nền kinh tế, từ đó góp phần xử lý các khoản nợ xấu còn tồn đọng cũng như hạn chếcác khoản nợ xấu mới phát sinh.Nhận thức được vấn đề này, sau một thời gian làm việc tại Ngân hàng TMCP Sà
Trang 2TRẦN THỊ THU HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỚ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 3LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUỐC HÙNG
Hà Nội - 2015
Ì1 íf
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chuacông bố tại bất kỳ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thôngtin xác thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .4
1.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại 5 1.2.3 Vai trò của hoạt động Tín dụng Ngân hàng 8
1.3 NỢ CÓ VẤN ĐỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10 1.3.1 Khái niệm 10
1.3.2 Nguyên nhân phát sinh Nợ có vấn đề 10
1.3.3 Phân loại Nợ có vấn đề 12
1.3.4 Ảnh hưởng của nợ có vấn đề 14
1.3.5 Dấu hiệu các khoản nợ có vấn đề 16
1.3.6 Biện pháp phòng ngừa phát sinh Nợ có vấn đề 21
1.3.7 Biện pháp xử lý nợ có vấn đề 22
1.4 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM 25
1.4.1 Kinh nghiệm xử lý nợ có vấn đề của một số quốc gia 25
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xử lý nợ có vấn đề 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI 47
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI 47
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 47
2.1.2 Mô hình tổ chức 48
2.1.3 Quy mô nhân sự 49
Trang 62.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SHB TRONG GIAI
ĐOẠN
2010 - 2014 52
2.2.1 Quy mô tổng tài sản 52
2.2.2 Hoạt động quản lý và huy động vốn 53
2.2.3 Hoạt động tín dụng 55
2.2.4 Các hoạt động khác 56
2.2.5 Ket quả hoạt động kinh doanh 57
2.3.THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI .59
2.3.1 Thực trạng nợ có vấn đề tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn -Hà Nội 59
2.3.2.Thực trạng về hoạt động quản lý và xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội 64
2.4.ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI .77
2.4.1 Những kết quả đạt được 77
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 78
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI 82
3.1 ĐỊNH HƯƠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI 82
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI 83
3.2.1 Đối với hoạt động quản lý nợ có vấn đề 83
3.2.2 Đối với hoạt động xử lý nợ có vấn đề 85
3.3 KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Với Chính Phủ và các cơ quan ban ngành chức năng liên quan 91
Trang 7Viết tắt Nguyên nghĩa
TMCP Thương mại cổ phần
SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội
NHTM Ngân hàng thương mại
TAMC Thai Asset Management Corporation
AMC Asset Management Corporation
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
Trang 9Bảng 2.1: Chi tiết nguồn vốn huy động của SHB giai đoạn 2012-2014 54
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB năm 2012 - 2014 58
Bảng 2.3: Lãi/lỗ thuần từ các hoạt động của SHB năm 2012 - 2014 58
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn/nợ xấu của SHB trong giai đoạn 2012-2014 59
Bảng 2.5: Cơ cấu nợ quá hạntheo thời hạn vay vốn 60
Bảng 2.6: Cơ cấu nợ quá hạntheo đối tuợng khách hàng 61
Bảng 2.7: Cơ cấu nợ quá hạntheo thời gian quá hạn 62
Bảng 2.8: Cơ cấu nợ quá hạntheo tài sản bảo đảm 63
Bảng 2.9: Kết quả thu nợ của SHB trong giai đoạn 2012 - 2014 67
Bảng 2.10: Kết quả thu nợ bằng các biện pháp trong giai đoạn 2012 - 2014 68
Bảng 2.11: Kết quả thu nợ bằng biện pháp khởi kiện trong giai đoạn 2012 - 2014 74 Biểu đồ 2.1: Quá trình tăng vốn điều lệ của SHB 47
Biểu đồ 2.2: Số luợng nhân sự giai đoạn 2010 - 2014 49
Biểu đồ 2.3: Mạng luới hoạt động của SHB giai đoạn 2010-2014 51
Biểu đồ 2.4: Tổng tài sản và tăng truởng qua các năm giai đoạn 2010- 2014 53
Biểu đồ 2.5: Tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 2010-2014 53
Biểu đồ 2.6: Tổng du nợ và tăng truởng qua các năm giai đoạn 2010-2014 55
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức hoạt động của SHB 48
Sơ đồ 2.2: Quy trình hoạt động xử lý nợ có vấn đề SHB 64
Trang 10MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, hoạt động của các Ngân hàng thương mại pháttriển mạnh mẽ Với chức năng là trung gian tài chính, hệ thống Ngân hàng đã giúpluân chuyển vốn trong nền kinh tế, qua đó nguồn vốn được sử dụng hiệu quả, gópphần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội
Tín dụng Ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế Khôngnhững thế, đây còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với
sự tồn tại và phát triển của từng ngân hàng Một Ngân hàng thành công là một Ngânhàng có hoạt động tín dụng hiệu quả, dư nợ tăng đều qua các năm, tỷ lệ nợ quá hạnluôn trong tầm kiểm soát
Thời gian gần đây, do nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp gặp nhiều khókhăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn thu giảm sút, làm ảnh hưởng đếntiến độ trả nợ cho Ngân hàng Bên cạnh đó, thị trường bất động sản đóng băng, khảnăng chuyển nhượng tài sản hạn chế, gây khó khăn trong việc xử lý tài sản để trả
nợ Trước tình hình đó, việc phát sinh nợ quá hạn tại các Ngân hàng là không thểtránh khỏi, làm suy giảm đáng kể hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.Năm 2012, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng được xác định ở mức 17%(tương đương 465.000 tỷ đồng) Việc một khoản tiền lớn lên tới hơn 450.000 tỷđồng không thể đưa vào lưu thông, bị chôn ở các tài sản bảo đảm đã gây lãng phíkhông nhỏ cho xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay
Từ đó, đặt ra vấn đề cấp thiết là phải nhanh chóng xử lý thu hồi các khoản nợxấu, tối đa hóa lợi nhuận cho Ngân hàng Đến thời điểm hiện nay, vấn đề xử lý nợxấu đã không chỉ gói gọn trong một hay một số Ngân hàng mà đã trở thành đề tàinóng bỏng của cả đất nước, và là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đấtnước trong thời kỳ này Đã có không ít hội thảo được tổ chức để họp bàn về việcxây dựng biện pháp hiệu quả để giải quyết nợ xấu Nhà nước, Chính phủ cũngkhông thể đứng ngoài cuộc chiến này, đã đưa ra khá nhiều chính sách nhằm vực dậy
Trang 11nền kinh tế, từ đó góp phần xử lý các khoản nợ xấu còn tồn đọng cũng như hạn chếcác khoản nợ xấu mới phát sinh.
Nhận thức được vấn đề này, sau một thời gian làm việc tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn - Hà Nội, tác giả đã chọn đề tài “Giảipháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp.
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và xử lý nợ có vấn đề tại SHB
- Một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng xử lý nợ có vấn đề tại SHB
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động xử lý nợ có vấn đề ở góc độ
cho vay
+ Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Khoảng thời gian 2012 - 2014
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng đồng bộ hệ thống các phương pháp nghiên cứu như: Phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lô gíc, phân tích tổng hợp, sosánh; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; phương pháp phỏng vấn
Ket cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, các dạng bảngbiểu, sơ đồ, phục lục luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hoạt động xử lý nợ có vấn đề của Ngân hàng
thương mại
Trang 12Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn - Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn - Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt độngchủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phươngtiện thanh toán Như vậy, NHTM là một trung gian tài chính quan trọng đứng giữangười đi vay và người cho vay, thông qua đó kiếm lợi nhuận cho mình Điều đóđược thể hiện thông qua một số hoạt động cơ bản của NHTM:
- Huy động vốn là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉtiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc cóhoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Đây được coi làhoạt động đầu vào cho việc kinh doanh của các NHTM, nhằm thu hút nguồn vốnnhàn rỗi của dân cư
- Cấp tín dụng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, NHTM không chỉ thực hiện
huy động vốn mà còn phải sử dụng vốn huy động được để cho vay và đầu tư các tàisản có tính sinh lời Các NHTM cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức dưới hìnhthức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh và các hìnhthức khác theo quy định của Nhà nước Hoạt động tín dụng của các NHTM cũngđược đa dạng hóa từ hình thức đầu tư đến các loại vốn cho vay với thời hạn và điềukiện khác nhau nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoảncủa ngân hàng với mục đích cuối cùng là an toàn và sinh lời
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Để đảm bảo chi phí lưu thông và tăng độ an
toàn, thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, NHTM thực hiệndịch vụ thu chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhànước (NHNN) quy định Ngoài ra NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân quỹ là
Trang 14dịch vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ chức và tham gia các hệthống thanh toán nội bộ và hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước và quốctế.Hoạt động này ngoài việc đem lại thu nhập cho NHTM, còn có tác dụng thu hútkhách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, tăng cường nguồn vốn huy động.
- Các hoạt động khác: Để tạo lợi thế kinh doanh cũng như tận dụng mọi khả
năng vốn có của mình, NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện cáchoạt động khác như góp vốn cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoạihối và vàng, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, tư vấn cùng các dịch vụ khác có liên quanđến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
1.2.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại
Việc phân loại các hình thức tín dụng thường được dựa vào một số tiêu thứcnhất định, từ đó, Ngân hàng thiết lập quy trình cho vay, nâng cao hiệu quả tín dụng
và quản lý rủi ro tín dụng được tốt hơn
a) Căn cứ vào mục đích
- Cho vay bất động sản: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và
giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc mua đấtcanh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài Đối với loạihình cho vay này, ngân hàng được bảo đảm bằng chính tài sản thực: đất đai, toà nhà
và các công trình khác
- Cho vay đối với các tổ chức tài chính: Bao gồm các khoản tín dụng dành cho
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác
Trang 15- Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo trồng, thu
hoạch và bảo quản sản phẩm
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Giúp doanh nghiệp trang trải các chi
phí như mua hàng, nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân viên
- Cho vay đối với các cá nhân: Giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở, trang
thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa hay trang trảicác khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác
- Cho vay khác: Gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các khoản
cho vay kinh doanh chứng khoán
b) Căn cứ vào kỳ hạn
- Cho vay ngắn hạn: Những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, được
xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
- Cho vay trung, dài hạn: Những khoản cho vay được xác định chủ yếu để đầu
tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinhdoanh, xây dựng các dự án có quy mô thu hồi vốn lớn Loại cho vay này đang ngàycàng được các ngân hàng chú trọng phát triển, một mặt chúng đáp ứng nhu cầu vayvốn của doanh nghiệp, mặt khác chúng cũng phù hợp với khả năng vốn của cácngân hàng thương mại Thời hạn cho vay trung hạn là từ 12 tháng đến 60 tháng,thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt độngcòn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân vàkhông quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Tín dụng không bảo đảm là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cốhay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân kháchhàng Ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của người vay để thanh lýnhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điềukiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năngđem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kềthời điểm vay vốn Khách hàng là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
Trang 16doanh, khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựavào uy tín của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung.
- Tín dụng có bảo đảm là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữcác tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của nguời đi vay hoặc thuộc sở hữu của nguời bảolãnh Các hình thức bảo đảm thuờng gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh Mụcđích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền xử lýcác tài sản đó để thu hồi tiền cho vay Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngânhàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắcchắn Các tài sản bảo đảm ở đây thuờng là các bất động sản, động sản thuộc quyền
sở hữu của bên đi vay, đuợc phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản đuợc bảohiểm theo quy định của pháp luật
d) Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Tín dụng bằng tiền là loại hình tín dụng đuợc cung cấp bằng tiền Đây làhình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng và đuợc thực hiện bằng các kỹ thuậtkhác nhau nhu: tín dụng ứng truớc, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp
- Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đadạng, mà điển hình nhất là cho thuê tài chính Theo phuơng thức này ngân hànghoặc công ty thuê mua (công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản chokhách hàng và theo định kỳ khách hàng hoàn trả nợ vay gồm cả gốc và lãi
Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và Ngân hàng tiến hành thực
hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Phuơng thức này
áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thuờng xuyên, sản xuấtkhông ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thuơng vụ
- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện
đầu tu phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tu phục vụ đời sống
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm Tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phuơng án vay vốn của khách hàng Trong đó có một tổ chức tíndụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Ngoài ra cho
Trang 17vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san
sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa trả được chia ra để trả nợ theonhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Khách hàng và Ngân hàng xác định và thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Việc chovay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thể lúc nàocho vay, lúc nào thu nợ Phương thức này áp dụng đối với các khách hàng có nhucầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn định, vòng quay vốn nhanh và cótín nhiệm trong quan hệ tín dụng
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng
chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng
để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặcđiểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻtín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ vàNgân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Ngân hàng
và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mứcphí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
- Cho vay theo hạn mức thấu chi là việc cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng
văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán củakhách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ViệtNam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
1.2.3. Vai trò của hoạt động Tín dụng Ngân hàng
V Đối với Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại, đây là
Trang 18hoạt động thường xuyên nhất, thu lợi nhuận nhiều nhất, để đảm bảo cho sự tồn tại
và phát triển của một Ngân hàng
Thông qua hoạt động tín dụng, mối quan hệ giữa khách hàng và Ngân hàngngày càng được củng cố Ngân hàng có thể tìm kiếm được các nguồn khách hàngmới, mở rộng thêm các loại hình dịch vụ khác cho khách hàng như bảo lãnh, thanhtoán , từ đó mở rộng quy mô, gia tăng lợi nhuận
S Đối với nền kinh tế
Tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế Nó thúc đẩy sản xuất và lưu thông phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình táisản xuất mở rộng Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hoà lưu thông tiền tệ vàthông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tín dụng Ngân hàng có chức năng huyđộng và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sử dụng
Hoạt động tín dụng gắn liền với công tác thanh toán không dùng tiền mặt, từ
đó góp phần ổn định quá trình lưu thông tiền tệ Tín dụng Ngân hàng là công cụthúc đẩy hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp Tín dụng là đòn bẩy quan trọngtrong việc tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả nhất Nhờ có tín dụng ngân hàng mà cácnhu cầu vốn vượt quá vốn tự có của doanh nghiệp đã được đáp ứng kịp thời Tíndụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn lưu động bổ sung cho các doanhnghiệp và tổ chức kinh tế Nhà nước sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụquan trọng phục vụ, thúc đẩy sản xuất phát triển, thực hiện kiểm soát kinh tế, kíchthích vật chất, tác động trực tiếp đến việc hình thành kế hoạch và nâng cao sản xuất,chất lượng, hiệu quả sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ và củng cốhạch toán kinh tế cuả các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế
Như vậy, có thể nói hoạt động tín dụng Ngân hàng là hoạt động quan trọngnhất của các Ngân hàng thương mại Tuy nhiên, hoạt động tín dụng tiềm ẩn rấtnhiều những rủi ro khó lường trước Khi rủi ro này xảy ra thì Ngân hàng không cókhả năng thu hồi vốn và lãi một cách đầy đủ theo thoả thuận giữa Ngân hàng vàkhách hàng Đó chính là rủi ro tín dụng và một trong những hình thức biểu hiện cụthể của nó là nợ có vấn đề
Trang 191.3 NỢ CÓ VẤN ĐỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Khái niệm
Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng nhưng không thu hồiđược đúng hạn một phần hoặc toàn bộ gốc và/hoặc lãi hoặc các khoản nợ chưa đếnhạn nhưng có dấu hiệu không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tíndụng Nợ có vấn đề thường được biết dưới tên gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi
về bản chất, nợ có vấn đề hay nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụngkhông hoàn hảo, trước hết nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thờihạn, sau nữa là nó có thể dẫn đến sự vi phạm đặc trưng thứ hai của tín dụng là tínhhoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với ngườinhận tín dụng Một khoản tín dụng được cấp luôn được xác định bởi hai yếu tố: thờihạn hoàn trả và lượng giá trị được hoàn trả Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thờihạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả nợ được một phần haytoàn bộ khoản vay cho người cho vay
1.3.2. Nguyên nhân phát sinh Nợ có vấn đề
a Nguyên nhân khách quan
• Môi trường kinh tế không ổn định
Những biến động bất thường của hoạt động kinh tế trên thị trường như sự thayđổi về lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái, khủng hoảng tài chính hay việc suygiảm một số ngành nghề kinh doanh làm ảnh hưởng lớn đến thị trường tiêu thụ sảnphẩm và thị trường lao động Những biến động này có thể gây ảnh hưởng xấu đếnnền kinh tế, làm giá cả tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp suygiảm, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanhnghiệp đối với Ngân hàng
• Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý nước ta chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách thường xuyênthay đổi, hệ thống pháp luật, chưa đồng bộ, chồng chéo,còn nhiều kẽ hở, tạo điềukiện cho những kẻ lừa đảo thực hiện ý đồ của mình Điều này không những ảnhhưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hoạt
Trang 20động kinh doanh của Ngân hàng Đây cũng là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nợ qúahạn của Ngân hàng.
• Môi trường tự nhiên
Những biến động bất thường của thiên nhiên như thiên tai, dịch bệnh, hỏahoạn nằm ngoài sự kiểm soát của con người, ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sảnxuất kinh doanh, làm tổn thất nguồn thu của khách hàng, từ đó tác động đến kếhoạch trả nợ cho Ngân hàng, làm phát sinh nợ quá hạn
• Môi trường chính trị
Môi trường chính trị là nhân tố quan trọng đối với hoạt động kinh tế nói chungcũng như hoạt động tín dụng Ngân hàng nói riêng Một đất nước với tình hình chínhtrị bất ổn thì khó có thể tập trung xây dựng phát triển kinh tế Vì khi đó hoạt độngđầu tư giảm, tích luỹ tăng, hoạt động sản xuất trì trệ gây nên tình trạng khan hiếmhàng hoá trên thị trường và đẩy giá cả hàng hoá trên thị trường tăng, đây là nguyênnhân gây lên sức ép lạm phát Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động kinhdoanh của Ngân hàng
b Nguyên nhân chủ quan
• Từ phía Ngân hàng
- Chất lượng cán bộ tín dụng chưa cao
+ Cán bộ tín dụng trình độ nghiệp vụ hạn chế, không đủ khả năng thẩm định
dự án vay vốn, phân tích tình hình tài chính của khách hàng, cộng với việc thiếuhiểu biết về hệ thống pháp luật, dẫn đến đánh giá khách hàng không chính xác vàđưa ra quyết định sai lầm, làm phát sinh nợ quá hạn
+ Cán bộ tín dụng thiếu phẩm chất đạo đức, lợi dụng vị trí công tác để trục lợi,tiếp tay cho khách hàng, làm trái quy định của Ngân hàng nói riêng và của pháp luậtnói chung: vay vốn sai mục đích, định giá giá trị tài sản bảo đảm cao hơn thực tế
- Công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay chưa được thực hiện đúng mực, cán
bộ tín dụng không duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng, từ đó khôngnắm rõ tình hình khách hàng sử dụng vốn cũng như hoạt động sản xuất kinh doanhcủa khách hàng, dẫn đến không quản lý được nguồn trả nợ của khách hàng, làm
Trang 21- Trình độ, năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng còn yếu kém:
Khách hàng tham gia kinh doanh quá nhiều mặt hàng, vay vốn mở rộng sảnxuất kinh doanh vượt khả năng quản lý dẫn đến ứ đọng hàng hoá, kinh doanh thua
lỗ, vốn bị thất thoát Ngoài ra việc thẩm định dự án đầu tư không đúng cũng dẫn đếntình trạng thua lỗ, nợ không trả được
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích
Khách hàng sử dụng tiền vay để đầu tư vào các mục đích không đúng với nộidung hợp đồng tín dụng đã được ký kết với Ngân hàng, dùng vốn vay ngắn hạn đểđầu tư TSCĐ hay kinh doanh bất động sản, làm cho việc quay vòng vốn khôngđúng như tính toán ban đầu, dẫn đến phát sinh nợ quá hạn
- Khách hàng cố ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của Ngân hàng
Khách hàng cố tình xây dựng một phương án kinh doanh hoàn hảo để vay vốnNgân hàng phục vụ cho mục đích khác, thậm chí trái pháp luật, từ đó nguồn thu từhoạt động kinh doanh không có thật, nợ quá hạn là điều tất yếu
Khách hàng sử dụng tài sản thế chấp để vay nhiều nơi với tổng số tiền vay lớnhơn rất nhiều so với giá trị tài sản thế chấp Khi khách hàng không còn nguồn thunào để trả nợ, Ngân hàng cần xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ Tuy nhiên, tài sản thếchấp ở nhiều nơi, phát sinh tranh chấp, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không
Trang 22của các NHTM Báo hiệu rủi ro mất mát đối vơi Ngân hàng và khách hàng Nợ cóvấn đề có nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi loại phản ánh mức độ rủi ro tín dụng
ở góc độ khác nhau Việc phân loại nợ quá hạn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
đề ra các biện pháp xử lý thu hồi nợ, giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng.Tuỳ theo mụcđích có thể lựa chọn các tiêu thức phân loại tương ứng:
a) Căn cứ vào thời gian
- Nợ quá hạn dưới 90 ngày
- Nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày
- Nợ quá hạn từ 180 ngày đến dưới 360 ngày
- Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên
b) Căn cứ vào khả năng thu hồi
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi:
Là các khoản nợ đến ngày đáo hạn mà người vay chưa trả được nợ cho Ngânhàng nhưng khả năng hoàn trả cao Con nợ thường là những cá nhân, tổ chức làm
ăn có hiệu quả, có khả năng tài chính và vị thế trên thị trường Nhưng do nhữngnguyên nhân ngoài dự tính làm chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra tạithời điểm thanh toán đã thoả thuận trong khế ước làm phát sinh nợ quá hạn
- Nợ khó đòi:
Là khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ hạn gia nợ mà con nợ không có khả nănghoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng,Trong trường hợp này con nợ thưònglàm ăn kém hiệu quả, khả năng sinh lời không cao hay cố tình trì hoãn trả nợ choNgân hàng Khả năng thu hồi khoản nợ này là thấp và quá trình thu hồi thường khókhăn phức tạp Để thu được nợ đòi hỏi Ngân hàng phải tốn nhiều công sức, chi phí
và vận dụng nhiều biện pháp khác nhau
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi:
Là khoản nợ quá hạn đã sử dụng nhiều biện pháp để thu nợ nhưng vẫn khôngthu được toàn bộ hay một phần nợ gốc Con nợ không có nguồn để trả nợ cho Ngânhàng ở hiện tại cũng như tưong lai Những khoản cho vay này Ngân hàng có thểmất trắng
Trang 23Căn cứ vào nguyên nhân gây ra nợ quá hạn
- Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan
- Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan
d) Căn cứ vào tài sản bảo đảm
- Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo
- Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo không còn đối tuợng để thu hồi
- Nợ qúa hạn không có tài sản đảm bảo nhung con nợ vẫn tồn tại và đanghoạt động
Căn cứ vào thành phần kinh tế
- Nợ quá hạn của cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh cá thể
- Nợ quá hạn của doanh nghiệp nhà nuớc
- Nợ quá hạn của doanh nghiệp tu nhân
- Nợ quá hạn của Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Nợ quá hạn của Doanh nghiệp có vốn đầu tu nuớc ngoài
Căn cứ vào bản tệ
- Nợ quá hạn bằng ngoại tệ
- Nợ quá hạn bằng nội tệ
1.3.4. Ảnh hưởng của nợ có vấn đề
Đối với nền kinh tế
Ngày nay nguời ta không thể hình dung nổi một nền kinh tế mà vắng bóng cácngân hàng thuơng mại Hệ thống các ngân hàng thuơng mại đã trở thành một bộphận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại Tình trạng hoạt động kinhdoanh của ngân hàng thuơng mại đuợc các nhà kinh tế coi là một hàn thử biểu củanền kinh tế của mỗi quốc gia Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến không ít cáctruờng hợp mà các ngân hàng thuơng mại lớn bị phá sản đã làm chao đảo nền kinh
tế tài chính của đất nuớc, thậm chí hậu quả của nó còn lan tràn sang cả các quốc giatrong khu vực hay toàn châu lục
• Đình chỉ sản xuất
Nợ quá hạn phát sinh làm cho vốn ùn tắc, những đối tuợng cần vốn để phát
Trang 24triển hoạt động sản xuất kinh doanh không được đáp ứng kịp thời, gây đình đốn sảnxuất, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
• Sức ép lạm phát
Nợ quá hạn tăng cao làm tăng nguồn vốn bị đóng băng, gây ra tình trạng khanhiếm vốn giả tạo Tiền trong lưu thông giảm sút, nhu cầu tăng cung tiền cho đầu tưphát triển sản xuất sẽ đẩy mạnh lạm phát trong nền kinh tế
• Khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, khủng hoảng kinh tế
Ngân hàng được coi là cơ quan đầu não của nền kinh tế, là kênh chủ yếu thựchiện huy động và cho vay phát triển kinh tế Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
tế mang tính dây chuyền
Tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng tăng cao nếu không kịp thời có biện pháp xử
lý sẽ gây thua lỗ cho ngân hàng Từ đó, Ngân hàng sẽ có xu hướng thu hẹp các hoạtđộng kinh doanh như: huy động vốn, cho vay, đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến sựtăng trưởng của nền kinh tế Hơn nữa, Ngân hàng kinh doanh thua lỗ sẽ làm giảmlòng tin của khách hàng, dẫn đến khách hàng rút tiền ồ ạt, Ngân hàng mất khả năngthanh toán và đi đến phá sản Sự phá sản của một Ngân hàng sẽ kéo theo sự đổ vỡcủa toàn bộ hệ thống Ngân hàng, làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng vàkhủng hoảng kinh tế xã hội
Đối với Ngân hàng
• Giảm hiệu quả sử dụng vốn
Nợ quá hạn phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của Ngânhàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này Điều này làm cho Ngân hàng mất đi các
cơ hội kinh doanh kiếm lời khác Hơn nữa, với việc giảm đi đáng kể doanh số thu
nợ, làm cho vòng quay vốn của Ngân hàng giảm đi, làm giảm hiệu quả sử dụng vốncủa Ngân hàng
• Tăng chi phí, giảm lợi nhuận
Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng.Khi một khoản vay không thu hồi được, thu nhập từ lãi vay giảm đi, vốn Ngân hàng
bị ứ đọng, không sinh lời.Mặt khác, nợ quá hạn phát sinh làm tăng chi phí khi Ngân
Trang 25hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản nợ và một số khoản chi phí trong việcquản lý và xử lý nợ như: khởi kiện, thi hành án, bán đấu giá tài sản Từ đó làm cholợi nhuận của Ngân hàng sụt giảm đáng kể.
• Giảm khả năng thanh toán
Hầu hết nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng đều do huy động từ các cánhân, tổ chức và Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền gửi này, kể cả khichưa đến hạn Nợ quá hạn phát sinh, gây ứ đọng vốn, làm cho lượng vốn khả dụngsụt giảm, Ngân hàng mất khả năng thanh khoản Trường hợp nghiêm trọng, Ngânhàng có thể mất khả năng thanh toán và đi đến phá sản
• Giảm uy tín của Ngân hàng
Nợ quá hạn của Ngân hàng tăng cao làm giảm khả năng thanh khoản, từ đóảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng dành cho Ngân hàng
Đối với khách hàng
• Giảm uy tín
Thông tin nợ quá hạn tại Ngân hàng sẽ gây ra nhiều bất lợi cho khách hàng,đặc biệt uy tín của khách hàng đối với các đối tác làm ăn, các Ngân hàng khác bịgiảm sút Các bên sẽ không muốn đặt quan hệ đối tác với một doanh nghiệp hoạtđộng kém hiệu quả, tình hình tài chính không lành mạnh
• Tăng chi phí
Khi khoản nợ của khách hàng không trả nợ đúng hạn, Ngân hàng sẽ áp dụngmức lãi suất phạt khá cao, làm gia tăng chi phí lãi vay, tăng gánh nặng trả nợ chokhách hàng
• Quá trình luân chuyển vốn bị gián đoạn
Khoản vay của khách hàng bị quá hạn, Ngân hàng sẽ có xu hướng phong tỏamọi nguồn thu của khách hàng để thu nợ, làm cho việc luân chuyển vốn của kháchhàng bị gián đoạn
1.3.5. Dấu hiệu các khoản nợ có vấn đề
Việc dự báo trước sự phát sinh của một khoản nợ có vấn đề sẽ giúp Ngân hàngkịp thời đưa ra biện pháp đối phó, từ đó hạn chế tổn thất xảy ra Trên thực tế, có rất
Trang 26nhiều dấu hiệu cho thấy một khoản nợ sẽ trở thành nợ có vấn đề:
1.3.5.1 Dấu hiệu từ phía khách hàng
Dấu hiệu từ Báo cáo tài chính
• Bảng cân đối kế toán
- Khách hàng gửi báo cáo chậm hoặc không gửi báo cáo tài chính mà không
có lý do thuyết phục
- Số liệu báo cáo không đầy đủ, rõ ràng và thiếu trung thực
- Nguồn vốn chủ sở hữu giảm (trừ truờng hợp doanh nghiệp chia tách)
- Thay đổi đáng kể trong cơ cấu bảng tổng kết tài sản
- Nợ phải trả tăng lên đột biến trong khi nhu cầu SXKD không có sự thay đổilớn Nợ phải trả ngắn hạn lớn hơn giá trị tài sản luu động
- Các khoản nợ dài hạn tăng đáng kể và/ hoặc chiếm tỷ lệ lớn
- Các khoản phải thu tăng một cách đột biến (cả giá trị tuyệt đối và tuơng đối).Thời gian thu hồi nợ phải thu trung bình tăng lên Tỷ lệ các khoản phải thu khóđòi/Tổng các khoản phải thu tăng
- Hàng tồn kho, chi phí trả truớc ngắn hạn/ dài hạn, chi phí tạm ứng, chi phísản xuất dở dang tăng đột biến; nhiều công trình XDCB dở dang kéo dài, khôngquyết toán đuợc Tỷ lệ các khoản tồn kho kém chất luợng/ Tổng hàng tồn kho tăng
- Thay đổi tăng nhanh chóng của tài sản cố định (trừ truờng hợp doanh nghiệpđầu tu phát triển sản phẩm mới)
• Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
- Doanh thu bán hàng giảm đột biến hoặc doanh thu bán hàng tăng lớn nhunglợi nhuận giảm đi Tổng doanh thu và doanh thu thuần chênh lệch lớn
- Tỷ lệ phần trăm của chi phí trên tổng doanh thu tăng lớn/ mức lãi giảm đi
- Chi phí quản lý, chi phí tài chính tăng cao không cân xứng so với mức tăngcủa doanh thu bán hàng Tốc độ tăng chi phí cao hơn nhiều so với tốc độ tăng doanhthu trong truờng hợp kế hoạch SXKD không có sự thay đổi đột biến
- Giá vốn tăng cao Không thực hiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi theoquy định, công nợ dây dua kéo dài
Trang 27- Chi phí quản lý chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí.
- Lợi nhuận cao nhưng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm/Xuất hiện lỗ từ hoạt động kinh doanh
Dấu hiệu từ hoạt động kinh doanh, quan hệ với bạn hàng
- Thay đổi về phạm vi kinh doanh (ngành hàng kinh doanh thế mạnh, truyềnthống bị thu hẹp trong khi mở rộng các hoạt động khác ở các lĩnh vực mà doanhnghiệp chưa có kinh nghiệm)
- Nguồn cung cấp nguyên liệu bị giảm sút/ giá đầu vào tăng đột biến
- Thị phần sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp dần thu nhỏ trên thị trường;năng lực cạnh tranh thấp; tiền đề phát triển trong tương lai của doanh nghiệp khôngnằm trong xu thế tiêu thụ của thị trường Mất quyền phân phối sản phẩm hoặcnguồn cung cấp
- Giá trị của từng đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mua bán thay đổi đáng kể cóthể làm mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành Khó khăn trong việc thanh toáncác khoản nợ người bán, khách hàng mua chịu tăng lên
- Doanh nghiệp có chức năng nhập khẩu hàng hóa thiết bị nhưng lại thườngnhập khẩu ủy thác
- Hàng tồn kho có dấu hiệu kém chất lượng, lưu hàng tồn kho với số lượnglớn hoặc cơ cấu hàng tồn kho không phù hợp Mất nhiều khách hàng có quan hệlâu năm
- Bố trí nhà máy và thiết bị không hợp lý với quy mô, quy trình luân chuyểnsản xuất kinh doanh và thị trường phân phối Mất mát những dây truyền sản xuấtchính, việc thay thế những máy móc lỗi thời diễn ra chậm chạp Công suất của nhàmáy giảm lớn/ một số dây chuyền phải ngừng hoạt động vì không có đơn hàng
Dấu hiệu từ giao dịch với Ngân hàng
- Xây dựng kế hoạch SXKD, kế hoạch vay vốn lưu động ngày càng tăng lênkhông sát thực tế, thiếu cơ sở Thời hạn xin vay vốn ngày càng kéo dài Đề nghị vayvốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác nhau, nhưng trên thực tế lạikhó có thể nhận thấy được
Trang 28- Xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo đảm.
- Thay đổi trong thái độ đối với ngân hàng/ cán bộ ngân hàng, ngại tiếp xúcvới cán bộ ngân hàng, thiếu tính hợp tác trong cung cấp thông tin, tình hình sản xuấtkinh doanh, TSĐB của khách hàng
- Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn, chậm trả nợ gốc, nợlãi, thường xuyên phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ Thiếu tinh thần hợp tác trong việcthanh toán các khoản nợ với ngân hàng
Dấu hiệu liên quan đến quản trị doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sắp chuyển đổi hình thức sở hữu; thay đổi tổ chức nhân sự/người điều hành, cổ đông lớn; có dấu hiệu mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp,xuất hiện các vụ kiện cáo từ nội bộ doanh nghiệp Chậm hoàn thiện hồ sơ pháp lý(Điều lệ, đăng ký kinh doanh )
- Trình độ quản lý doanh nghiệp của người lãnh đạo doanh nghiệp kém Việcđiều hành và phân công xử lý công việc thể hiện sự chắp vá, không mang tính dàihạn và kế hoạch hóa cao Sử dụng nguồn lực lãng phí, kém hiệu quả
- Mức độ tín nhiệm của người lãnh đạo và của doanh nghiệp giảm thấp
- Thái độ làm việc của nhân viên giảm sút; khó khăn về nhân sự; một số người
có năng lực rời bỏ doanh nghiệp
- Không có khả năng thực hiện kế hoạch hoặc các cam kết
- Mạo hiểm khi mua bán, khi thực hiện công việc kinh doanh mới, tại khu vựckinh doanh mới hoặc dây truyền sản xuất mới Giá cả sản phẩm không phù hợp vớigiá cả thị trường
- Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc cácđiều kiện kinh tế
- Có dấu hiệu nợ lương nhân viên/ công nhân
- Khách hàng vay vốn (trường hợp là cá nhân), người lãnh đạo/ kế toán trưởngdoanh nghiệp bị cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, bắt/ tạm giam liên quan đến hoạtđộng của doanh nghiệp
- Khách hàng có dấu hiệu bỏ trốn hoặc mất tích
Trang 291.3.5.2 Dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng từ phía ngân hàng
Dấu hiệu từ hồ sơ khoản vay
- Hồ sơ cho vay không đầy đủ, thiếu chặt chẽ, thông tin thiếu độ tin cậy
- Hồ sơ TSĐB chua đảm bảo tính pháp lý, tài sản nhận làm đảm bảo có tínhđặc thù cao hoặc tính chuyển nhuợng thấp trên thị truờng
- Kế hoạch trả nợ, nguồn trả nợ không rõ ràng, tính khả thi thấp
Dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng
- Quy trình cho vay không đuợc tuân thủ theo đúng quy định của ngân hàng
- Lãnh đạo tự quyết định phê duyệt khoản vay, bỏ qua ý kiến của các cấpthẩm định
- Quyết định cho vay không căn cứ vào tính khả thi của phuơng án sử dụngvốn vay của khách hàng mà chủ yếu dựa vào nguồn thu nợ từ TSĐB
- Giải ngân truớc khi hoàn thiện hồ sơ khoản vay
- Cho vay chỉ dựa trên số liệu báo cáo của doanh nghiệp Coi nhẹ hoặc bỏ quacông
tác kiểm tra, phân tích đánh giá báo cáo tài chính, khả năng trả nợ của nguời vay hoặcbỏ
qua báo cáo của bộ phận thông tin tín dụng/ những nguồn tham khảo tín dụng khác
- Không thuờng xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, tình hình SXKDcủa khách hàng, không nhận biết đuợc các dấu hiệu rủi ro từ phía khách hàng để đềxuất biện pháp xử lý kịp thời
- Vốn vay không đuợc sử dụng đúng mục đích ban đầu Kiểm tra sau vaymang tính hình thức, chiếu lệ
- Cho vay thêm nhung chỉ là biện pháp tình thế, không có TSĐB tuơng ứng
- Cho vay đảo nợ
- Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng
Dấu hiệu từ việc phân loại nợ
Các khoản nợ thuộc nhóm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5
Dấu hiệu được phát hiện bởi các đoàn kiểm tra của SHB và NHNN
1.3.5.3 Dấu hiệu nhận biết từ các cơ quan chủ quản, các cơ quan khác
- Khách hàng có liên quan trực tiếp đến vụ án hoặc có liên quan đến vụ án
Trang 30đang được cơ quan pháp luật giải quyết.
- Cơ quan chủ quản thay đổi hình thức sử hữu của doanh nghiệp, thay đổigiám đốc/ kế toán trưởng
- Cơ quan chức năng có quyết định thay đổi, bổ sung hoặc rút bớt ngành nghềkinh doanh, thu hồi giấy phép KD của doanh nghiệp
- Nợ nghĩa vụ ngân sách Nhà nước
- Kết quả kiểm toán có những điểm khác lớn so với các báo cáo trước đó củadoanh nghiệp
- Thiên tai, hỏa hoạn ảnh hưởng đến đối tượng vay vốn
1.3.6. Biện pháp phòng ngừa phát sinh Nợ có vấn đề
Nợ có vấn đề phát sinh ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của Ngân hàng Do vậy, Ngân hàng cần phải có các biện pháp phòng ngừaphát sinh nợ có vấn đề
- Chú trọng công tác thẩm định ban đầu đối với khách hàng: tư cách pháp lý,tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính (khả năng tự chủ, khảnăng thanh toán, khả năng sinh lời )
- Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng, thắtchặtquy trình tín dụng, thường xuyên kiểm tra, đánh giá các khoản nợ, đảm bảo cáckhoản nợ được giải ngân đúng quy trình, khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích,tài sản bảo đảm được kiểm soát chặt chẽ
- Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức cho cán bộ tín dụng: Ngânhàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo bài bản, am hiểu,
Trang 31có kiến thức sâu sắc về thị trường, nắm vững các văn bản pháp luật có liên quan.Ngoài ra, cán bộ tín dụng phải có đạo đức, liêm khiết, có trách nhiệm Ngân hàngcần phải sàng lọc lại đội ngũ cán bộ hiện có, bổ sung cán bộ mới, thường xuyên có
kế hoạch đào tạo một cách toàn diện
- Phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa đối tượng cho vay, thời hạn cho vay,loại hình cho vay
- Tiến hành phân loại chất lượng của các khoản vay để có định hướng xử lýphù hợp, kịp thời
+ Đối với các khoản vay có chất lượng tốt, đảm bảo khả năng thu hồi đúng hạn,Ngân hàng chỉ cần chú ý việc đôn đốc khách hàng trả nợ khi đến hạn, bám sát quátrình sử dụng vốn của khách hàng, đảm bảo khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích.+ Đối với các khoản vay bị ảnh hưởng xấu do các nguyên nhân khách quan,Ngân hàng cần có biện pháp điều chỉnh kịp thời lịch trả nợ để phù hợp với khả nănghiện tại của khách hàng Cán bộ tín dụng có thể tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn
đề tiêu thụ sản phẩm, mời chuyên gia cố vấn để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.+ Đối với các khách hàng có vi phạm hợp đồng tín dụng một cách nghiêmtrọng, sử dụng vốn sai mục đích, kinh doanh các ngành nghề không phù hợp vớiquy định của pháp luật, có nguy cơ thua lỗ, Ngân hàng phải tìm mọi cách thu hồi nợ
kể cả khi chưa đến hạn
1.3.7. Biện pháp xử lý nợ có vấn đề
Khi một khoản nợ có vấn đề phát sinh, có rất nhiều biện pháp xử lý Ngân hàng
có thể lựa chọn cho phù hợp với hiện trạng của khách hàng Tùy theo cách thức ápdụng, có thể chia thành hai nhóm biện pháp chính như sau:
a Nhóm biện pháp hỗ trợ
Nhóm biện pháp này thường được áp dụng đối với các khoản nợ vẫn còn khảnăng thu hồi từ hoạt động sản xuất kinh doanh, khách hàng hợp tác trong việc trả nợNgân hàng.Nếu sử dụng hiệu quả nhóm biện pháp này, Ngân hàng và khách hàngđều có lợi, khách hàng sẽ giải quyết được những khó khăn về tài chính, Ngân hàng
sẽ thu hồi được một khoản nợ quá hạn, bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Ngân hàng
Trang 32và khách hàng càng trở nên khăng khít.
Nhóm biện pháp này bao gồm:
• Cơ cấu lại thời hạn trả nợ:
Biện pháp này được áp dụng đối với các khách hàng gặp khó khăn tài chínhtạm thời, không có khả năng trả nợ đúng hạn do nguyên nhân khách quan, có vănbản đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, được Ngân hàng đánh giá tài sản, công nợđảm bảo cân đối với dư nợ và khách hàng có khả năng trả nợ trong thời gian đề nghị
cơ cấu lại thì có thể xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Cơ cấu lại thời hạn trả nợ có thể được thực hiện theo 02 hình thức:
+ Gia hạn nợ: Ngân hàngcho phép khách hàng kéo dài thêm một khoảng thờigian trả nợ, vượt quá thời hạn cho vay đã thỏa thuận trước đó trong Hợp đồng tíndụng
+ Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Ngân hàng cho phép khách hàng thay đổi kỳ hạn trả
nợ trong phạm vi thời hạn cho vay đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng,
mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi
• Cho vay bổ sung, duy trì hoạt động
Biện pháp này được áp dụng đối với các khách hàng có uy tín, có tiềm lực tàichính, nhưng lại gặp phải một số khó khăn tạm thờido thiếu vốn như: trả lươngcông nhân viên, khắc phục sự cố kĩ thuật, mua nguyên vật liệu và cần thêm vốn đểduy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đây là biện pháp khá mạo hiểm,cần phải có sự phân tích đánh giá kĩ lưỡng về thực trạng và khả năng hồi phụccủakhách hàng, nếu không Ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ gia tăng nợ quá hạn
• Chuyển nợ thành vốn góp
Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp Ngân hàng đánh giá thấy lĩnhvực đầu tư của khách hàngcó tính khả thi, khả năng đem lại hiệu quả cao nhưng gặpkhó khăn trong việc triển khai do gánh nặng nợ nần và trình độ quản lý của kháchhàng còn hạn chế Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm áplực trả nợ, cùng với sự tham gia quản lý của Ngân hàng, hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ có biến chuyển tích cực, từ đó tạo nguồn thu trả nợ cho
Trang 33Ngân hàng.
• Bổ sung tài sản bảo đảm
Biện pháp này được áp dụng đối với các khoản nợ có vấn đề mà nguồn thu nợkhông chắc chắn, giá trị tài sản bảo đảm sau khi đánh giá lại thấp hơn dư nợ vay
b Nhóm biện pháp thanh lý
Đây là nhóm biện pháp áp dụng cho các khoản nợ không còn nguồn thu từhoạt động sản xuất kinh doanh và/hoặc khách hàng không có thiện chí trả nợNgân hàng
Nhóm biện pháp này bao gồm:
• Thanh lý tài sản thế chấp
Đây được coi là biện pháp cuối cùng, áp dụng khi khách hàng không cònnguồn thu nào để trả nợ Ngân hàng Ngân hàng thường thanh lý tài sản thế chấp đểthu nợ theo một trong số các hình thức sau:
+ Ngân hàng khuyến khích khách hàng tự bán tài sản thế chấp: việc này sẽgiúp cho khách hàng chủ động được mức giá bán đối với tài sản, và Ngân hàng đảmbảo được tính khách quan và không mất thời gian, công sức để rao bán tài sản
+ Khách hàng bàn giao tài sản thế chấp để Ngân hàng xử lý thu nợ: Ngân hàngchịu trách nhiệm toàn bộ trong quá trình xử lý tài sản: rao bán, đàm phán giá cả
Số tiền thu được từ việc bán tài sản sẽ dùng để trả nợ Ngân hàng Nếu tài sản bánvới giá cao hơn dư nợ thì số tiền còn lại sẽ được trả lại cho khách hàng Trường hợpgiá bán tài sản thấp hơn dư nợ thì dư nợ còn lại khách hàng vẫn phải chịu tráchnhiệm hoàn trả cho Ngân hàng
+ Khách hàng dùng tài sản thế chấp để gán nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng toànquyền xử lý và thu nợ Sau khi gán nợ khách hàng coi như không còn nghĩa vụ gìvới Ngân hàng Do vậy, biện pháp này chỉ áp dụng khi Ngân hàng đánh giá tài sảnthế chấp có khả năng sinh lời (thanh khoản khá, bán được giá cao )
• Sử dụng các công cụ pháp luật (Tòa án, Công an )
Biện pháp này áp dụng đối với trường hợp khách hàng cố ý chây ỳ, không hợptác trong việc trả nợ Ngân hàng hoặc có dấu hiệu lừa đảo, tẩu tán tài sản, bỏ trốn
Trang 34Sử dụng biện pháp này Ngân hàng sẽ tốn khá nhiều thời gian, công sức và chi phí
để có thể thu nợ thành công
• Bán nợ
Biện pháp này được áp dụng đối với những khoản nợ có vấn đề được Ngânhàng đánh giá hiệu quả thu hồi thấp Đối tác có nhu cầu mua khoản nợ có thể là cáccông ty tài chính, các công ty chuyên mua bán nợ đã có kinh nghiệm trong việc xử
lý các khoản nợ có vấn đề tương tự, hoặc cũng có thể là một Ngân hàng khác, muốnmua lại các khoản nợ có vấn đề của khách hàng mình tại các tổ chức tín dụng, quy
về một mối để tập trung xử lý Giá bán nợ thường thấp hơn giá trị dư nợ, phầnchênh lệch chính là giá cả cho việc Ngân hàng chuyển nhượng rủi ro sang đối tượngkhác Với việc bán nợ, số tiền Ngân hàng thu hồi được giảm đi, nhưng bù lại thờigian xử lý nhanh chóng, Ngân hàng có thể quay vòng vốn hiệu quả
1.4 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM
1.4.1 Kinh nghiệm xử lý nợ có vấn đề của một số quốc gia
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiềuvào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị cácnhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã dẫn tớicuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia này Tínhđến cuối tháng 3/1998, tổng nợ xấu của các tổ chức tài chính (TCTC) của Hàn Quốclên tới 118 nghìn tỷ Won (18% tổng dư nợ), chiếm tới 27% GDP; trong đó, 50 nghìn
tỷ Won là các khoản nợ quá hạn từ 3 đến 6 tháng, chiếm 42% tổng nợ xấu, 68 nghìn
tỷ Won còn lại là các khoản nợ quá hạn trên 6 tháng và có nguy cơ vỡ nợ cao
Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định trong số 118 nghìn tỷ Won nợ xấu, số nợxấu trị giá 100 nghìn tỷ Won (bao gồm 68 tỷ Won các khoản nợ quá hạn trên 6tháng và có nguy cơ vỡ nợ cao, một phần các khoản nợ quá hạn từ 3 đến 6 tháng, vàcác khoản nợ xấu có thể phát sinh trong quá trình xử lý nợ xấu) cần được xử lý ngaylập tức bằng 2 biện pháp: (1) Buộc các tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý
Trang 35một nửa giá trị các khoản nợ xấu bằng việc yêu cầu các khách hàng trả nợ hoặc bántài sản thế chấp; (2) để Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc (Korean AssetManagement Corporation- KAMCO) mua lại một nửa các khoản nợ xấu.
Để thực hiện quá trình xử lý nợ xấu, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng tiêuchuẩn phân loại nợ quốc tế để đánh giá thực trạng nợ xấu của các TCTC Liên tiếptrong khoản thời gian từ tháng 3/1998 đến tháng 3/2000, tiêu chuẩn phân loại nợđuợc thắt chặt, theo đó, các TCTC đuợc yêu cầu phân loại nợ quá hạn từ 3 tháng trởlên là nợ xấu, đến phân loại những khoản nợ dựa trên khả năng tài chính của kháchhàng vay vốn trong tuơng lai đối với việc hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng, và ởmức độ thắt chặt hơn nữa khi phân loại các khoản vay có mức độ rủi ro lớn ngay cảkhi khách hàng trả đuợc lãi vào nhóm nợ xấu Theo tiêu chí phân loại nợ, 68 nghìn tỷWon nợ xấu quá hạn trên 6 tháng đã tăng lên 88 nghìn tỷ Won vào cuối năm 1999
Để giải quyết khoản nợ xấu tuơng đuơng 27% GDP đi kèm với tái cấu trúc hệthống tài chính đang suy yếu, Chính phủ Hàn Quốc đã huy động tới 157 nghìn tỷWon Trong số này, 60 nghìn tỷ Won đuợc sử dụng để bơm vốn thêm vào cho cácTCTC, 39 nghìn tỷ Won đuợc sử dụng để mua các khoản nợ xấu từ các TCTC, 26nghìn tỷ Won để trả cho nguời gửi tiền của các TCTC bị vỡ nợ Trong số 157nghìn tỷ Won thì 104 nghìn tỷ Won đuợc huy động thông qua phát hành trái phiếucủa Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc (Korean Deposit Insurance Corporation-KDIC) và KAMCO đuợc Chính phủ bảo lãnh Khoản tiền huy động này đuợc thuhồi tới 56% thông qua việc bán lại cổ phần của các ngân hàng đã đuợc bơm vốn, giátrị thu hồi đuợc từ xử lý các khoàn nợ xấu và bán các tài sản thế chấp Số tiềnkhông thu hồi đuợc đuợc chuyển thành khoản nợ của Chính phủ thông qua việcchuyển các trái phiếu thành trái phiếu Chính phủ, tăng phí bảo hiểm tiền gửi
KAMCO, tiền thân là công ty con của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, đãđuợc cải tiến lại chức năng và nhiệm vụ thành cơ quan chuyên giải quyết nợ xấuthông qua Đạo luật quản lý hiệu quả nợ xấu của các TCTC và sự thành lập Cơ quanquản lý tài sản Hàn Quốc (the KAMCO Act) Chủ sở hữu của Công ty Quản lý Tàisản Hàn Quốc là Bộ Tài chính và Kinh tế, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, và các
Trang 36TCTC khác, được quản lý bởi ban điều hành là các đại diện đến từ các chủ sở hữucộng thêm đại diện từ Ủy ban Giám sát Tài chính, Công ty Bảo hiểm Tiền gửi, Hiệphội các ngân hàng, và 3 chuyên gia độc lập, hoạt động dưới sự giám sát của Ủy banGiám sát tài chính.
KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu
nợ, các khoản nợ có thể giúp các TCTC khôi phục lại hoạt động và hình ảnh trướccông chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ Quy trình đánh giá các khoản vayđược tiến hành kỹ lưỡng nhằm bảo đảm các khoản nợ mua về vừa hỗ trợ được cácTCTC vừa bảo đảm được hiệu quả hoạt động của Công ty Các khoản nợ doKAMCO mua lại được chia thành 6 nhóm: Nợ thông thường có bảo đảm (chiếm17,9% tổng tiền), nợ thông thường không có bảo đảm (5,8%), nợ đặc biệt có bảođảm (32,2%), nợ đặc biệt không có bảo đảm (10,6%), nợ của tập đoàn Daewoo(32%) và nợ được gia hạn lại (1,5%) với mức giá so với giá trị khoản vay tương ứng
là 67%, 11,4%, 47,4%, 29%, 35,9% và 23,1% Khoản nợ xấu được định giá dựatrên khả năng thu hồi nợ, tài sản bảo đảm và phương pháp định giá được thay đổitùy theo từng thời kỳ Đa phần các khoản tiền được sử dụng để mua nợ từ các ngânhàng (chiếm 62,1%), công ty ủy thác đầu tư (21,1%) và công ty bảo hiểm (4,5%).Tổng cộng, KAMCO đã bỏ ra 39,7 nghìn tỷ Won, chiếm tới 36% giá trị các khoảnvay, 110,1 nghìn tỷ Won, để mua các khoản nợ xấu trong vòng 5 năm từ năm 1997đến 2002
Sau khi mua lại, KAMCO sẽ nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành cácchứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc báncho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh Luật Chứng khoán có bảođảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩy việc bán các khoản nợ cho các công
ty có chức năng chứng khoán hóa các khoản xấu và bán lại cho các nhà đầu tư HànQuốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào xử
lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được bảo đảm bằng các khoản nợ xấu cũngnhư mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá Chính sự thành công trong việc thuhút các nhà đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đầu tư
Trang 37vào các chứng khoán cũng như các khoản nợ xấu này Bên cạnh đó, KAMCO cũngtịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền.KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyểnđổi nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất,giãn nợ Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu củakhoản nợ xấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấudoanh nghiệp để mua lại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lạihoạt động của công ty Trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2002, KAMCO
đã thu hồi được 30,3 nghìn tỷ Won, tương ứng với tỷ lệ thu hồi là 46,8% trên giá trịkhoản nợ
Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ17,7% vào năm 1998 xuống còn 14,9%, 10,4%, 5,6%, và 3,9% vào các năm 1999,
2000, 2001 và 2002 Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái
cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính góp phần ổn định nền kinh tế là
do Chính phủ Hàn Quốc đã có những can thiệp nhanh chóng, kịp thời và toàn diện,triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu hợp lý khi đưa KAMCO vào hoạt động vàphát triển thị trường thứ cấp cho các khoản nợ xấu, các chứng khoán được bảo đảmbằng nợ xấu được tiến hành giao dịch thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Khác với các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản và Thái Lan, nợ xấu là kếtquả của những vụ sụp đổ thị trường tài chính và bong bóng tài sản thì nguyên nhângây ra nợ xấu của Trung Quốc chính là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khihoạt động của các NHTM Nhà nước lớn chỉ như những cơ quan hành chính Nhànước, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốnlàm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ Những khoản vay này cũng không qua quytrình phân tích tín dụng chặt chẽ nên rủi ro tín dụng là điều không tránh khỏi Vìthế, quá trình xử lý nợ xấu ở Trung Quốc gắn trực tiếp với các biện pháp cải cáchđược thực hiện bởi Chính phủ nhằm chuyển đổi nền kinh tế Trung Quốc từ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường cũng như quá trình tái cấu trúc
Trang 38các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và hệ thống tài chính Quá trình xử lý nợ xấucủa Trung Quốc có thể được chia thành ba giai đoạn chính.
Giai đoạn thứ nhất, giữa những năm 1990 diễn ra quá trình tái cấu trúc tài
chính nhằm chuyển đổi hệ thống ngân hàng, cụ thể là tách cho vay chính sách khỏicho vay thương mại bằng cách thành lập 3 ngân hàng chính sách chịu trách nhiệm
xử lý các khoản vay chính sách 4 NHTM Nhà nước lớn của Trung Quốc bắt đầu sửdụng cách phân loại nợ thành 5 nhóm theo cách chia của BIS, thay vì 4 nhóm nhưtrước đây, thực hiện phê duyệt tín dụng một cách độc lập với ít can thiệp hành chính
từ phía chính quyền địa phương hơn
Giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ năm 1999 đến năm 2003, đánh dấu bằng sự
thành lập của 4 công ty quản lý tài sản được Chính phủ tài trợ (Asset ManagementCorporation- AMC), mỗi công ty tương ứng với một trong số 4 NHTM Nhà nướclớn (chiếm tới 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng), nhằm giải quyết nhữngkhoản nợ xấu của 4 ngân hàng này từ trước năm 1996 có tổng giá trị lên tới 1,4nghìn tỷ NDT (169 tỷ USD), chiếm 19% GDP của Trung Quốc năm 1999 (BingWang and Richard Peiser, 2007) Các khoản nợ xấu được chuyển giao tại mức giátrị sổ sách trực tiếp từ 4 NHTM cho 4 AMC tương ứng được thực hiện suốt năm
1999 và 2000 và trách nhiệm của 4 AMC này là phải xử lý hết các khoản nợ xấunày trong vòng 10 năm
Giai đoạn thứ ba, Trung Quốc tập trung vào tái cấu trúc các NHTM Nhà nước
bằng cách mời gọi sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có chọnlọc và niêm yết ra công chúng nhằm tăng tính minh bạch và nâng cao năng lực quảntrị của 4 NHTM Nhà nước lớn này
Sau đây sẽ tập trung vào giai đoạn thứ hai nhằm đi sâu tìm hiểu kinh nghiệm
xử lý nợ xấu thông qua các AMC của Trung Quốc Khi các AMC được thành lậpnăm 1999, NHTW Trung Quốc, Bộ Tài chính, và Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc(CSRC) đều được chỉ định là cơ quan điều tiết Năm 2003, Uỷ ban Giám sát Ngânhàng Trung Quốc (CBRC) được thành lập và đã tiếp nhận một phần trong nhữngtrách nhiệm điều tiết CBRC phụ trách các hoạt động hàng ngày của các AMC,
Trang 39trong khi Bộ Tài chính xác định có chấp thuận một khoản nợ xấu hay không Ngoài
ra, một Ban giám sát đuợc chỉ định bởi Hội đồng Nhà nuớc sẽ giám sát chất luợngtài sản của các AMC và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các lãnh đạo cấp cao.CSRC, Uỷ ban quản lý và giám sát các tài sản nhà nuớc, Cục Kiểm toán Nhà nuớc,NHTW Trung Quốc, và Bộ Thuơng mại giám sát một số hoạt động của các AMCtrong quyền hạn tuơng ứng của họ Nhu vậy, một số chức năng điều tiết là chồngchéo nhau
Theo quy định của Chính phủ, các AMC có 4 phuơng thức để huy động vốnbao gồm: Vốn từ Bộ Tài chính, khoản vay đặc biệt từ NHTW Trung Quốc, pháthành trái phiếu có bảo lãnh của Bộ Tài chính, và vay thuơng mại từ các định chế tàichính khác Trên thực tế, để thực hiện mua lại khoản nợ xấu khổng lồ kể trên, cácAMC đã phải vay tới 40% từ NHTW Trung Quốc, 60% còn lại đuợc tài trợ bằngtrái phiếu của AMC phát hành cho 4 NHTM Nhà nuớc
Các AMC đã sử dụng nhiều biện pháp để xử lý nợ xấu bao gồm thanh lý tàisản, bán tài sản trực tiếp cho các nhà đầu tu và chứng khoán hóa những khoản nợxấu này Việc xử lý nợ xấu của Trung Quốc còn gắn liền với tái cơ cấu DNNN nêncác AMC cũng có vai trò trong quá trình tái cơ cấu DNNN thông qua các biện pháphoán đổi nợ thành cổ phần và tái cấu trúc doanh nghiệp Các AMC đã tích cực bán,đấu giá và cơ cấu lại các khoản nợ xấu, nhà bị tịch thu, kiện tụng và thanh lý Cuốinăm 2001, các cuộc đấu giá quốc tế nợ xấu đầu tiên tại Trung Quốc đã diễn ra, vớiviệc bán các khoản nợ xấu trị giá 13 tỷ NDT của Huarong AMC cho 2 tổ chức quốc
tế Đó là một mốc quan trọng bởi vì lần đầu tiên thông tin về giá cả thị truờng củacác khoản nợ xấu đuợc tiết lộ một cách đáng tin cậy Đuợc biết, Huarong AMC sẽnhận đuợc tối đa 21% giá trị sổ sách của khoản nợ
Với quy mô nợ xấu lớn của Trung Quốc, chứng khoán hóa cũng là một cáchhiệu quả để xử lý nợ xấu, bởi chúng tạo ra các loại chứng khoán có rủi ro khác nhaunên có thể thu hút đuợc nhiều nhà đầu tu có khẩu vị rủi ro khác nhau và thu lại đuợctiền mặt ngay lập tức cho tổ chức phát hành Nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu ở Trung Quốc đuợc thực hiện không chỉ có sự tham gia của các AMC mà
Trang 40còn bởi các NHTM khác với tỷ lệ thu hồi được báo cáo là từ 10-30%.
về hoán đổi nợ thành cổ phần, năm 1999 các AMC đã mua lại các khoản nợxấu giá trị 405 tỷ NDT của 580 DNNN quy mô lớn và vừa được lựa chọn tại 4NHTM nhà nước và thực hiện chuyển đổi các khoản nợ phải trả thành cổ phần củaAMC trong các doanh nghiệp này Ket quả là tỷ lệ trung bình các khoản nợ/tài sảntrong DNNN tái cấu trúc giảm xuống từ 73% năm 1999 xuống dưới 50% năm 2000(Ye and Zhai, 2001) Các AMC sẽ tham gia vào quản trị doanh nghiệp, tái cấu trúcdoanh nghiệp và khi các doanh nghiệp này hoạt động có lợi nhuận trở lại, các AMC
có quyền nhận cổ tức và bán lại cổ phần cho các doanh nghiệp với mức giá thỏathuận trước trong vòng 10 năm Hơn nữa, các AMC cũng được ưu tiên rút vốn khỏicác doanh nghiệp này khi niêm yết trên thị trường chứng khoán Đây chính là khoảntiền mặt mà các AMC có thể thu hồi được từ nợ xấu thông qua hoán đổi nợ thành cổphần tại các DNNN
Thông qua các biện pháp xử lý nợ xấu, đến cuối năm 2004, 4 AMC này chỉthu hồi được 675 tỷ NDT, chưa đến 40% giá trị nợ xấu được chuyển giao từ năm
1999 Tỷ lệ thu hồi tiền mặt tại các AMC tính đến tháng 12/2004 đạt khoảng 20%,thấp hơn nhiều so với mức 49% của Thái Lan và mức 20-30% ước tính của NhậtBản Cho đến nay, thời hạn hoạt động của các AMC đã kết thúc nhưng vẫn chưa cócông bố cụ thể nào về tỷ lệ thu hồi thực sự của 4 AMC này Tỷ lệ thu hồi và tốc độthu hồi của Trung Quốc thấp hơn chủ yếu là do chất lượng tài sản thấp, quy địnhmua lại nợ xấu theo giá trị sổ sách, và tính thiếu minh bạch tại các AMC
Các khoản nợ xấu được mua lại phát sinh từ trước năm 1996, mà chủ yếu là doviệc đầu tư vào các dự án đã bị đình trệ do vi phạm các quy định về sử dụng đất đai,môi trường và các quy định khác Ngoài ra, theo các AMC ước tính, chỉ có khoảng22% các khoản nợ được bảo đảm bằng bất động sản, quyền sở hữu trí tuệ, hoặc cácloại chứng khoán khác, trong đó tỷ lệ được bảo đảm bằng bất động sản chỉ chiếm7% tổng giá trị khoản nợ xấu (Xu, 2005), nên khả năng thanh lý tài sản để thu hồi
nợ là thấp Điều này làm giảm giá trị của các khoản nợ đối với các nhà đầu tư
việc quy định mua lại các khoản nợ xấu theo giá trị sổ sách trong khi giá trị thị