lý với dịch vụ hoàn hảo hơn.Trong quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán tại Việt Nam còn chưa cao: chất lượng sản phẩm, dịch vụchưa có tính cạnh
Trang 2NGUYỄN HÀ PHƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TÔ KIM NGỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 3là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoanrằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Hà Phương
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ , BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU ’ 1
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1 CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3
1.1.1 Bản chất và chức năng của công ty chứng khoán 3
1.1.2 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán 6
1.1.3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán 8
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 13 1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 13
1.2.2 Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán 16
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
18 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của CTCK 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 - NAY 28
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM G IAI ĐOẠN 2008 - NAY 28
2.1.1 Diễn biến chung 28
2.1.2 Tổng quan hoạt động của các CTCK 34
2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY 42
2.2.1 Trình độ công nghệ 42
2.2.2 Nguồn nhân lực 45
2.2.3 Chất lượng sản phẩm dịch vụ 46
2.2.4 Các chiến lược Marketing 48
2.2.5 Năng lực tài chính 51
2.2.6 Thực trạng cạnh tranh thị phần của các nghiệp vụ 58
2.3 ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP HẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÁC CTCK .67
2.3.1 Thế mạnh 67
2.2.2 Điểm yếu 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CTCK 77
GIAN TỚI 77
Trang 5TY CHỨNG KHOÁN ’ 81
3.2.1 Nhóm các giải pháp chung 70
3.2.2 Nhóm các giải pháp riêng L 96
3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN VÀ HỖ TRỢ 115
3.3.1 Đối với Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan 115
3.3.2 Đối với cơ quan quản lý thị trường 118
3.3.3 Đối với Hiệp hội kinh doanh chứng khoán 120
Kết luận 123
Danh mục tài liệu tam khảo 124
Trang 6UBCKNN Uy ban chứng khoán Nhà Nước
TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
TTGDCK Trung tâm Giao dịch chứng khoán
Nam
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7Đô thị 2.3 Lợi nhuận sau thuế một sô CTCK năm 2008 35
Đồ thị 2.6
Tông doanh thu và lợi nhuận của các CTCK niêm
Đồ thị 2.18
Biến động lợi nhuận sau thuế, doanh thu môi giới
và doanh thu tự doanh của các công ty chứngkhoán niêm yết trong 4 năm
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Trang 8Bảng 2.5 Thị phần dịch vụ chứng khoán năm 2008-2009 37
Bảng 2.7
Lợi nhuận trước thuê 2010-2011 của các CTCK
Trang 9MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán vốn được mệnh danh là thể chế bậc cao của nềnkinh tế với sự tham gia của rất nhiều tổ chức chuyên môn, và ngày càng đóngvai trò to lớn vào sự tăng trưởng nền kinh tế đất nước Cùng với sự phát triểnnhư vũ bão của thị trường chứng khoán thế giới, thị trường chứng khoán ViệtNam cũng đã được hình thành Cho đến nay, thị trường chứng khoán ViệtNam đã trải qua hơn chục năm đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình.Mười hai năm qua là hơn tám năm làm quen với hoạt động của thị trường,hơn tám năm vượt qua bao khó khăn thử thách để từng bước để từng bướcđứng vững, đi lên và bước đầu gặt hái được những thành tựu đáng kể Thịtrường chứng khoán Việt Nam tu còn non trẻ nhưng đã trải qua nhiều biếnđộng, sau giai đoạn thị trường tăng nóng vào năm 2007, 2009 ngay sau đó sụtgiảm vào năm 2008, và những năm gần đây bởi những nguyên nhân nội tại vàtác động của tình hình kinh tế thế giới Cùng với sự sôi động của thị trường,hàng loạt các CTCK đã ra đời mang lại cho thị trường những bước phát triểnmới, những dịch vụ, tiện ích mới, nhưng đồng thời cũng tạo sự cạnh tranh gaygắt giữa các công ty chứng khoán với nhau, khiến thị phần của các công tynày bị thu hẹp hơn Thị trường sôi động các công ty chứng khoán cạnh tranh,nhưng sự cạnh tranh gay gắt hơn, quyết liệt hơn lại diễn ra khi thị trường suygiảm Doanh thu từ mọi hoạt động kinh doanh đều giảm, kéo theo lợi nhuậngiảm, các công ty chứng khoán muồn tồn tại và phát triển không còn các nàokhác là phải cạnh tranh, tăng thị phần hoạt động, tăng doanh thu Sự cạnhtranh không câu chuyện của các công ty chứng khoán trong nước mà khi đó
sự cạnh tranh còn xảy ra giữa các công ty chứng khoán nước ngoài, các công
ty chứng khoán liên doanh Quy luật cạnh tranh sinh tồn sẽ quyết định công tynào tồn tại và cũng sẽ điều chỉnh để số lượng công ty chứng khoán ở mức hợp
Trang 10lý với dịch vụ hoàn hảo hơn.
Trong quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy năng lực cạnh tranh của công
ty chứng khoán tại Việt Nam còn chưa cao: chất lượng sản phẩm, dịch vụchưa có tính cạnh tranh, quy mô hoạt động còn nhỏ, thị phần còn thấp, quytrình nghiệp vụ chưa mang tính chuyên nghiệp, nhiều hoạt động triển khai cònchưa cân xứng với tiềm lực của công ty Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài “ Giảipháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các Công ty chứng khoán tại ViệtNam” làm khoá luận tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận được hoàn thiện với ba mục tiêu sau
Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về Công ty chứng khoán, đisâu vào tìm hiểu năng lực cạnh tranh của Công ty chứng khoán
Thứ hai, tổng quan về thị trưòng chứng khoán Việt Nam và hoạt độngcủa các công ty chứng khoán Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh củacông ty chứng khoán tại Việt Nam, đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCKthông qua điểm mạnh, điểm yếu
Thứ ba, đế xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cácCTCK và các kiến nghị đối với cơ quan quản lý liên quan trong lĩnh vựcchứng khoán
1.3 Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh của các CTCK
Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của các CTCK từnăm 2008 đến nay
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được xây dựng dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy
1.5 Kết cấu bài luận văn
Trang 11Chương 1: Những nội dung cơ bản về năng lực cạnh tranh Công ty
Trang 12CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NĂNG Lực CẠNH TRANH
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Chức năng và nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
1.1.1 Bản chất và chức năng của công ty chứng khoán
a Bản chất của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian, có vị trí, vaitrò
rất quan trọng trong thị trường chứng khoán Lịch sử hình thành và phát triểnthị trường chứng khoán đã chứng minh: “Một thị trường chứng khoán khôngthể thiếu loại chủ thể này, nó cần cho cả người phát hành, người đầu tư chứngkhoán Nó là một trong những nhân tố quyết định đến phát triển, sự sôi độngcủa thị trường chứng khoán”
Trước hết công ty chứng khoán là một tên gọi chỉ một loại doanh nghiệphoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán Tuy nhiên, không phải bất
kỳ chủ thể nào thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán đều là công tychứng khoán Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên thị trườngchứng khoán có nhiều loại chủ thể kinh doanh khác nhau như: công ty chứngkhoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoánvà
một số chủ thể khác có cung cấp các dịch vụ có liên quan Trong đó công tychứng khoán là một loại chủ thể kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất
Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập,hoạt động theo Luật chứng khoán và các các quy định của pháp luật có liênquan để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứngkhoán
dưới đây theo giấy phép do UBCKNN cấp: Môi giới chứng khoán, tự doanhchứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán
Từ định nghĩa nêu trên, có thể khái quát các đặc điểm pháp lý cơ bản của công
Trang 13hoạt động trên cơ sở Luật chứng khoán và các quy định pháp luật có liên quan.Hai là, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức pháp lý là công
ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam đặc trưng này củacông ty chứng khoán được Luật chứng khoán chỉ rõ trong Điều 66, khoản 1
Ba là, công ty chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính, thườngxuyên
và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh dịch vụ chứng khoán trên thị trườngchứng khoán
Các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm hoặc các tổng công ty muốn thamgia kinh doanh chứng khoán phải thàng lập CTCK độc lập Giấy phép hoạtđộng của CTCK do UBCKNN cấp cho phép thực hiện một hoặc một số loạihình kinh doanh chứng khoán Các loại hình nghiệp vụ kinh doanh của cácCTCK là: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hànhchứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư
b Chức năng của công ty chứng khoán
Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môigiới trung gian , đó là các công ty chứng khoán - một định chế tài chính trênthị
trường chứng khoán , có nghiệp vụ chuyên môn , đội ngũ nhân viên lành nghề
và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trung gian môi giới mua - bánchứng khoán , tư vấn đầu tư và một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổchức phát hành
Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển nềnkinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứngkhoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư vàcó
tính thanh khoản cao , qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổvào nơi sử dụng có hiệu quả Một số chức năng cơ bản của công ty chứng
Trang 14những người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh).
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giáhoặc
khớp lệnh)
- Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoánra
tiền mặt và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tựdoanh
hoặc vai trò tạo lập thị trường)
1.1.2 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Do hoạt động kinh doanh của CTCK ảnh hưởng nhiều tới lợi ích côngchúng, biến động của thị trường tài chính và rất dễ bị lợi dụng nhằm kiếm lợiriêng nên pháp luật các nước đều quy định rất chặt chẽ đối với hoạt động này
Có rất nhiều quy định, nguyên tắc đối với hoạt động của CTCK nhưng nhìnchung các CTCK hoạt động theo 2 nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắcmang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính:
a Nguyên tắc hoạt động
• CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích
khách
hàng Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm
• Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh công
Trang 15• Nghiêm cấm thực hiện giao dịch nội gián, các CTCK không được phép
sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gâythiệt
hại đến lợi ích của khách hàng
• Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách
hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoánhoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng
Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứngkhoán để bảo vệ lợi ích khách hàng khi CTCK mất khả năng thanh toán
Ngoài ra, luật pháp các nước cũng có quy định chặt chẽ nhằm chống thaotúng thị trường như hạn chế sự hợp tác giữa các CTCK, cấm mua bán khớplệnh
giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích cực bên ngoài "; cấm đưa ra lời đồnđại, gian lận, xúi giục hoặc dùng các hành vi lừa đảo khác trong giao dịchchứng khoán
tài chính và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động:
• Các nguyên tắc tài chính thường đặt ra cho CTCK những yêu cầu về
vốn:
Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáoUBCKNN Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoánvới khách hàng
Trang 16chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
A Các nghiệp vụ cơ bản
a Nghiệp vụ môi giới
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bánchứng khoán cho khách hàng để được hưởng hoa hồng Theo đó, CTCK đạidiện cho khách hàng tiền hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tạiSGDCK
hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kếtquả giao dịch của mình
Môi giới là một hoạt động dịch vụ quan trọng của các CTCK, nó đem lạiphần lớn thu nhập ( bình quân từ 30-50% tổng thu nhập) và tạo ra một cơ sởkhách hàng quan trọng cho các CTCK khi thực hiện phân phối các loại chứngkhoán mới phát hành trong đợt bảo lãnh phát hành Các CTCK khi thực hiệnhoạt động môi giới phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch, công khai và tận tụyvới khách hàng, vì quyền lợi của khách hàng Đồng thời không đưa ra ý kiếntư
vấn mang tính chất khẳng định về tiềm năng lợi nhuận hoặc phao tin đồnnhằm
thu hút khách hàng vào mục đích riêng
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sảnphẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán vớinhà
đầu tư mua chứng khoán
Chức năng của hoạt động môi giới:
1 Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp cho kháchhàng các báo cáo nghiên cứu và các khiến nghị đầu tư
Trang 17bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng đưa ra những lời động viên kịp thời.
3 Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (sợ hãi và tham lam) để giúpkhách hàng có những quyết định tỉnh táo
4 Đề xuất thời điểm bán hàng
Xuất phát từ các chức năng trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có phẩmchất,
tư cách đạo đức, kỹ năng trong công việc và với thái độ công tâm, cung cấpcho
khách hàng những dịch vụ tốt nhất Nhà môi giới không được xúi giục kháchhàng mua bán chứng khoán để kiếm hoa hồng, mà nên đưa ra những lờikhuyên
hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho khách hàng
b Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Theo luật chứng khoán Việt Nam (2006), Tự doanh là việc CTCK muabán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của CTCK được thựchiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Tại một sốthị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của CTCK đượcthực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường Lúc này CTCK đóng vai tròlà
nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số chứng khoán nhất định của một số loạichứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởngchênh lệch giá
Các CTCK thực hiện nghiệp vụ tự doanh với mục đích sau:
■ Đảm bảo khả năng thanh toán: do chứng khoán là công cụ tài chính cụkhả năng thanh toán cao và tạo lợi nhuận lớn
■ Kinh doanh đầu tư: việc đầu tư vào chứng khoán đem lại cho CTCKnhững khoản lợi nhuận như cổ tức, trái tức
■ Kinh doanh hùn vốn: tự doanh giúp CTCK có cơ hội trở thành cổ đông
Trang 18Có 2 hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh đó là giao dịch trựctiếp
và giao dịch gián tiếp:
Giao dịch gián tiếp: CTCK đặt các lệnh mua và bán chứng khoán trênSGD, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không được xácđịnh trước
Giao dịch trực tiếp: là giao dịch tay đôi giữa hai CTCK hoặc giữa CTCKvới một khách hàng thông qua thương lượng Đối tượng của giao dịch trựctiếp
là các chứng khoán đăng ký giao dịch trên thị trường OTC
c Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
BLPH là việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp cho tổ chức phát hànhthực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức phân phối vàgiúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Tổ chứcbảo lãnh phát hành là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoáncủa một tổ chức phát hành nhằm thực hiện phân phối chứng khoán để hưởnghoa hồng
Tuỳ theo quy định từng nước, việc BLPH được thực hiện theo các hìnhthức sau đây:
■ Bảo lãnh với cam kết chắc chắn:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết mua lạitoàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoánhay không Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo “cam kết chắc chắn”, mộtnhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổchức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng và sau đóbán lại chứng khoán đó ra công chúng Chênh lệch giữa giá mua chứng khoáncủa các tổ chức phát hành và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồngchiết khấu của các tổ chức BLPH
Trang 19Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại
lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ sốchứng
khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưngnếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành
■ Bảo lãnh tất cả hoặc không
Trong phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bánmột số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối hết sẽ huỷ toàn bộđợt phát hành
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành đang ngày càng có vị trí quan trọng trongcác nghiệp vụ của CTCK cùng với sự đi lên về uy tín và tiềm lực của công ty
d Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích
để đưa ra lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số côngviệc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính chokhách
hàng Thông qua nghiệp vụ này công ty có thể nâng cao uy tín của mình, hấpdẫn khách hàng đến với mình đồng thời mang lại thu nhập cho công ty từnguồn
phí tư vấn
e Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứngkhoán
thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợinhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư là một dạngnghiệp vụ tư vấn mang tính tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ tháctiền cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược haynhững
Trang 20CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay nhữngnguyên
nhận được khoản phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyểnnhượng chứng khoán
b Quản lý thu nhập cho khách hàng (quản lý cổ tức):
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõitình hình lãi lỗ, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận vàchi
trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
c Nghiệp vụ tín dụng:
CTCK không chỉ làm trung gian nhận lệnh của khách hàng mà cũng làmdịch vụ tín dụng như cho vay chứng khoán (bán khống), cho vay tiền muachứng khoán (ký quỹ), ứng trước tiền bán chứng khoán, cho vay cầm cốchứng
khoán, repo chứng khoán.Tuy nhiên ở TTCK Việt Nam, cho vay chứngkhoán để bán khống vẫn bị nghiêm cấm vì thị trường chưa thật sự phát triểnthì
Trang 21quỹ đầu tư.
1.2 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
a Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, là điềukiện
sống còn của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thànhphần kinh tế
Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh:
Theo Các Mác : “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữanhà
tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hànghoá để thu hút lợi nhuận siêu ngạch”
Theo P.Samuelson: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa những doanhnghiệp
cạnh tranh để giành khách hàng, thị trường”
Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh Công nghiệp của tổ chức Hợp tác
&
Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khả năng của các doanhnghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhậpcao
hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Từ các định nghĩa trên, có thể tiếp cận về cạnh tranh ở những góc độ:
- Thứ nhất, cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng
- Thứ hai, mục đích cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận
- Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể
- Thứ tư, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng công cụ khácnhau: chất lượng, giá bán sản phẩm dịch vụ, bằng nghệ thuật tiêu thụ sản
Trang 22nâng cao vị thế của mình trên thị trường, đạt được một mục tiêu kinh doanh cụthể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”.
Cạnh tranh được xem như là một hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan
hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó màcác chủ thể cùng quan tâm Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữacác
chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thếtương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hoá để thu được nhiều lợiích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người những người sản xuấtvới người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hoá với giá cao, ngườitiêu dùng lại muốn mua được hàng hoá với giá thấp
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnhtranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanhnghiệp,
một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trườngtự
do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứngđược đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thunhập thực tế
b Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranhcủa
những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ
Có quan điểm cho rằng: năng lực cạnh tranh là khả năng của một doanhnghiệp đáp ứng và chống lại các đối thủ trong cung cấp sản phẩm một cách lâudài và có lợi nhuận Một doanh nghiệp có khả năng thành công khi có đượcnhững lợi thế nào đó hơn các nhà cung cấp khác như: sản phẩm hoặc dịch vụmang tính chất khác biệt, một điểm nào đó cho thấy vị thế cạnh tranh rõ rệt
Trang 23tâm chú ý đến khả năng quản trị và điều hành của doanh nghiệp, từ đó đưa ranhững sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường.
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, năng lực cạnh tranh không chỉ làkhả
năng quản trị điều hành, mà đó là một chỉ tiêu tổng hợp sức mạnh của doanhnghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp cungcấp các sản phẩm dịch vụ tốt hơn các doanh nghệp khác trên thị trường, đó làkhả năng lôi cuốn, hấp dẫn khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ do mìnhcung cấp, thiết lập mối quan hệ bền vững với khách hàng để đạt lợi nhuận nhấtđịnh, là khả năng chống lại thành công sức ép của lực lượng cạnh tranh Cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau không chỉ đơn thuần là đối đầu nhau, chiếnthắng đối thủ của mình mà bao hàm cả vấn đề hợp tác giữa các doanh nghiệpvới nhau, cạnh tranh trong xu thế hợp tác, bởi lẽ để tồn tại phát triển, cácdoanh
nghiệp không chỉ dựa vào sức mình mà đôi khi phải hợp tác với nhau để giảiquyết vấn đề chung của ngành, cùng hợp tác trong kinh doanh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là sự thể hiện thực lực vàlợi
thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhấtcác
đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác,sử
dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm,dịch
vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngàycàng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanhnghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh
Trang 24Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinhdoanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợitức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác cáccơ
hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của Công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳnvới các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường, vì CTCK là mộtdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính đặc biệt và lợi ích của CTCK gắn liềnvới lợi ích của công chúng đầu tư
Cạnh tranh giữa các CTCK là sự cạnh tranh về giá trị gia tăng mà các tổchức này đem lại cho khách hàng thông qua các dịch vụ của mình Cạnh tranhtrong lĩnh vực kinh doanh của CTCK đặc trưng bởi các yếu tố sau:
• Năng lực tài chính của CTCK
Tình hình tài chính của công ty tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quảhoạt động kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của công ty Mỗi hoạtđộng
đầu tư mua sắm, đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của công ty đó Khảnăng tài chính tác động trực tiếp đến các chiến lược hiện tại và thực hiện cáckế
hoạch Đồng thời, tài chính của công ty cũng là một trong những điều kiệnquan
trọng để mở rộng hoạt động trong các nghiệp vụ kinh doanh và đảm bảo kinhdoanh một cách an toàn (có thể bù đắp thua lỗ) Vì vậy, công ty phải có khảnăng tài chính tốt mới có khả năng cạnh tranh cao
• Công nghệ và các dịch vụ trợ giúp cho CTCK
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã làm thay đổi diện mạocủa cả nền kinh tế, trong đó có cả ngành dịch vụ về chứng khoán Cùng với sự
Trang 25dạng, sự cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt dẫn đến việc ứng dụngcông
nghệ thông tin vào hoạt động trở thành cơ hội cho các CTCK tạo ra các sảnphẩm dịch vụ vượt trội trong chất lượng dịch vụ: Nâng cấp các dịch vụ hiệntại,
cung ứng các dịch vụ mới, cung cấp cho khách hàng theo những cánh thứcmới
Việc cạnh tranh về ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông trongngành dịch vụ chứng khoán trở thành một giải pháp cơ bản để cho các công tytrong ngành có thể tồn tại và phát triển Khi đó, CTCK nào có hạ tầng côngnghệ hiện đại, an toàn, đem lại nhiều dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư thì sẽthành
công
• Chất lượng và giá cả sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm của các CTCK là cung cấp các dịch vụ chứng khoán như: môigiới, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán Khi khách hàng sửdụng
dịch vụ của công ty, công ty được hưởng một khoản gọi là phí dịch vụ, đâycũng
chính là giá cả sản phẩm của CTCK
Cạnh tranh về giá cả là một công cụ cạnh tranh đã có từ rất lâu trong lịch
sử cạnh tranh Cạnh tranh về giá là phải chọn một mức giá thấp hơn trong sựcảm nhận của khách hàng đối với giá trị tăng cao mà họ nhận được
Tuy nhiên, cạnh tranh về phí dịch vụ không phải là một công cụ cạnhtranh
tối ưu, bởi vì đối với khách hàng cái họ cần chính là giá trị sản phẩm mà họnhận được khi họ quyết dịnh mua Vì vậy, bên cạnh giá cả dịch vụ, các CTCKhiện nay còn không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình, nâng cao
Trang 26được thương hiệu, hình ảnh của công ty, sự tin tưởng của khách hàng vào chấtlượng sản phẩm dịch vụ công ty cung cấp.
• Nguồn nhân lực
Nếu nói đơn thuần về công nghệ, chỉ cần đầu tư một khoản tiền lớn làCTCK có thể sở hữu phần mềm công nghệ hiện đại, mang tính mở, có khảnăng
tích hợp với hệ thống của nhiều ngân hàng cũng như của Sở GDCK TP.HCMvà
TTGDCK Hà Nội Tuy nhiên, đằng sau sự kết nối là sự chuyên nghiệp hoá vềquy trình nghiệp vụ một cách chi tiết ở đây, yếu tố con người đóng vai tròquyết
định Công nghệ chỉ là để hỗ trợ con người, nhất là đối với các hoạt động kinhdoanh chứng khoán - là một ngành kinh doanh gắng với lợi ích của rất nhiềunhà đầu tư, do đó luôn đòi hỏi các chuyên viên có trình độ chuyên môncao.Thường thì những chuyên viên có khả năng trình độ càng cao, chất lượngcủa các dịch vụ càng lớn, hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnhtranh
của CTCK càng cao
1.2.3 Các tiêu chí đánh gía năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Để xem xét năng lực cạnh tranh của Công ty chứng khoán, cần xem xéttrên hai khía cạnh: các tiêu chí định tính và các tiêu chí định lượng
Trang 27trên mọi mặt thông qua các sản phẩm dịch vụ mà CTCK cung ứng.
về chất lượng sản phẩm dich vụ: để tạo ra sự vượt trội trong chất lượngsản phẩm dịch vụ cung ứng, công nghệ thông tin được khai thác và áp dụngtriệt
để nhằm nâng cấp các dịch vụ và tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới
về không gian và thời gian: Các CTCK đã và đang sử dụng công nghệviễn thông và xử lý thông tin để vượt qua một số hạn chế về địa lý, và tính kịpthời trong công bố thông tin
Về giá cả: Ứng dụng công nghệ thông tin và theo đó là công nghệ quamạng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động các CTCK, gây ra sự thay đổi vềchi phí dịch vụ, năng lực tiếp thị, năng lực phân phối và phục vụ khách hàngcác
sản phẩm tài chính mới Hiện nay, các CTCK vẫn lấy phí dịch vụ thấp làmmột
trong những công cụ để cạnh tranh Chi phí thấp của phương tiện truyền thông
và giao dịch qua internet đã làm cho chi phí được tiết kiệm mà chất lượng dịch
vụ vẫn được đảm bảo ở mức độ tối ưu
• Chất lượng nguồn nhân lực
Với bất kỳ một công ty trong bất kỳ một lĩnh vực nào, nhân lực luôn làvấn
đề then chốt hàng đầu trong sự phát triển của công ty Đặc biệt trong lĩnh vựcchứng khoán, nơi công việc đòi hỏi hàm lượng chất xám cao thì chất lượngnguồn nhân lực lại càng quan trọng Một đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyênmôn giỏi, sự chuyên nghiệp cao và dày dạn kinh nghiệm là một tài sản vô hìnhnói lên sức mạnh tiềm năng của một CTCK
• Phương thức cung cấp dịch vụ
Phương thức cung cấp dịch vụ là yếu tố rất quan trọng phản ánh tínhchuyên nghiệp và văn hoá của CTCK Một CTCK được coi là có dịch vụ tốt
Trang 28nhận được các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của mình với chất lượng cao, giá cảhợp
lý và thái độ phục vụ chuyên nghiệp
• Các chiến lược Marketing
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu, và cácchiến lược Marketing là những biện pháp cạnh tranh mang lại hiệu quả đángkể
cho doanh nghiệp CTCK cũng không là ngoại lệ, các chiến dịch quảng cáo,PR
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các website của mình đểquảng bá hình ảnh của công ty, từ đó làm cho công chúng hiểu rõ thêm vềcông
ty và các dịch vụ mà công ty cung cấp, tạo chỗ đứng cho thương hiệu củacông
ty trong lòng công chúng đầu tư
■ Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của DN:
Hệ số khả năng thanh toán = Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn
Trang 29Các CTCK nâng cao chất lượng, tính tiện ích của sản phẩm dịch vụ với
mục đích thu hút được khách hàng sử dụng dịch vụ của mình Thị phần chobiết
khả năng chiếm giữ thị trường của một CTCK cụ thể, đồng thời cho biết mức
độ tập trung về phía mỗi CTCK trong cùng lĩnh vực hoạt động thông qua tỷ lệphần trăm so với tổng thể Tiêu chí thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần chothấy vị thế, sự ổn định và phát triển của CTCK trên thị trường.Vì vậy, đây làmột chỉ tiêu được các nhà quản trị quan tâm để đạt lợi thế hơn so với các đốithủ
khác
• Hiệu quả hoạt động của công ty
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của bất kỳ một doanh nghiệp nào thìvấn
đề cần quan tâm đầu tiên là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó ra sao?Hiệu quả hoạt động của CTCK là tiêu chí quan trọng phản ánh khả năng cạnhtranh của công ty đó trên thị trường chứng khoán Để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của CTCK, cần xem xét các chỉ tiêu sau:
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE): phản ánh mức thu nhập ròng
trên
vốn cổ phần của cổ đông Hệ số này được các nhà đầu tư cũng như các cổđông
đặc biệt quan tâm
ROE = lợi nhuận ròng/VCSH
Có thể nói, bên cạnh các hệ số tài chính khác thì ROE là thước đo chínhxác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêuđồng
lời Đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng một công ty có thể sinh
Trang 30nhiêu đồng lợi nhuận Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuậncao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu đượclại thấp Hệ số ROA thường có sự chênh lệch giữa các ngành Những ngànhđòi
hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, côngnghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại , thường có ROAnhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngànhdịch vụ, quảng cáo, phần mềm
Các nhóm chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh của
• Môi trường kinh tế
Là một thực thể của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của CTCK luôndiễn ra trong bối cảnh kinh tế cụ thể, vì vậy CTCK cũng sẽ chịu sự chi phốicủa
môi trường kinh tế Bất cứ sự biến động nào của các yếu tố, tỷ lệ lạm phát, tỷgiá hối đoái hay tố độ phát triển kinh tế, đều ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của các CTCK Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao Nhu cầu đầu tưđược mở rộng, đồng tiền ổn định, lãi suất và tỷ giá hối đoái có tình kích thíchđầu tư, mở rộng thị trường chứng khoán sẽ trở thành cơ hội tốt cho CTCKphát
triển, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Ngược lại, nếu các yếu tố củanền kinh tế diễn biến theo chiều hướng tiêu cực thì sẽ tác động đến CTCKtheo chiều hướng ngược lại
• Môi trường chính trị, pháp luật và cơ chế chính sách
Trang 31ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế tạo ra cơ hội kinh doanh cho các CTCK.
sự bất ổn về chính trị có thể tạo ra những khó khăn đối với CTCK
Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước có vai trò định hướng và chi phốitoàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội Luật pháp không chỉ tạo ra hành lang pháplý
thông thoáng tạo đà cho các CTCK mở rộng hoạt động kinh doanh mà cònđiều
chỉnh hoạt động của các công ty này bằng những quyết định, nghị định,
• Môi trường công nghệ
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệthông tin đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các CTCK nâng cao hiệu quảhoạt động và khả năng cạnh tranh của mình Mỗi một sự tiến bộ của khoa họcđếu đưa đến việc loại bỏ các công nghệ ra đời trước đó với ít nhất là một côngnghệ vượt trội hơn công nghệ ngày hôm qua, thì việc áp dụng công nghệ mớisẽ
tạo cho công ty đó một lợi thế hơn công ty khác trong kinh doanh như có thểlà
giảm chi phí hơn, tăng năng suất lao động hơn, hay tiết kiệm được thời giantrong các quy trình làm việc
Trang 32doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực Khách hàng không chỉ có khả năng mặc cả,trả giá mà còn yêu cầu, đòi hỏi chất lượng các dịch vụ ngày càng cao Để đápứng yêu cầu của khách hàng CTCK phải không ngừng nâng cao chất lượng,đổi
mới sản phẩm, dịch vụ của công ty mình
Khách hàng của CTCK rất đa dạng, từ khách hàng cá nhân đến kháchhàng
tổ chức, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Khách hàng vừa là mục tiêu,vừa là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của công ty Vì vậy, để cóthể cạnh tranh thì các CTCK cần chủ động quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu
và mong muốn của khách hàng một cách kịp thời Các CTCK cần phải xâydựng chính sách khách hàng toàn diện, vừa giữ vững nền tảng khách hàngtruyền thống, vừa khia thác được khách hàng tiềm năng Đối với mỗi đối tượngkhách hàng, công ty cần có chính sách cụ thể để đáp ứng được tốt nhất nhu cầucủa khách hàng, khai thác tối đa tiềm năng của thị trường
b Các nhân tố chủ quan
• Cơ cấu tổ chức và năng lực quản trị của công ty
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình dịch vụ mà công tythực hiện cũng như quy mô và hoạt động và quan điểm của các nhà quản lý.Một công ty có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ phù hợp với đặc điểm hoạt động kinhdoanh va hoàn thiện nhất sẽ là lợi thế để công ty triển khai những thế mạnhriêng có của mình Mọi quyết định quản trị đều bắt đầu từ bộ máy quản lý củacông ty Vì vậy khi xây dựng công ty phải chú trọng đến hệ thống tổ chức, cơcấu hoạt động và khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến độngcủa môi trường kinh doanh Đồng thời, trong quá trình hoạt động công ty phảithường xuyên chú ý đánh giá hiệu quả của cơ cấu tổ chức thông qua các chỉtiêu:
tốc độ ra quyết định, tính kịp thời, độ chính xác của các quyết định và chi phí
Trang 33• Năng lực tài chính của công ty
Trong nền kinh tế thị trường, mọi yếu tố đầu vào của hoạt động kinhdoanh
đều phải đi mua hoặc phải đầu tư ứng trước Do vậy, để tiến hành hoạt độngkinh doanh CTCK cần phải có vốn, vốn phải tích tụ và đạt được quy mô nhấtđịnh để có thể thuê được đội ngũ nhân viên có trình độ cao, để đầu tư máymóc,
thiết bị thông tin hiện đại, để thực hiện các biện pháp hỗ trợ như quảng cáo,khuyến mại Do đó, vốn là tiền đề nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK
• Năng lực nghiệp vụ chuyên môn.
Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù với những sản phẩmdịch
vụ mang hàm lượng chất xám cao Vì vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,kinh
nghiệm và kỹ năng cũng như tính nhạy cảm trong công việc của nhân viên làyếu tố quyết định đến sự thành bại của công ty Vì vậy, đòi hỏi các CTCKphải
thường xuyên đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên đảm bảo thực hiệnmột cách hiệu quả nhất các công việc được giao
• Thương hiệu
Là tên tuổi của doanh nghiệp đó trên thị trường Thương hiệu là một lợithế cạnh tranh, là một tài sản mà công ty không thể nào ước tính được hết giátrị
thực của nó Thương hiệu càng nổi tiếng có nghĩa là CTCK đó có được sự ưuái
của khách hàng, sự công nhận của các đối tác và đó là một lợi thế lớn trongcạnh
tranh Nhưng ngược lại, để có thương hiệu cũng đồng nghĩa với việc công ty
Trang 34TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1, Luận văn là những nội dung cơ bản là lý luận chung về CTCK vànăng lực cạnh tranh của CTCK Lý luận chung về CTCK bao gồm bản chất,
chương 1 cũng đưa ra các nội dung cơ bản về năng lực cạnh tranh trên cơ sở
đó là năng lực cạnh tranh của CTCK Chương 1 cũng đã đưa ra được các tiêuchí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của CTCK
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2008 - NAY
2.1 Tong quan hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn
2008 - nay
2.1.1 Diễn biến chung
Chỉ với lịch sử hơn 12 năm hoạt động, từ quy mô thị trường nhỏ bé,TTCK
Việt Nam đã có những bước tăng trưởng cao, suy thoái cùng nền kinh tế và trởthành lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất về mặt kinh tế - xã hội
Được thành lập vào tháng 7/2000, TTCK Việt Nam trải qua hơn 12 nămhoạt động với các giai đoạn thăng trầm, từ những bước chập chững sang tớigiai
đoạn sôi động, nóng bỏng và hiện nay đang ở giai đoạn điều chỉnh khá sâu vớinhững biến đổi mạnh mẽ do tác động của nhiều mặt Xét về trung và dài hạn,tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và các công ty nói riêng sẽ làyếu tố hỗ trợ tâm lý tốt cho nhà đầu tư trong giai đoạn tới Với những nỗ lựccủa
Chính phủ duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tới, niềm tincủa nhà đầu tư về triển vọng phát triển của nền kinh tế được củng cố
Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bướcđóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cựccho
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Trong suốt thời kỳ từ2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP Quy mô thị trườngđã
có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên
Trang 36quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượngcác công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng Giá trị vốnhóa
thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP Mức vốn hoáthị trường chứng khoán tính đến cuối tháng 12 năm 2010 là 620 nghìn tỷđồng,
tương đương gần 38% GDP năm 2009 So với thời điểm cuối năm 2008 (225nghìn tỷ đồng) mức vốn hóa đã tăng gấp gần 3 lần Vốn hóa thị trường tínhđến
hết năm 2011 chỉ còn 453,784 nghìn tỷ đồng, giảm 137,561 nghìn tỷ đồng,tương ứng với mức giảm 23.26% so với cuối năm 2010 Trong khi đó, số mã
Tong giá trị vốn hóa thị trường
(Đơn vị: tỷ đồng)
■ Seriesl
Đồ thị 2.1: Giá trị vốn hoá thị trường Nguồn: Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước
về niêm yết và giao dịch chứng khoán
Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM vào hoạtđộng, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóakhan
Trang 37hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày25/6/2001 Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó,trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, sau khi TTGDCK
Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là
44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, giaiđoạn
2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam
Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã cóbước
tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch.Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cảhai
SGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005 Tổng giá trị vốnhóa thị trường tính tại thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 ngàn tỷđồng
tương đương với gần 38% GDP cả năm 2009 Năm 2009, Số lượng công tyniêm yết tăng hơn 30% (453 công ty) và số lượng tài khoản tăng hơn 50% sovới năm 2008 (đạt 793 nghìn tài khoản), kết thúc năm 2010, số lượng tàikhoản
giao dịch chứng khoán đã đạt còn số 1 triệu
Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêmyết mà cả về tính thanh khoản của thị trường Nếu như năm 2005, bình quâncó
667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu tronghai năm sau đó Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tụctăng
Trang 38bình quân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt2.270,57 tỷ đồng.
Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Số lượngnhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể
Từ khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trườngvào năm 2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó sốnhà đầu tư tổ chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là807.558, số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư
Tuy nhiên, hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầuđầu tư hiện tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững Hệ thống nhàđầu tư tổ chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK mà đặcbiệt
là thị trường Trái phiếu Chính Phủ
về hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán
Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanhvề
quy mô và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giaodịch trải khắp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp côngchúng
đầu tư tiếp cận dễ dàng hơn với TTCK Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạtđộng,
toàn thị trường mới chỉ có 7 CTCK và cho đến tận năm 2004 vẫn chưa có mộtcông ty quản lý quỹ nào Sau 10 năm hoạt động, tính đến thời điểm hiện tại,đã
có 105 CTCK và 46 công ty quản lý quỹ đang hoạt động tại Việt Nam Sốthành
viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) là 122 thànhviên,
Trang 39mới chỉ có 33/46 Công ty đã triển khai hoạt động quản lý tài sản, trong đó, mới
có 14 công ty huy động được quỹ
Tuy nhiên, số lượng các tổ chức kinh doanh và cung cấp dịch vụ choTTCK tăng quá nhanh, với năng lực về vốn và chuyên môn còn hạn chế, tiềm
ẩn rủi ro hệ thống và chưa tương xứng với hiệu quả hoạt động chung của thịtrường
Bảng 2.2: Số lượng chủ thể tham gia thị trường qua các năm
Nguồn: UBCKNN, HOSE, HASTC
về hệ thống cơ sở nhà đầu tư:
Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Số lượng
Trang 40nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể.
Từ khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trườngvào năm 2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó sốnhà đầu tư tổ chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là807.558, số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư
Tuy nhiên, hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầuđầu tư hiện tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững Hệ thống nhàđầu tư tổ chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK mà đặcbiệt
là thị trường TPCP
về tổ chức thị trường
Mặc dù việc tái cấu trúc lại thị trường bước đầu được thực hiện để khắcphục sự thiếu đồng bộ và tạo sự phân định của thị trường, nhưng đây vẫn làhạn
chế lớn nhất của TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Về cơ cấu tổ chức,việc tách các SGDCK và TTLKCK trở thành pháp nhân độc lập khỏiUBCKNN đã đạt được kết quả nhất định trong việc tách bạch chức năng quản
lý nhà nước trong hoạt động chứng khoán, chức năng tổ chức vận hành TTCK.Việc phân chia thị trường tập trung thành hai thị trường bộ phận với cùngmột phương thức giao dịch dựa trên các điều kiện niêm yết về lợi nhuận vàvốn
điều lệ trong giai đoạn vừa qua đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường cótổ
chức, phát huy tính năng động của các TTGDCK/SGDCK trong việc thu hútcác doanh nghiệp vào niêm yết, đăng ký giao dịch Tuy nhiên, mô hình này đã
và đang làm tăng chi phí xã hội, chưa phù hợp với xu thế quốc tế là sáp nhập,hợp nhất để tăng sức cạnh tranh và gây khó khăn cho công tác phát triển chiềusâu để khai thác tối đa hệ thống công nghệ và đa dạng hóa các loại hình dịch