện
Nam Giang – Quảng Nam”
Trang 2
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là bộ phận hợp thành của môitrường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố dân cư và tổ chức cáchoạt động kinh tế - xã hội Chính vì vậy, việc sử dụng tài nguyên đất đai một cáchhợp lý và hiệu quả là vấn đề được cả thế giới quan tâm Tuy nhiên, hiện trạng sửdụng đất ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Nam nói riêng hiện nay vẫn cònnhiều hạn chế và bất cập, nhất là ở huyện miền núi Để giải quyết vấn đề đó, đã córất nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng đất, một trong số biệnpháp mang lại hiệu quả tốt nhất đó là công tác quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ).QHSDĐ là một trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai, được ghi nhận tạiđiều 6 và điều 21 đến điều 30 Luật đất đai 2003 Vai trò của QHSDĐ được cụ thểhóa tại điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hànhnăm 1992 theo đó: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và phápluật, đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả” [16,127]1 Như vậy,việc quản lý đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật được nhà nước đặc biệt quantâm trong hoạt động quản lý và sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay
Song, trong điều kiện hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển theo hướngcông nghiệp hóa - hiện đại hóa, thêm vào đó, việc dân số ngày càng gia tăng đã làmcho QHSDĐ trở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết Công tác QHSDĐ ở QuảngNam nói chung và huyện Nam Giang nói riêng trong những năm qua đã đạt đượcnhiều hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tề-xã hội của địa phương Tuynhiên Công tác QHSDĐ dần bộc lộ những hạn chế và bất cập Thực tế cho thấy,Quảng Nam là một tỉnh cần được quy hoạch và bảo vệ chặt chẽ nhưng quá trìnhtriển khai, lập và tổ chức thực hiện QHSDĐ được phê duyệt và đưa vào thực hiệnthì dẫn đến tình trạng “Quy hoạch treo” Tình trạng vi phạm, lấn chiếm đất có quyhoạch vẫn còn phổ biến Tiến độ thực hiện các phương án QHSDĐ còn chậm và
1 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trang 3chưa chú ý tới yếu tố bảo vệ môi trường, phát triển bền vững… Có rất nhiềunguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên nhưng nguyên nhân cơ bản nhất đó là dopháp luật về QHSDĐ chưa hoàn thiện và do sự yếu kém trong việc thực hiện phápluật QHSDĐ của cơ quan chức năng Nhận thức được tầm quan trọng của QHSDĐnên Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đổi mới và hoàn thiện hệ thốngpháp luật QHSDĐ trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù hoạt động QHSDĐ trên thực tế còn nhiều hạn chế nhưng vấn đề này vẫnchưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện Các công trình nghiên cứu vàpháp luật QHSDĐ hết sức ít ỏi, chủ yếu chỉ dừng lại ở các bài báo ở trên tạp chí vàtrên các báo điện tử, chưa đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu của người sử dụng đất vàyêu cầu về việc tham khảo và thực hiện của các cơ quan nhà nước Vấn đề quyhoạch đất xây dựng nông thôn mới cũng được nhiều người nghiên cứu nhưng lạiđược nhìn nhận và đánh giá ở trên phương diện khác Các công trình nghiên cứuchủ yếu chỉ chú ý với vấn đề đầu tư cơ sở hạ tầng mà chưa đặt nó vào công tácQHSDĐ Chính vì thế nghiên cứu pháp luật về QHSDĐ trong việc quy hoạch đấtxây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp thiết
Với mục tiêu nhìn nhận và đánh giá những kết quả của pháp luật QHSDĐ vàviệc thực hiện pháp luật QHSDĐ để quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tạihuyện Nam Giang giai đoạn 2011 – 2015 Phân tích, đánh giá những kết quả đạtđược và những bất cập tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch cũng như đề racác giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật QHSDĐ và nâng cao hiệu quả sửdụng đất để quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang trong
những năm tới, bản thân đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quy hoạch
sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam” Đây là đề tài lần đầu tiên được nghiên cứu nên
tài liệu nghiên cứu còn hạn chế, bản thân chưa học tập được phương pháp nghiêncứu của người đi trước Do đó, bản thân rất mong nhận được sự quan tâm và đónggóp ý kiến của người quan tâm đến hoạt động QHSDĐ và công tác quy hoạch đấtxây dựng nông thôn mới để đề tài này được hoàn thiện hơn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam” tác giả rút ra được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, hiểu
thêm các quy định của pháp luật về QHSDĐ, về quy hoạch đất xây dựng nông thônmới sử giúp cho đề tài nhìn thấy rõ việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mớitrong QHSDĐ là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơquan chức năng, các cấp trong địa phương
Trang 4Ý nghĩa khoa học: Việc nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến QHSDĐ
và quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tạo điều kiện cho bản thân tìm hiểu cácquy định trong việc áp dựng thực tế để tăng thêm việc nghiên cứu, xây dựng nhữngkiến thức cơ bản cho bản thân cũng như cho việc học Ngoài ra, báo cáo thực tậpnày cũng cung cấp một vấn đề cơ bản cho tất cả cá nhân, tổ chức quan tâm đến vấn
đề này
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật vềQHSDĐ và thực tiễn thực hiện trong hoạt động quy hoạch đất xây dựng nông thônmới nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện vấn đề này Bên cạnh đó, tiểu luận còn làmột tài liệu tham khảo, mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả QHSDĐ của tỉnhQuảng Nam nói chung và huyện Nam Giang nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam” nhằm tăng cường sự hiểu biết về tầm quan trọng của vấn đề QHSDĐ
trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới, trao dồi các kỹ năng phục vụcho công việc sau này Mục đích của đề tài nghiên cứu bao gồm:
- Thông qua tìm hiểu những vấn đề lý luận về quy hoạch sử dụng đất và vấn đềquy định về xây dựng nông thôn mới, từ đó chỉ ra được mối quan hệ giữa hoạt độngQHSDĐ nói chung và công tác quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới ngày naynói riêng
- Thông qua tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về QHSDĐ nhằmtìm ra những điểm hợp lý, những hạn chế và bất cập để tìm ra những giải phápnhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về QHSDĐ
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động QHSDĐ và thựctiễn thực hiện trong quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang,thông qua đó thấy được thực trạng pháp luật về QHSDĐ cũng như thực trạng thựchiện pháp luật về QHSDĐ trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tạihuyện Nam Giang
- Từ thực trạng thực hiện pháp luật QHSDĐ nói chung và hoạt động QHSDĐ đểquy hoạch đất xây dựng nông thôn mới của tỉnh huyện Nam Giang nói riêng, khóaluận mong muốn tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn để nâng cao hiệu quảhoạt động QHSDĐ trong công tác quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới trên địabàn huyện Nam Giang
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng mà khóa luận nghiên cứu đó là các quy định của pháp luật về hoạtđộng QHSDĐ Đồng thời, tìm hiểu việc áp dụng pháp luật vào hoạt động QHSDĐcũng như thực tiễn của hoạt động QHSDĐ trong việc quy hoạch đất xây dựng nôngthôn mới tại huyện Nam Giang
Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận chủ yếu nghiên cứu vấn đề về QHSDĐ và cácquy định về quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới trong phạm vi các quy định củaLuật đất đai năm 2003 và các văn bản pháp quy về vấn đề quy hoạch đất xây dựngnông thôn mới
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mác –Lê Nin
Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các vấn đề dựa trên cơ sở khoa học,thực tiễn và lý luận giúp cho nội dung báo cáo mang một sắc thái riêng dựa trênnền tảng khoa học từ đó rút ra quan điểm cho bản thân Ngoài những phương pháp
đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác trong khóa luận đó là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp chủ yếu được sử dụng ở chương lý luận vềQHSDĐ, về quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang –Quảng Nam
- Phương pháp giải thích pháp luật được tác giả sử dụng để lý giải và phân tíchcác quy định của pháp luật về QHSDĐ, về quy hoạch đất xây dựng nông thôn mớitại huyện Nam Giang – Quảng Nam
- Phương pháp thống kê được sử dụng khi xử lý số liệu từ các báo cáo về hoạtđộng QHSDĐ của huyện Nam Giang
- Bên cạnh những phương pháp thống kê và điều tra xã hội học chủ yếu được sửdụng ở chương thực tiễn thực hiện pháp luật QHSDĐ trong việc quy hoạch đất xâydựng nông thôn mới trên toàn huyện để thấy được những kết quả đạt được cũngnhư những hạn chế, bất cập tronzg công tác thực hiện pháp luật QHSDĐ trong việcquy hoạch đất xây dựng nông thôn mới của huyện Nam Giang
Trang 6Chương 2: Nội dung cơ bản của pháp luật quy hoạch sử dụng đất.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất trong việc quyhoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam
Chương 4: Phương hướng, giải pháp trong công tác quy hoạch sử dụng đất vàquy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam
Trang 7II PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUY
HOẠCH ĐẤT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Những vấn đề chung về quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất.
Về mặt bản chất, quy hoạch là sự chuyển hóa từ ý tưởng qua tư duy thành hànhđộng nhằm tạo ra những kết quả để đạt được mục tiêu nhất định Trên thực tế, ýtưởng và mong muốn của con người luôn có xu hướng nâng cao không ngừngnhưng điều kiện để thực hiện được ý tưởng thì luôn bị giới hạn bởi sự hạn chế củacác nguồn lực, vì vậy cần phải có tư duy Như vậy, quy hoạch là quá trình của tưduy lý thuyết quan hệ với từng sự việc được hình thành và thể hiện qua một quátrình hành động thực tế Trong quá trình này nhà quy hoạch phải tính toán, cânnhắc và đề xuất những hoạt động cụ thể để đạt được kết quả dẫn đến mục tiêu Mụctiêu đạt được phải đảm bảo tính hiệu quả và tính bền vững
Xét trên quan điểm đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt thì QHSDĐ là một phạmtrù kinh tế - xã hội và có thể xác định khái niệm QHSDĐ là hệ thống các biện phápcủa Nhà nước, quản lý và tổ chức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả thông qua việc phân
bố đất đai cho các mục đích sử dụng đất và định hướng tổ chức sử dụng đất trongcác cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xãhội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểmsinh thái, bền vững, phù hợp với xã hội và bảo vệ môi trường
Xét trên quan điểm đất đai là tài nguyên quốc gia, là một yếu tố cơ bản của sảnxuất xã hội, nguồn lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội thì QHSDĐ làmột hệ thống chỉ tiêu đánh giá tiềm năng đất đai, những loại hình sử dụng đất vàcác tiềm năng kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn và xác định các giải pháp sử dụng đấttối ưu, đáp ứng các nhu cầu của con người trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyênlâu dài
Xét trên quan điểm đất đai là tài nguyên quốc gia, là một yếu tố cơ bản của sảnxuất xã hội, nguồn lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội thì QHSDĐ làmột hệ thống chỉ tiêu đánh giá tiềm năng đất đai, những loại hình sử dụng đất vàcác tiềm năng kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn và xác định các giải pháp sử dụng đấttối ưu, đáp ứng các nhu cầu của con người trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyênlâu dài
Xét trên quan điểm đất đai là tài sản quốc gia do nhà nước đại diện sở hữu vàkiểm soát thì QHSDĐ là sự tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng, chấtlượng, vị trí, không gian cho các mục tiêu kinh tế - xã hội để việc sử dụng đất phù
Trang 8hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất[19,112]2.
Như vậy, việc lập QHSDĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trướcmắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm
vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, QHSDĐ nhằmđịnh hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập QHSDĐ chi tiết cho mình Xáclập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở
để tiến hành giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực,phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hóa – xã hội
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm QHSDĐ như sau: QHSDĐ là
quá trình tư duy của lý thuyết để hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng trong thực tế một cách bền vững để mang lại lợi ích cao nhất Thực hiện đồng thời hai chức năng đó là điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất với môi trường và phát triển bền vững.
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
QHSDĐ là một trong những yếu tố quan trọng đối với phát triển nền kinh tế củađất nước Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì đặc điểm của QHSDĐ cũng khácnhau QHSDĐ luôn là một bộ phận cấu thành của phương thức sản xuất xã hội nhấtđịnh trong giai đoạn lịch sử đó Chính vì thế, khi phương thức sản xuất thay đổi thìđặc điểm của QHSDĐ cũng thay đổi theo Trong thời kỳ trước, QHSDĐ nhìnchung còn mang nặng yếu tố chủ quan, các phương án QHSDĐ chưa chú trọng đếnyếu tố môi trường và phát triển kinh tế Các phương án QHSDĐ của xã hội trướcchỉ chú ý tới những biện pháp trước mắt là ổn định cuộc sống của người dân chứchưa chú trọng tới việc phát triển bền vững
Ngày nay, trước những thảm họa do thiên tai và môi trường gây nên, thêm vào
đó là sức ép của sự gia tăng dân số khiến con người ngày càng chú ý tới vấn đềQHSDĐ Con người đã có những biện pháp QHSDĐ một cách thích hợp nhằmngăn chặn những ảnh hưởng xấu của môi trường cũng như hướng tới mục tiêu pháttriển bền vững QHSDĐ không chỉ quan tâm đến vấn đề môi trường và sinh thái màcòn quan tâm đến các lĩnh vực khác như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dânsố…
Tóm lại, chúng ta thấy đặc điểm của QHSDĐ trong mỗi giai đoạn khác nhau, luôn thể hiện chính sách cũng như đường lối của các giai cấp thống trị Hay nóicách khác, QHSDĐ cũng mang bản chất giai cấp và thể chế chính trị của mỗi nhànước trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định Trong xu hướng cả thế giới
Trang 9đang đối mặt với những thảm họa mang tính toàn cầu thì yêu cầu về QHSDĐ pháttriển một cách bền vững và bảo tồn được các di tích lịch sử là một yếu tố quantrọng cần được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm.
1.1.3 Sơ lược về quy hoạch và sử dụng đất ở Việt nam qua các thời kỳ
Với những đặc điểm QHSDĐ ta có thể chia QHSDĐ qua năm giai đoạn cơ bản
đó là giai đoạn trước năm 1980; giai đoạn 1980 đến 1986; giai đoạn 1987 đến
1993, giai đoạn 1993 đến nay Trong mỗi giai đoạn lịch sử, QHSDĐ cũng mangnhững nét đặc trưng riêng thể hiện bản chất chính trị, kinh tế và xã hội của giaiđoạn đó
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam năm 1980
Vào thời kỳ trước năm 1980, khi mà ở nước ta chưa thực hiện công cuộc đổi mớiđất nước thì QHSDĐ ở Việt Nam chưa thực sự nhận được quan tâm của Đảng vànhà nước QHSDĐ không được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉđược đề cập tới như một phần của quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp Mặc dùcông tác QHSDĐ lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông, lâm nghiệp đãđược xúc tiến từ năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản tiến hành cùngvới một số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chínhphủ
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt nam thời kỳ 1980 – 1986
Đây là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện tiền đề cơ bản để nhà nước ra nhữngchính sách đổi mới Hiến pháp 1980 ra đời đã bắt đầu có những quy định vềQHSDĐ Như vậy nhà nước đã tham gia vào công tác quản lý đất đai theo quyhoạch như một chủ thể đặc biệt QHSDĐ đã bước đầu được coi là công tác củangành quản lý đất đai chứ không phải chỉ đề cập tới như một phần của quy hoạchphát triển nông lâm nghiệp như ở thời kỳ trước năm 1980 nữa
Trong thời kỳ này, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ phảixúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lựclượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế - xã hội, dự báo kế hoạch triển vọng
để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm (1986 – 1990) Các bộ ngành, các tỉnh, thành phố
đã tham gia triển khai chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượngsản xuất Trong đó, đã đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai và sơ đồ đã được tính toántương đối có hệ thống để khớp với cả nước, với các vùng kinh tế lớn, các huyệntrong tỉnh với sự tham gia phối hợp của các ngành, đã bước đầu đánh giá được hiệntrạng, tiềm năng và đưa ra các dự kiến sử dụng quỹ đất quốc gia
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam thời kỳ 1987 – 1993
Đây là thời kỳ đánh dấu sự ra đời Luật đất đai năm 1987 Lần đầu tiên nước ta
có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh đến lĩnh vực đất đai tạo cơ sở pháp lýquan trọng cho công tác QHSDĐ Mặc dù Luật đất đai 1987 không thể khái quát
Trang 10hết mọi vấn đề của quan hệ pháp luật đất đai Nhưng xét trên phương diện lịch sửthì Luật đất đai 1987 đã làm tròn được sứ mệnh lịch sử của mình Thời kỳ này,nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới sau hội nghị đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI Công cuộc đổi mới đất nước làm cho nền kinh tế đứng trước những khókhăn và thử thách lớn khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Tuy vậy, đây là thời
kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản
lý tập trung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho hộ nôngdân và thực thi các chính sách đổi mới khác, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ởcấp xã nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất, dãn dân và một số nơi
có xu hướng đô thị hóa rõ rệt
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam thời kỳ 1993 - 2003
Khi đất nước chuyển sang một giai đoạn mới, Luật đất đai 1987 không thể đảmđương được sứ mệnh lịch sử của mình nữa nên yêu cầu mới đặt ra là phải thay thếluật cũ bằng một luật mới tiến bộ hơn Để đáp ứng yêu cầu đó Luật đất đai 1993 rađời nhằm điều chỉnh quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường, xóa bỏ tình trạng vôchủ trong quan hệ sử dụng đất, xác lập quyền năng cụ thể cho người sử dụng đất Ởthời kỳ này, công tác đất đai đi vào nề nếp sau một thời gian dài tuyệt đối hóa vềcông hữu hóa đất đai ở miền Bắc và buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía Namdẫn đến tình trạng có quá nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng đất Sau Đại hộiĐảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước triển khai công tác nghiên cứu chiến lượcphát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh thành, các vùngkinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch phát triển ngành ở hầu hết các bộ ngành.Các công trình nghiên cứu này đều tính tới năm 2010, phù hợp với yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội trong vòng 10 đến 15 năm tới, việc nghiên cứu triển khai côngtác QHSDĐ trong phạm vi cả nước đang là vấn đề bức xúc được các ngành, cáccấp và mọi thành viên xã hội hưởng ứng
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam thời kỳ 2003 đến nay
Năm 2003 là cái mốc quan trọng trong công tác quản lý đất đai, thời kỳ này đấtđai thực sự được xem như là hàng hóa, được tham gia vào thị trường bất động sảnmột cách chính quy Đây cũng là thời kỳ Luật đất đai 2003 và Nghị định 181/2004/
NĐ – CP ra đời nhằm điều chỉnh kịp thời QHSDĐ trong hoàn cảnh lịch sử mới.Thời kỳ này, công tác quy hoạch cũng được các cấp, các ngành và nhân dân quantâm thực hiện Các cơ quan chức năng đã bắt đầu có sự phối hợp với nhau khi tiếnhành lập quy hoạch sử dụng đất Việc lập QHSDĐ của các cấp, các ngành đã đi vào
nề nếp, góp phần quan trọng tăng cường thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai vàchuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn, đã giải quyết đượctình trạng thiếu lương thực kéo dài và đưa nước ta vào nhóm những quốc gia hàngđầu thế giới về xuất khẩu nông thủy sản Kinh tế nông thôn đã thoát khỏi tình trạng
Trang 11tự cung tự cấp và chuyền dần sang sản xuất hàng hóa, bộ mặt kinh tế - xã hội nôngthôn được cải thiện.
Qua những phân tích trên, tác giả sẽ thể hiện các giai đoạn phát triển củaQHSDĐ qua sơ đồ như sau
* Sơ đồ 1: Sơ đồ thể hiện các giai đoạn phát triển QHSDĐ ở Việt Nam
Như vậy, chúng ta thấy QHSDĐ của nước ta qua các thời kỳ đều đánh dấu sựphát triển từ thấp đến cao Công tác QHSDĐ ngày càng được hoàn thiện nhằm đápứng được những yêu cầu mới của xã hội thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhànước trong công tác lập QHSDĐ Mặc dù ở một số thời kỳ, QHSDĐ còn chưa đượcquan tâm đúng mức và bộc lộ nhiều hạn chế Tuy nhiên, so với hoàn cảnh điều kiện
xã hội lúc bấy giờ thì công tác QHSDĐ cũng đã mang lại nhiều đóng góp to lớncho việc thực hiện QHSDĐ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và kinh tế -
xã hội tại thời điểm lịch sử đó
1.2 Những vấn đề chung về xây dựng nông thôn mới:
1.2.1.Khái niệm về xây dựng Nông thôn mới
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nôngnghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu khá toàn diện
và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuấthàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninhlương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trị cao trên thị trường thếgiới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ vànghành nghề; các hình thức sản suất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tậng kinh tế- xãhội được tăng cường; bộ mặt ở nhiều vùng nông thôn thay đổi Đờ sống vật chất vàtinh thần của người dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện.Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng
cố và tăng cường Dân chủ được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộiđược giữ vững
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vàchưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độtăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồnlực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồnnhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sảnxuất nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chấtlượng, giá trị gia tăng ở nhiều mặt hàng còn thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành
Trang 12nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàlao động ở nông thôn Các hình thức chậm đổi mới sản xuất, chưa đáp ứng yêu cầu
về phát triển mạnh sản xuất hàng hóa Nông nghiệp và phát triển nông thôn thiếuqui hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội còn nhiều yếu kém, môi trường ngàycàng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đồisống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất
là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu nghèo giữanông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bứcxúc
Để giải quyết những tồn tại, hạn chế và yếu kém trên đây, Nghị quyết 26-NQ/
TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương 7, khóa X về Nông nghiệp,nông dân và nông thôn đã xác định:
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quantrọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo
an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môitrường sinh thái của đất nước
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu củaquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữanông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển,xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và pháttriển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nôngnghiệp là then chốt
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khaithác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lựclượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăngmạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học,công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nângcao dân trí nông dân
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệthống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ,
tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoàthuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân tộc, tạo động
Trang 13lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nôngdân
Như vậy chúng ta có thể rút ra khái niệm về xây dựng Nông thôn mới như sau:
Xây dựng nông thôn mới là một mục tiêu mang tính toàn diện, bao hàm cả phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nông thôn cũng như xây dựng Đảng, nó mang đậm đặc trưng thời đại Có thể nói một cách khái quát rằng, xây dựng nông thôn mới phải đáp ứng được yêu cầu khoa học phát triển, xã hội ấm no, phát triển nông thôn song hành với thành thị, xây dựng nên nông thôn mới phồn thịnh.
1.2.2 Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới:
- Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời pháttriển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, pháttriển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sứcmạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân
1.3 Thực hiện Pháp luật qui hoạch sử dụng đất để xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Mối quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất và xây dựng nông thôn mới
Trên cơ sở các nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới đã được xác định tại Nghịquyết số 26-NQ/TW Trung ương 7 khóa X ngày 05/8/2008 Chúng ta nhận thấy,giữa qui hoạch sử dụng đất và xây dựng nông thôn mới chúng có mối quan hệ mậtthiết, gắn liền với nhau Xây dựng nông thôn mới gắn với việc qui hoạch lại sảnxuất nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, tạo sản phẩm nông nghiệp có giá trịthương mại cao; tiếp theo là gắn với qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng như điện,đường, trường, trạm, khu hành chính xã.v.v hay nói cách khác xây dựng nông thônmới phải được nằm trong qui hoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp, sắp xếp dân
cư và đầu tư hạ tầng cơ sở Do đó, để thực hiện được các vấn đề trên thì cần phải có
kế hoạch, qui hoạch sử dụng đất để vừa làm cơ sở pháp lý trong công tác quản lý vềđất đai, qui hoạch vừa để tạo được định hướng phát triển trong thời gian ngắn,
Trang 14trung và dài hạn đáp ứng được yêu cầu phát triển về xây dựng nông thôn mới Nếuchính quyền địa phương có những định hướng, tầm nhìn tốt trong qui hoạch đấtđai, thì vấn đề xây dựng các vùng sản xuất, cụm dân cư, đường xá, trường học,trung tâm hành chính của xã nông thôn mới sẽ thuận lợi, tạo động lực phát triển vềlâu dài và có tính bền vững Ngược lại, nếu công tác QHSD đất không được quản
lý chặt chẽ, hoặc nói cách khác là chính quyền địa phương không quan tâm thựchiện, thì nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới sẽ gặp nhiều khó khăn, rời rạc, cácvùng mạnh ai nấy làm, không theo một trật tự không gian và vùng cụ thể, vì vậy sẽkhông tạo được động lực để phát triển kinh tế- xã hội nông thôn tại địa phương
1.3.2 Sự cần thiết của thực hiện pháp luật qui hoạch với xây dựng nông thôn mới
Từ mối quan hệ mật thiết giữa QHSDĐ và xây dựng nông thôn mới như đã phântích trên đây, thì việc thực hiện pháp luật QHSDĐ để xây dựng nông thôn mới làcần thiết, nó vừa đảm bảo về mặt pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, đồng thờitạo được sự thống nhất trong định hướng phát triển về kinh tế- xã hội tại vùng nôngthôn, nhất là tại các địa phương miền núi cao, biên giới để nhằm thực hiện thànhcông các mục tiêu về xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TWTrung ương 7 khóa X ngày 05/8/2008
Đặc biệt là trong những năm gần đây, khi dân số vẫn đang tiếp tục tăng, trongkhi đó, diện tích đất có hạn, đất nông nghiệp dần thu hẹp, nếu không thực hiệnpháp luật về QHSDĐ sẽ gây ra những tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng đất khôngđúng mục đích, ảnh hưởng lớn đến việc sắp xếp vùng sản xuất, cụm dân cư, đất xâydựng cơ sở hạ tầng.v.v.từ đó tác động tiêu cực đến quá trình thực hiện đổi mới toàndiện ở nông thôn mà mục tiêu đã đề ra
Vì vậy, để tăng cường trong công tác quản lý sử dụng đất, cũng như đảm bảocác định hướng, qui hoạch về phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới đivào qui cũ, thống nhất Nhất thiết việc thực hiện pháp luật QHSDĐ thực hiện trênthực tiễn
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUY HOẠCH SỬ DỤNG
ĐẤT
Pháp luật về QHSDĐ bao gồm hệ thống các quy định của Luật đất đai 2003 vềcác vấn đề liên quan đến QHSDĐ nhằm tạo cơ sở pháp lý để hoạt động QHSDĐ cóthể thực hiện tốt trong đời sống xã hội Hiện nay, vấn đề QHSDĐ được quy địnhrất cụ thể từ điều 21 đến điều 30 tại chương 2 mục II Luật đất đai 2003 và được
hướng dẫn từ điều 12 đến điều 29 nghị định số 181/2004/NĐ – CP Ngoài ra, các
nội dung QHSDĐ còn được hướng dẫn tại quyết định số 04/2005/QĐ – BTNMT và
Trang 15thông tư 04/2006/TT – BTNMT Các quy định này tạo thành một hệ thống các quyphạm điều chỉnh các quan hệ về QHSDĐ và được quy định cụ thể như sau:
2.1 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
QHSDĐ có tính tổng thể rất cao, nội dung đề cập tương đối rộng nên khi lậpphương án QHSDĐ cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật đất đai.Trước đây Luật đất đai 1993 chưa có các quy định đề cập đến các nguyên tắc lậpquy hoạch Chỉ đến khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực thì các nguyên tắc lậpQHSDĐ mới được pháp luật quy định Điều 21 Luật đất đai 2003 đã nêu lên támnguyên tắc lập QHSDĐ Các nguyên tắc lập QHSDĐ như sợi chỉ đỏ xuyên suốtquá trình lập quy hoạch
2.2 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất
Khi lập QHSDĐ, nếu như chỉ tuân thủ vào các nguyên tắc của việc lập QHSDĐ
mà không có các căn cứ để định hướng cho việc thực thi quy hoạch thì các phương
án QHSDĐ sẽ không mang tính khả thi Vì thế, chúng ta cần phải có những căn cứ
để các phương án QHSDĐ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất
Luật đất đai 2003 đã quy định về các căn cứ lập QHSDĐ dựa trên sự kế thừacủa Nghị định 68/2001/NĐ-CP của chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtđai Các căn cứ QHSDĐ được quy định tại điều 22 Luật đất đai 2003 Cụ thể, cáccăn cứ xây dựng quy hoạch phải xuất phát từ: Chiến lược, quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển củacác ngành và các địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường; Hiện trạng sử dụngđất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức sử dụng đất; tiến bộ khoa học và công nghệ
có liên quan đến việc sử dụng đất; Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳtrước [18,27]3
2.3 Nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Từ những nguyên tắc và các căn cứ lập QHSDĐ, ta thấy nội dung của QHSDĐluôn biến đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở kế thừa nhữngquy định về nội dung QHSDĐ của Luật đất đai 1993 và Nghị định 68/2011/NĐ –
CP Luật đất đai 2003 đã quy định nội dung QHSDĐ cụ thể như sau: Điều tra,nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sửdụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai; xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đấttrong kỳ quy hoạch; Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình,
3 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003) Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Trang 16dự án; Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất [18,29]4.
2.4 Kỳ quy hoạch sử dụng đất.
Kỳ QHSDĐ là khoảng thời gian mà nhà nước đặt ra để chính quyền các cấp có
cơ sở xây dựng chiến lược từ tổng thể đến chi tiết để thực hiện các nội dungQHSDĐ Điều 24 luật đất đai 2003 quy định về kỳ QHSDĐ của tất cả các cấp làmười năm Quy định về kỳ quy hoạch là một quy định mới so với các văn bản phápluật điều chỉnh về QHSDĐ trước đây Việc quy định về kỳ QHSDĐ giúp nhà nướcquản lý đúng tiến độ thực hiện QHSDĐ của các cấp trong cả nước cũng nhưkhoảng thời gian để nhà nước có thể kịp thời điều chỉnh những biến động vềQHSDĐ theo quy định hiện hành (10 năm) vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý Chúng
ta áp dụng kỳ quy hoạch chung cho tất cả các cấp trong khi đó nhu cầu sử dụng đất,điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi cấp quy hoạch lại khác nhau So với quyhoạch của cả nước thì khoảng thời gian này còn tương đối ngắn, trong khi đó đốivới cấp xã thì thời gian này khá dài, chưa phù hợp được với yêu cầu của quá trìnhđổi mới Vì vậy cần phải xem xét lại các quy định về kỳ QHSDĐ cho phù hợp vớikhả năng và yêu cầu thực tế
2.5 Trách nhiệm lập và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất.
Lập và xét duyệt QHSDĐ là một trong những bước quan trọng trong quá trìnhxây dựng QHSDĐ Theo đó trách nhiệm lập và xét duyệt QHSDĐ được quy địnhrất cụ thể tại điều 25, 26 luật đất đai 2003 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định181/2004/NĐ – CP của chính phủ về thi hành luật đất đai 2003
- Thứ nhất là các quy định của pháp luật về trách nhiệm lập QHSDĐ.
Việc quy định trách nhiệm lập QHSDĐ là nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ củacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành khảo sát và lập QHSDĐ Điều nàynhằm tách bạch trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm của cá nhân đồng thời tăngcường ý thức trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền
Việc lập QHSDĐ được pháp luật quy định tại điều 25 Luật đất đai 2003, điều 15Nghị định 181/2004/NĐ – CP của Chính phủ Theo đó: Chính phủ tổ chức và thựchiện lập QHSDĐ của cả nước; UBND tỉnh tổ chức thực hiện QHSDĐ của cấpmình; UBND huyện thuộc tỉnh có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp huyện vàUBND huyện thuộc thành phố trung ương lập QHSDĐ của cấp xã thuộc khu vực
đô thị; UBND xã có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp xã không thuộc quy hoạchphát triển đô thị [18,30]5
- Thứ hai là về quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Trang 17QHSDĐ muốn đi vào thực hiện trong cuộc sống phải được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xem xét và phê duyệt Xét duyệt là công đoạn cuối cùng trước khi cácphương án quy hoạch được công bố và đưa vào thực hiện trong cuộc sống Đây làbước mà cơ quan cấp trên xác nhận lại một lần cuối tính hợp lý và hợp pháp củacác phương án QHSDĐ của cấp dưới Thẩm quyền quyết định và phê duyệtQHSDĐ được quy định tại điều 26 luật đất đai 2003 cụ thể như sau: Quốc hộiquyết định QHSDĐ của cả nước do Chính phủ trình Chính phủ xét duyệt QHSDĐcủa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trungương xét duyệt QHSDĐ của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp UBND huyện,thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt QHSDĐ cấp xã không thuộc vùng quy hoạchphát triển đô thị [18,31]6.
2.6 Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Điều chỉnh QHSDĐ là việc cơ quan nhà nước thay đổi một số nội dung củaQHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Việc điều chỉnh chỉthực hiện khi có một số thay đổi của các yếu tố có liên quan làm cho các QHSDĐ
đã được xét duyệt không còn phù hợp và khi đi vào thực hiện không có tính khả thi.Việc điều chỉnh QHSDĐ được quy định tại điều 27 đã quy định rất cụ thể cáctrường hợp điều chỉnh QHSDĐ, về nội dung cũng như thẩm quyền quyết định xétduyệt QHSDĐ của các cấp Những quy định về điểu chỉnh đảm bảo được yêu cầu
về tính khả biến của QHSDĐ Đặc biệt quy định cơ quan có thẩm quyền xét duyệtQHSDĐ cấp nào thì có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ cấp ấy là quyđịnh hợp lý Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã quy định cụ thể hồ sơ xét duyệt và hồ
sơ điều chỉnh xét duyệt QHSDĐ tại điều 17, 19, 20, 21 và 26 Nghị định 181/2004/
NĐ - CP, theo đó mỗi cấp lập quy hoạch sẽ có những hồ sơ khác nhau Nhìn chungcác quy định của pháp luật về điều chỉnh QHSDĐ là khá đầy đủ và hợp lý Tuynhiên, hồ sơ xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ chưa đề cập đến báo cáo đánh giá môitrường chiến lược như các quy định của luật bảo vệ môi trường Qua đó cho thấy sựthống nhất của Luật đất đai 2003 và Luật bảo vệ môi trường 2005 là chưa cao
2.7 Công bố quy hoạch sử dụng đất
Từ trước tới nay, người dân thường khó tiếp cận với các phương án QHSDĐ,phần lớn việc làm quy hoạch cho đến trình tự pháp lý để được phê duyệt và có hiệulực đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, người dân không có đượcđầy đủ thông tin hoặc nếu có thì cũng chỉ là những thông tin không chính xác vềquy hoạch Chính vì vậy, pháp luật đã quy định các cơ quan nhà nước phải côngkhai toàn bộ các tài liệu về QHSDĐ nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất biết
để thực hiện đúng quy hoạch Đồng thời cũng tạo điều kiện cho người dân thực
6 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nghị định 181/2004/NĐ - CP của chính phủ thi hành luật đất đai.
Trang 18hiện quyền giám sát của mình đối với các phương án QHSDĐ, tránh tình trạng một
số người lợi dụng thông tin quy hoạch để trục lợi cho bản thân Việc công bốQHSDĐ được thực hiện theo điều 28 luật đất đai 2003 và điều 27 Nghị định181/2004/NĐ - CP của Chính phủ Theo đó:
- Bộ tài nguyên môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu vềQHSDĐ của cả nước đã được quốc hội quyết định Hình thức công bố bao gồm:Công bố tại trụ sở cơ quan trong suốt kỳ QHSDĐ, đăng công báo, công bố trênmạng thông tin quản lý nhà nước của chính phủ và trích đăng trên báo hằng ngàycủa trung ương
- Sở TNMT và phòng TNMT có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệuQHSDĐ của địa phương đã được xét duyệt Hình thức công bố bao gồm: công bốtại trụ sở cơ quan trong suốt thời kỳ QHSDĐ, công bố trên mạng thông tin quản lýnhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trích đăng trên báo của địaphương
- UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu
về QHSDĐ chi tiết và các dự án đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND xã,phường, thị trấn trong suốt kỳ QHSDĐ
Những quy định trên giúp người dân có thể tiếp cận đầy đủ thông tin vềQHSDĐ để biết và thực hiện, các cơ quan nhà nước thể hiện sự công khai, minhbạch trong quá trình xây dựng, lập, phê duyệt và đưa quy hoạch vào đời sống đồngthời thể hiện sự dân chủ, công khai trong công tác quy hoạch Hình thức công bốthông tin QHSDĐ cũng được quy định đa dạng, người dân có thể tiếp cận thông tinQHSDĐ trên mạng Internet, báo chí… Song những quy định này trên thực tế vẫncòn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại nguồn thông tin hữu ích cho ngườidân Người dân không biết đến các phương án quy hoạch, gây khó khăn cho việcthu hồi đất và bàn giao mặt bằng để nhà nước thực hiện các dự án đầu tư Trongthời gian tới, các cơ quan chức năng nên làm tốt việc công bố thông tin QHSDĐgóp phần nâng cao hiệu quả của các phương án QHSDĐ trong cuộc sống, đảm bảotính ổn định và chiến lược lâu dài
2.8 Thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Thực hiện QHSDĐ là việc triển khai áp dụng các nội dung trong QHSDĐ vàthực tiễn sử dụng đất Đây chính là việc các cơ quan nhà nước thực hiện các hành
vi quản lý đất đai theo quy định của pháp luật và theo ý đồ sử dụng đất đã được xétduyệt
Việc thực hiện QHSDĐ được quy định tại điều 29 luật đất đai 2003 theo đó:Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của cả nước, kiểm tra việc thựchiện QHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương UBND cấp tỉnh và cấphuyện chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của địa phương, kiểm tra việc thực hiện
Trang 19QHSDĐ của địa phương cấp dưới trực tiếp UBND xã chỉ đạo thực hiện QHSDĐcủa địa phương, phát hiện, ngăn chặn các hành vi sử dụng đất trái với QHSDĐ đãđược công bố [18,34]7.
2.9 Quản lý, giám sát quy hoạch sử dụng đất
Quản lý là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng các biện pháp hànhchính để thực hiện việc triển khai, giám sát quy hoạch Điều 28 Nghị định181/2004/NĐ – CP quy định quản lý QHSDĐ như sau:
- UBND tỉnh và huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phépchuyển đổi mục đích sử dụng theo đúng QHSDĐ Chủ tịch UBND cấp tỉnh vàhuyện có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm tại địaphương
- UBND xã theo dõi thực hiện QHSDĐ tại địa phương, khi có vi phạm xử lýtheo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý Chủ tịchUBND xã chịu trách nhiệm về việc không ngăn chặn, không xử lý kịp thời để xảy
ra các hành vi vi phạm QHSDĐ đã được xét duyệt tại địa phương
- Sở TNMT, Phòng TNMT và cán bộ địa chính cấp xã tổ chức thanh tra việcthực hiện QHSDĐ Trường hợp có vi phạm về thực hiện QHSDĐ vào mục đíchANQP thì sở TNMT có văn bản gửi Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An để xử lý
Từ những phân tích về các quy định pháp luật QHSDĐ, tác giả đưa ra sơ đồ thểhiện trình tự, thẩm quyền xây dựng QHSDĐ của các cấp trong cả nước như sau:
Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4 Bước 5 Bước 6
qua
Xét duyệt
Công bố Thực
hiện
Điều chỉnh Lập hồ
sơ xét duyệt
Thẩm quyền xét duyệt QHSDĐ
cả nước
Chính phủ
Quốc hội Quốc hội Bộ
TNTMT
Chính phủ
Bộ TNMT
Chính phủ
Sở TNMT
UBND tỉnh
UBND tỉnh
Chính phủ QHSDĐ
UBND tỉnh
Phòng TNMT
UBND huyện
UBND huyện
UBND tỉnh
UBND tỉnh
UBND xã
UBND xã
UBND huyện
UBND tỉnh
7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Thứ tự
Tên
QHSDĐ