Mặc dù nghiệp vụthị trường mở của NHNN Việt Nam đạt những thành công đáng kể song khivấn đề nợ xấu ngân hàng đã và đang phát sinh gây chú ý, tranh luận khá nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN BÍCH THỦY
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU
NGÂN HÀNG TĂNG CAO HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUÂN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ TUẤN NGHĨA
Hà Nội - 2013 LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập củariêng tôi Luận văn chưa được công bố ở bất kỳ đâu, dưới bất kỳ hình thứcnào Những thông tin và số liệu sử dụng trong Luận văn này là hoàn toàn xácthực Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 08 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Bích Thủy
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU TANG CAO 4
1.1 KHÁI QUÁT NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 4
1.1.1 K hái niệm về nghiệp vụ TTM 4
1.1.2 Các thành viên tham gia nghiệp vụ TTM 6
1.1.3 Các loại hàng hóa giao dịch nghiệp vụ TTM 8
1.1.4 Phương thức giao dịch và đấu thầu của nghiệp vụ TTM 11
1.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU TĂNG CAO 15
1.2.1 Nợ xấu của Ngân hàng 15
1.2.2 Hiệu quả của nghiệp vụ TTM 16
1.2.3 Tác động của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động NVTTM 22
1.3 KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TTM TẠI MỘT SỐ NƯỚC KHI CÓ NỢ XẤU NGÂN HÀNG TĂNG CAO 23
1.3.1 Kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM tại một số nước 23
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM đối với Việt Nam 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ NGHỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU TĂNG CAO HIỆN NAY 30
2.1 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ TTM TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 30
2.1.1 Các văn bản pháp quy về nghiệp vụ TTM 30
2.1.2 Bộ máy tổ chức và điều hành nghiệp vụ Thị trường mở 33
2.1.3 Th ành viên và hàng hóa tham gia nghiệp vụ TTM 35
Trang 42.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TTM TRONG BỐI
CẢNH NỢ XẤU NGÂN HÀNG TANG CAO 41
2.2.1 Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam trong thời gian qua tác động tới hoạt động TTM 41
2.2.2 Hiệu quả nghiệp vụ TTM trong điều kiện nợ xấu tăng cao 47
2.2.3 Đánh giá tác động của nghiệp vụ TTM đối với xử lý nợ xấu ngân hàng
70 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU NGÂN HÀNG 84
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIỆP VỤ TTM Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU NGÂN HÀNG TĂNG CAO HIỆN NAY 84 3.1.1 Qu an điểm về điều hành nghiệp vụ TTM 84
3.1.2 Đị nh hướng về điều hành nghiệp vụ TTM 85
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ TTM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU NGÂN HÀNG TĂNG CAO 88
3.2.1 Nhóm giải pháp xử lý nợ xấu để nâng cao hiệu quả hoạt động TTM 88
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể để tăng hiệu quả nghiệp vụ TTM 91
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 99
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ, Quốc hội 100
3.3.2 Kiến nghị đối với các Bộ ngành liên quan 101
3.3.3 Kiến nghị đối với hệ thống các TCTD 102
KẾT LUẬN 104
Trang 5Viết tắt Nguyên nghĩa
CSTT Chính sách tiền tệ
GTCG Giấy tờ có giá
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung Ương
NHTM Ngân hàng Thương mại
UBND Ủy ban Nhân dân
DANH MỤC CHỮ CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 61 Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của NVTTM tới dự trữ ngân hàng * 17
2 Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của NVTTM qua lãi suất* 18
3 Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tổ chức và điều hành hoạt động NVTTM 35
4 Bảng 2.1 Danh sách các thành viên tham gia NVTTM 36 - 38
5 Bảng 2.2 Nợ xấu tại NHTM 43
6 Bảng 2.3 Diễn biến tình hình nợ xấu năm 2009 - 2012 44
7 Bảng 2.4 Số lượng các phiên giao dịch NVTTM từ năm 2008
-2012 (tính đến ngày 31/12/-2012) 55
8 Bảng 2.5 Phương thức đấu thầu, xét thầu trong các phiên giao
9 Bảng 2.6 Doanh số giao dịch NVTTM các năm 2008 - 2012 59
10 Biểu đồ 2.1 Doanh số đấu thầu TPKB năm 2008 - 2012* 51
11 Biểu đồ 2.2 Khối lượng giao dịch bình quân từng phiên từ
12 Biểu đồ 2.3 Doanh số TTM, doanh số cho vay qua đêm, doanh
số cho vay tái cấp vốn năm 2009 - 2012 (tính đến 31/12/2012) 64
Biểu đồ 2.5 Diễn biến lãi suất trúng thầu cao nhất NVTTM giai
đoạn 2008 - 2012 so với các lãi suất cơ bản khác (tính mức cao
nhất tại các năm)
67
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh việc sử dụng các công cụ chínhsách tiền tệ khác như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá thì nghiệp
vụ thị trường mở đã trở thành công cụ được NHNN chú trọng quan tâm và sửdụng chủ yếu trong điều hành CSTT bởi tính linh hoạt và hiệu quả, góp phầnđáng kể trong việc điều tiết, kiểm soát lượng tiền cung ứng Mặc dù nghiệp vụthị trường mở của NHNN Việt Nam đạt những thành công đáng kể song khivấn đề nợ xấu ngân hàng đã và đang phát sinh gây chú ý, tranh luận khá nhiều
ở Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh các Ngân hàng Thương mại (NHTM)bắt đầu thực hiện Đề án mới về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng doThủ tướng chính phủ ban hành theo quyết định 254/QĐ-TTG ngày01/03/2012 Nợ xấu tăng cao của NHTM được ví như “cục máu đông” gây tắcnghẽn hoạt động của hệ thống ngân hàng, gây khó khăn cho nền kinh tế Hơnnữa tác động trực tiếp của nợ xấu đến lợi nhuận của NHTM và gây bất ổnkinh tế vĩ mô cho nền kinh tế cũng như tác động gián tiếp đến hoạt độngTTM Từ đó NHNN Việt Nam đã phải sử dụng nghiệp vụ TTM để có giảipháp giúp hỗ trợ cho hoạt động của các TCTD khi gặp khó khăn về giải quyết
nợ xấu đồng thời phát huy hiệu quả của công cụ nghiệp vụ thị trường mởtrong điều hành CSTT
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả
nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh nợ xấu ngân hàng tăng cao hiện nay” để nghiên cứu, nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)Việt Nam khắc phục hạn chế do tình trạng nợ xấu nảy sinh từ hệ quả của rủi
ro kinh doanh và ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững trong toàn hệthống Ngân hàng
Trang 8- Trên cơ sở tham khảo đối chiếu với lý luận và kinh nghiệm thực tếcủa các nước, nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của nghiệp vụTTM cũng như phát hiện được phương hướng, khắc phục hạn chế tình trạng
nợ xấu tăng cao Đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả điều hành CSTTtrong quá trình tái cơ cấu NHTM Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động nghiệp vụ TTM tại NHNNViệt Nam trong bối cảnh nợ xấu Ngân hàng tăng cao
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về diễn biến tácđộng nợ xấu của các Ngân hàng tới hiệu quả hoạt động nghiệp vụ TTM tronggiai đoạn từ năm 2008 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp triết học duy vật biện chứng và lịch sử,cùng với phương pháp logic, phương pháp thống kê, phân tích so sánh,phương pháp tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn Luận văn
sử dụng các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị để minh họa dựa trên các số liệu tin cậyđược lấy từ nguồn NHNN Việt Nam
5 Ket cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở trong bối cảnh
nợ xâu tăng cao.
Trang 9Chương 2: Thực trạng hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt nam trong bối cảnh nợ xấu Ngân hàng tăng cao hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở tại ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh nợ xấu Ngân hàng.
Trang 10CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG
BỐI CẢNH NỢ XẤU TĂNG CAO 1.1 KHÁI QUÁT NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
1.1.1 Khái niệm về nghiệp vụ TTM
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là hoạt động do NHTW thực hiệnviệc mua vào hay bán ra các giấy tờ có giá với các đối tác trên thị trường mởnhằm thực hiện CSTT quốc gia Thông qua hoạt động này NHTW tác độngtrực tiếp đến cơ số tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đótác động đến lượng tiền cung ứng cả về mặt lượng và mặt giá cả Các đối táctrong giao dịch NVTTM có thể là các NHTM, các doanh nghiệp hoặc các tổchức tài chính phi ngân hàng khác
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là nghiệp vụ NHTW thực hiệnmua bán giấy tờ có giá như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, trái phiếu khobạc, chứng chỉ tiền gửi Khi NHTW mua GTCG trên thị trưởng mở số tiềnNHTW trả sẽ làm tăng cơ số tiền tệ qua đó làm tăng khối lượng tiền cungứng Ngược lại khi NHTW bán giấy tờ có giá cho TCTD sẽ làm giảm cơ sốtiền tệ nghĩa là giảm khối lượng tiền cung ứng Do vậy, thị trường này có khảnăng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà không làmcho giá cả biến động mạnh
NVTTM là công cụ CSTT chủ yếu và quan trọng của NHTW vì nó làyếu tố quyết định nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ dẫn đến biếnđộng trong cung ứng tiền tệ
NVTTM là một trong những cách quan trọng để NHTW phát hành tiềnvào lưu thông hoặc rút bớt lượng tiền trong lưu thông về thông qua mua hoặcbán các các loại GTCG
Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của các
Trang 11NHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng.
Tên của thị trường là “Thị trường mở” (Open Market Operation) chothấy đây là một thị trường có tính chất mở, có nghĩa là đa dạng về đối táctham gia thị trường và đa dạng về chủng loại hàng hóa tham gia trên thịtrường Thị trường mở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình và thờihạn của các công cụ được giao dịch trên thị trường Đối với các hàng hóađược sử dụng trên TTM bao gồm GTCG ngắn hạn và thường thành viên thamgia là các ngân hàng Khi đó thị trường mở là một bộ phận của TTTT CònGTCG dài hạn cũng được sử dụng trên thị trường này Do đó nếu xét theothời hạn của GTCG thì TTM gồm cả một phần của thị trường chứng khoán.Vìvậy các quy định về hàng hóa và thành viên tham gia giao dịch trong NVTTM
sẽ quyết định khái niệm cụ thể về NVTTM ở từng nước
Có hai loại nghiệp vụ TTM:
(1) NVTTM năng động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ.(2) NVTTM thụ động nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tốkhác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ
Nghiệp vụ TTM là một công cụ CSTT có tính chủ động cao Nghiệp
vụ TTM do NHTW chủ động thực hiện khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợvốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn, chủ độngkhởi xướng Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện NVTTM theo định
kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết NVTTM có thể được thực hiện linh hoạtxét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thểthực hiện NVTTM ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ)với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng,thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thịtrường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt
Trang 12chặt Đặc biệt khi thực hiện NVTTM thường xuyên và hiệu quả, lãi suấtthị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãisuất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của l ãisuất thị trường.
1.1.2 Các thành viên tham gia nghiệp vụ TTM
Dựa trên mục đích giao dịch, có thể phân các tác nhân trên thị trường
mở thành hai nhóm: NHTW, các TCTD, định chế tài chính, quĩ đầu tư, côngty Tuy nhiên, theo nguyên tắc NVTTM là thị trường không giới hạn ngườitham gia, mọi nhà đầu tư đều có thể là đối tác giao dịch với NHTW nếu thoảmãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước Các tiêu chuẩn được đặt
ra nhằm vào đáp ứng hai mục đích:
- Các đối tác phải đảm bảo được độ tin cậy nhất định
- Việc giao dịch với các đối tác đó có hiệu quả xét ở khía cạnh canthiệp vào thị trường tiền tệ của NHTW
1.1.2.1 Ngân hàng Trung ương
NHTW với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt độngNVTTM NHTW nghiên cứu ban hành các chính sách và tạo điều kiện hànhlang pháp lý cho sự ra đời, hoạt động của thị trường cũng như thực hiện cácbiện pháp hỗ trợ sự phát triển của thị trường, tạo điều kiện mở rộng các công
cụ cho thị trường, hoàn thiện cơ sở vật chất, xây dựng các quy định và tiêu chíthực hiện giao dịch, giám sát hoạt động của thị trường NHTW cũng thu thập,công bố và phổ biến các thông tin về thị trường; đảm bảo hệ thống thanh toán
an toàn và trôi chảy Trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốnkhả dụng của các TCTD NHTW quyết định thời điểm mua hoặc bán, khốilượng, phương thức thực hiện, thời hạn mua bán và chủng loại giấy tờ cógiá NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thựchiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ
Trang 13phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nềnkinh tế.
Thông qua hoạt động của nghiệp vụ TTM, NHTW tham gia NVTTMkhông phải là mục tiêu kinh doanh mà ngoài việc điều tiết vốn khả dụng của
hệ thống NHTM , gián tiếp tác động đến lãi suất thị trường làm cho mục tiêuCSTT đi theo định hướng đã định
1.1.2.2 Các Ngân hàng Thương mại
Các NHTM là thành viên quan trọng tham gia NVTTM của NHTW xéttrên hai phương diện: độ tin cậy và tính hiệu quả Các NHTM là trung gian tàichính lớn nhất có mạng lưới hoạt động rộng, gắn kết thành hệ thống qua trungtâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của các NHTM sẽ gây ảnh hưởngnhiều đến cung ứng tiền tệ Trong điều kiện tỉ trọng dư nợ ngân hàng chiếm đa
số trong thị trường tài chính ở các nước phát triển thì ảnh hưởng này càng mangtính quyết định đến hiệu quả CSTT Do đó sự tham gia thị trường của cácNHTM trong nghiệp vụ TTM càng thể hiện tính ưu việt của nó từ đó nhằm điềuhoà vốn khả dụng, bảo đảm khả năng thanh toán, phân tán rủi ro Giúp NHTMtìm kiếm cơ hội về nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hoặc NHTM thực hiện việcmua
bán chứng khoán
NHTM đóng vai trò quan trọng cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa làngười cho vay và đi vay trên thị trường tiền tệ Mặt khác, các NHTM tham giathị trường nhằm điều hoà mức dự trữ ngân quỹ để đảm bảo khả năng thanhtoán,
cho vay khoản vốn dư thừa để hưởng lãi
1.1.2.3 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các tổ chức này bao gồm: các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹđầu tư và các định chế tài chính khác Mục đích của các tổ chức này khi thamgia NVTTM là để kiếm lợi nhuận qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán
Trang 14lớn các GTCG và họ thường xuyên thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư nhằmđảm bảo mức sinh lợi cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất cho vốn đầu tư.Hành vi của NHTW khi giao dịch với các đối tác này trên thị trường mở sẽ cótác động trực tiếp tới khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường qua sựbiến động giá cả của loại giấy tờ có giá được giao dịch.
1.1.2.4 Các nhà giao dịch sơ cấp
Các giao dịch nghiệp vụ TTM tại các nước phần lớn thực hiện thôngqua vai trò của các nhà giao dịch sơ cấp Các nhà giao dịch sơ cấp này thamgia NVTTM với tư cách là người trung gian và hưởng lợi do chênh lệch giámua bán Đe thực hiện được điều này các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồnvốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thựchiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếukho bạc Họ không kinh doanh cho trạng thái (hoặc tình hình) vốn của mình,thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch trên thị trường thường hoạt độngdưới tư cách công ty
Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, thanh toán và giao nhận đối với các giaonhận đối với các giao dịch, các NHTW thường đưa ra tiêu chí chọn lựa cácđối tác thực hiện nghiệp vụ NHTM dưới sự giám sát chính thức của các đơn
vị giám sát nghiệp vụ hoặc là các nhà môi giới giao dịch có đăng ký với uỷban chứng khoán và hối đoái
Giao dịch thông qua môi giới sẽ giúp cho cả người mua và người bántiết kiệm được chi phí tìm hiểu nhau, tránh tình trạng thông tin không cânxứng, lựa chọn đối nghịch và các yêu cầu của họ cũng được đáp ứng với mức
độ cao hơn
1.1.3 Các loại hàng hóa giao dịch nghiệp vụ TTM
Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở là những loại giấy tờ có giá, cótính thanh khoản cao được sử dụng trong các giao dịch mua vào hoặc bán ra
Trang 15của NHTW trên TTM Do có kỳ hạn thanh toán ngắn hoặc dài hạn, nhữngcông cụ vay nợ được mua bán trong thị trường tiền tệ chịu mức dao động giátối thiểu nên đó là loại đầu tư ít rủi ro nhất, nhằm đạt mục tiêu điều chỉnh dựtrữ của hệ thống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất Thông thường hànghoá chủ yếu bao gồm:
* Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc (TPKB) là loại chứng khoán Chính phủ thường đượcphát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong nămtài chính Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường là 364 ngày Đây là hànghóa chủ yếu ở hầu hết NHTW các nước vì lý do có tính thanh khoản cao vàđược phát hành định kỳ với khối lượng lớn do vậy có thể đáp ứng nhu cầu canthiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau
Ngoài ra, việc sử dụng TPKB trong các giao dịch NVTTM có một số
ưu điểm như: NHTW có thể bán TPKB thay cho việc phát hành tín phiếuNHTW để thực hiện CSTT thắt chặt, khi đó gánh nặng về chi phí để thực hiệnCSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được biểu hiện trên số liệu ngân sách Nhànước Do đó, sử dụng TPKB trên thị trường mở có ý nghĩa như một chất xúctác cho sự phát triển của thị trường tài chính nói chung Bộ Tài Chính có vaitrò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát hành, thanh toán lãi và gốcvay của tín phiếu Trong năm 2012 tín phiếu kho bạc phát triển mạnh mẽ tăng
về số lượng và được thực hiện mua bán trên cả 02 thị trường tạo tính chủđộng cho các TCTD đồng thời tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển thịtrường vốn đến năm 2020
* Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước
NHTW có thể phát hành loại giấy tờ có giá thường là tín phiếu ngắnhạn của chính NHTW Việc sử dụng tín phiếu NHNN làm công cụ mua bántrên thị trường mở có một số ưu, nhược điểm sau:
Trang 16- Tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT Tuynhiên việc phát hành tín phiếu để thực hiện CSTT sẽ làm nguồn thu củaNHTW giảm nếu phát hành với số lượng lớn.
- Tín phiếu NHNN là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng,nhưng sử dụng tín phiếu NHNN đòi hỏi phải có sự phối hợp với Bộ Tài chínhnhằm tránh trường hợp phân đoạn thị trường (giữa thị trường TPKB và thịtrường tín phiếu NHNN) các đối tác sẽ tập trung mua loại tín phiếu nào có lãisuất cao hơn Đồng thời làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên Từ
đó có thể tác động tới mục đích phát hành GTCG và giảm hiệu quả tác độngcủa 2 loại hàng hoá này
* Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các định chế tàichính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã gửi vào ngân hàngtrong một thời gian nhất định với một mức lãi suất định trước Thời hạn củachứng chỉ tiền gửi từ 7 ngày trở lên, có trường hợp thời hạn lên tới 3 - 5 năm.Chứng chỉ tiền gửi được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do cácnhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phảirút tiền gửi trước hạn và chịu phạt
Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong cơchế quản lý ngân hàng: chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì
nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vìtrông chờ vào người gửi tiền Chứng chỉ tiền gửi được sử dụng khá phổ biếncho NVTTM
* Thương phiếu
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toánhoặc cam kết thanh toán không điều kiện thanh toán một số tiền xác định.Thương phiếu thường do các công ty, doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu
Trang 17vốn ngắn hạn Thời hạn của thương phiếu thường là từ 1 đến 270 ngày, nhưngphần lớn thương phiếu có thời hạn ngắn hơn 30 ngày Luật và pháp lệnhthương phiếu tại các nước thường đảm bảo tính chất an toòa cho công cụ nàybằng cách quy định về điều kiện được phát hành thương phiếu Lãi suất ápdụng đối với thương phiếu thấp hơn lãi suất vay ngân hàng khiến cho thươngphiếu có tính hấp dẫn nhất định Việc mua bán thương phiếu của NHTW trênthị trường mở sẽ tác động mạnh đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửicủa khách hàng tại NHTM.
* Trái phiếu chính quyền địa phương
Là giấy nhận nợ dài hạn do chính quyền địa phương phát hành Tráiphiếu chính quyền địa phương thường khác với trái phiếu Chính phủ ở điềukiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường được các chính quyền địaphương lớn phát hành Loại trái phiếu này thường được các NHTM sử dụng
để tái chiết khấu NHTW Loại chứng khoán này được các nhà đầu tư ưachuộng một phần là do sự can thiệp của NHTW qua việc mua bán lại tráiphiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ
1.1.4 Phương thức giao dịch và đấu thầu của nghiệp vụ TTM
(1) Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ TTM thường được thực hiện theo hai phương thức giao dịchchủ yếu là giao dịch mua bán hẳn (giao dịch không hoàn lại) và giao dịch muabán có kỳ hạn
Trang 18a, Giao dịch mua bán hẳn
Giao dịch mua bán hẳn là các giao dịch mua bán GTCG của NHTWtheo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Hình thức giaodịch này làm chuyển đổi hẳn quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịchđược chuyển sang cho NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham giagiao dịch Vì vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường
là dài hạn
b, Giao dịch mua bán có kỳ hạn
Phương thức giao dịch này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giaodịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lạiđảo ngược Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoảthuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại cácGTCG đó Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCGvới thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai.Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảngthời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cáchlinh hoạt Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay củaNHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao
Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong NVTTM
do các lý do:
(1) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnhhưởng không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng,
(2) Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn
(3) Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoànhảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục
(4) Làm giảm bớt thời gian thông báo do đó mà giảm bớt biến động củathị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW
Trang 19Ngoài ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trongNVTTM như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch hoán đổi GTCGđến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ.
(2) Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch NVTTM thường được thực hiện thông qua 2 phươngthức đấu thầu là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất
a, Đấu thầu lãi suất
Là phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký
số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do chính mình lựa chọn Đây là phương thứcđấu thầu có cạnh tranh giữa các thành viên dự thầu
- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông quaviệc mua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổtheo các mức lãi suất từ cao xuống thấp Nghĩa là những đơn dự thầu ứng vớilãi suất cao sẽ được ưu tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phânphối được sử dụng hết Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận,khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng được phân phối thì quátrình phân bổ như sau:
Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- rt : là mức lãi suất thứ t được đăng ký
- b(rt)i là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi
suất rt
- b(rt) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức
lãi suất rt
- rm là mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận
Đối với trường hợp NHTW đấu thầu để bơm thêm vốn khả dụng cho hệthống ngân hàng thì: r1 ≥ rt ≥ rm
- k(rm) là tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng
Trang 20Trên thế giới có hai phương thức đấu thầu lãi suất là đấu thầu theo kiểu
Mỹ và đấu thầu theo kiểu Hà Lan Nếu đấu thầu theo kiểu Hà Lan thì tất cảlượng đặt thầu được xác định cùng mức lãi suất đạt thầu Nếu đấu thầu theokiểu Mỹ thì tất cả các mức lãi suất đã đăng ký trong phạm vi đặt thầu đềuthực hiện theo đúng mức lãi suất đã đăng ký
b, Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTWcông bố trước NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằngphương thức đấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện NHTW công bố điềukiện đặt thầu để các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuậnmức lãi suất đã xác định trước Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giátrị đạt thầu và phân bổ cho từng tổ chức tham gia đặt thầu
Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: trước hết toàn bộ
số lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau Nếu tổng khối lượng đặtthầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộcác đơn dự thầu đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu Nếu tổng khốilượng đặt thầu lớn hơn khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượngtrúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặtthầu của thành viên đó Các đơn dự thầu sẽ được phân bổ như sau:
Trang 21Tỷ lệ % phân bổ thầu: k = A/ ɪ b i trong đó:
i=1
- A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- n: là tổng số thành viên tham gia dự thầu
- b, là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i
1.2.1 Nợ xấu của Ngân hàng
* Khái niệm về nợ xấu:
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa
cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tạinhiều quốc gia về quản lỷ rủi ro tín dụng xác định việc khoản nợ bị coi làkhông có khả năng ho àn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sauxảy ra:
(1) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khingân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi;
(2) Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày BCBS đặc biệt nhấnmạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” khi đánh giá mộtkhoản vay Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoảncho vay quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay ko trả được nợ Tuynhiên một vài quốc gia báo cáo các nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31ngày, hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn 61 ngày tính theo danh mục nợ xấu(tr 4 trong Tạp chí công nghệ ngân hàng số 73 tháng 01/2012)
Trang 22* Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu tại đoạn
4.84-4.85 như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốchoặc lãi 90 ngày hoặc hơn, khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đãđược vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận, khi các khoản thanhtoán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng chothấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản).Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vaythay thế nào cũng vẫn nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểmphải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đượckhoản vay thay thế” (tr 35 trong Tạp chí ngân hàng số 08 tháng 10/2011)
* Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và có một số sửa đổi trong Quyết
định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/07/2007 chỉ rõ: “nợ xấu” là các khoản nợthuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khảnăng mất vốn qui định tại Điều 6 và Điều 7 của Quyết định 493 và quyết định
18 nói trên
* Tuy nhiên để đánh giá chính xác hơn nợ xấu theo yếu tố định tính
xem xét khả năng trả nợ của người vay đặc biệt không chỉ khi có dấu hiệu rõràng về việc không trả được nợ, mà còn phải xét tới các tổn thất có thể xảy ratrong tương lai là rất quan trọng
1.2.2 Hiệu quả của nghiệp vụ TTM
1.2.2.1 Quan niệm về hiệu quả của nghiệp vụ TTM
Hiệu quả nghiệp vụ TTM thể hiện ở kết quả sự tác động của hoạtđộng thị trường mở trong việc thay đổi dữ trữ của các TCTD, lãi suất thịtrường hay nói rộng hơn là kết quả của việc thực thi chính sách tiền tệ tronggiữ ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
* về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả
Trang 23năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông quaảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đốitác tham gia NVTTM) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng(nếu các khách hàng là đối tác tham gia NVTTM).
Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của NVTTM tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi củangân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG màNHTW bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì
số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng.Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượngGTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làmgiảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫnđến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thịtrường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khiNHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngânhàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượngtiền cung ứng
* về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnhhưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung
cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầutiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi
Trang 24Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạtđộng arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dàihạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổngcầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyếtđịnh.
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của NVTTM qua lãi suất
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ
cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứngkhoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứngkhoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì
sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế
mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thốngngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suấtngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làmtăng các lãi suất thị trường Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếukho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường,
từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suấtsinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịchvốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Đe cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch
Trang 25chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tănglên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do
tỷ suất sinh lời giảm Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phầnlàm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp vụ TTM
Trong bối cảnh nợ xấu các yếu tố thị trường bị bóp méo, công cụnghiệp vụ TTM thực sự không phát huy được hiệu quả Tuy nhiên vào thời kỳcác TCTD thiếu khả năng thanh khoản bởi nhiều nguyên nhân và không thểtránh được xuất phát từ nợ xấu thì nghiệp vụ TTM đã phát huy được hiệu quả
rõ ràng Điều đó được NHNN thực hiện cả nghiệp vụ TTM kèm với công cụCSTT khác như dự trữ bắt buộc, cho vay tái câp vốn để đảm bảo ổn định tàichính trong bối cảnh hệ thống ngân hàng tái cơ cấu và giải quyết nợ xấu Cụthể như sau:
(1) Khả năng dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng
Với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động Nghiệp vụTTM, trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của hệthống ngân hàng cũng như dự báo thường xuyên vốn khả dụng của các TCTD
để NHNN có quyết định khối lượng chào mua-bán GTCG, thời hạn vàphương thức giao dịch TTM nhằm điều tiết thị trường tiền tệ theo mục tiêu đãxác định
Khi dự báo vốn khả dụng dư thừa trong ngắn hạn, NHTW sẽ thực hiệncác phiên chào bán GTCG hoặc phát hành tín phiếu NHTW nhằm thu hút vàhấp thụ vốn khả dụng dư thừa của hệ thống ngân hàng Trường hợp dự báovốn khả dụng thiết hụt thì NHTW sẽ thực hiện chào mua GTCG hoặc chứngchỉ tiền gửi để cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng Vì vậy, việc quyết địnhthực hiện các phiên giao dịch Nghiệp vụ TTM và kết quả giao dịch Nghiệp
vụ TTM phụ thuộc vào độ chính xác của việc dự báo tình hình kinh tế Nếu
Trang 26dự báo sai hoặc ngược chiều thì kết quả giao dịch Nghiệp vụ TTM sẽ rất thấphoặc không có đối tác nào khác tham gia giao dịch Nghiệp vụ TTM.
(2) Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở
Nhìn chung, nghiệp vụ TTM rất đa dạng về hình thức giao dịch, hànghoá giao dịch, tần suất giao dịch, đối tác giao dịch, kỳ hạn giao dịch Hiệnnay, Nghiệp vụ TTM thường được NHTW thực hiện dưới các hình thức chủyếu sau: NHTW mua hẳn hoặc bán hẳn GTCG, NHTW mua hoặc bán có kỳhạn các GTCG, NHTW phát hành tín phiếu NHTW, cầm cố các chứng chỉtiền gửi, cho vay không có bảo đảm hoặc hoán đổi ngoại tệ Việc quyết định
sử dụng các hình thức nào phụ thuộc vào thực tế diễn biến thị trường và sựphát triển của NHTW và hệ thống ngân hàng tài chính Hình thức mua bán có
kỳ hạn GTCG là hình thức giao dịch Nghiệp vụ TTM chủ yếu tại nhiềuNHTW xuất phát từ tính linh hoạt của hình thức này và tiết kiệm chi phí giaodịch Hơn nữa, NHTW sử dụng hình thức này có thể khắc phục dễ dàng cácsai lầm của mình Bên cạnh đó, hàng hoá của Nghiệp vụ TTM thường là cácGTCG có thu nhập cố định (lãi suất cố định) và tính thanh khoản cao nhưchứng khoán của chính phủ, tín phiếu NHTW Vấn đề nổi lên gần đây là sựthiếu hụt các GTCG đủ điều kiện giao dịch trên thị trường mở của các ngânhàng, xuất phát từ quy mô thị trường trái phiếu chính phủ nhỏ Ngoài ra, cácgiao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng chỉ được thực hiện tại một số quốc gia
Một quy định nữa của NHTW cũng tác động đến sự vận hành Nghiệp
vụ TTM là quy định về đối tác tham gia thị trường Vì vậy, quy định về đốitác thị trường mở của NHTW tác động rất lớn tới sự sôi động và quy mô hoạtđộng của thị trường
(3) Sự phát triển và hoàn thiện của thị trường tiền tệ
Nghiệp vụ TTM là công cụ có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắcthị trường, không có tính chất bắt buộc Chính vì vậy, hoạt động Nghiệp vụ
Trang 27TTM không chỉ phụ thuộc vào NHTW mà còn bị chi phối bởi môi trườngkinh tế vĩ mô, sự tham gia thị trường và nhu cầu giao dịch của các TCTD.
Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ TTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanhkhoản và mục tiêu lợi nhuận từ việc kinh doanh GTCG Đe đáp ứng nhu cầuthanh khoản của mình, các ngân hàng có thể thực hiện việc bán các GTCG,vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng khác trên thị trường vốn hoặc vay từNHTW Việc giao dịch trên thị trường mở phụ thuộc vào khả năng đáp ứngnhu cầu thanh khoản của ngân hàng thông qua thị trường tiền tệ và thườngđược lựa chọn cuối cùng bởi vì các lý do phi kinh tế Một phần nào đó, cácTCTD được NHNN hỗ trợ thanh khoản kịp thời khi thiếu hụt nhằm đảm bảocho quá trình hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn cũng như khắc phụcphần nào vốn trong tín dụng
Mặt khác nếu ngân hàng được đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mìnhtrên thị trường tiền tệ qua việc huy động các nguồn vốn mới, bán các tài sản,vay các ngân hàng khác, hoặc thông qua các công cụ khác thì việc giaodịch Nghiệp vụ TTM tại NHTW sẽ giảm thiểu Khi đó khả năng tác động củaNghiệp vụ TTM sẽ bị hạn chế
(4) Sự đa dạng về khối lượng và chủng loại hàng hoá được giao dịch
Để tham gia thị trường mở, nhất là khi cần bổ sung nguồn vốn, cácngân hàng phải nắm giữ một lượng hàng hoá nhất định về cả khối lượng vàchủng loại phù hợp với điều kiện và nhu cầu giao dịch của NHTW Chỉ khicác hàng hoá nắm giữ của ngân hàng phù hợp với nhu cầu giao dịch củaNHTW thì các ngân hàng mới có thể tham gia giao dịch Nghiệp vụ TTM
Khi thực hiện giao dịch Nghiệp vụ TTM, NHTW thường yêu cầu sửdụng các GTCG có độ rủi ro rất thấp và tính thanh khoản cao Chính vì vậy,các GTCG do Bộ Tài chính hay chính NHTW phát hành thường được NHTW
ưu tiên chấp thuận Các GTCG này thường được nắm giữ bởi các ngân hàng
Trang 28có tiềm lực tài chính mạnh, quy mô lớn hoặc nguồn vốn dồi dào Bên cạnh đó,
NHTW cũng chấp thuận các GTCG khác như: GTCG do Chính phủ các nướcphát triển phát hành, GTCG do chính quyền địa phương phát hành hoặcGTCG do các tổ chức tín dụng, tài chính có độ tín nhiệm cao phát hành
1.2.3 Tác động của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động NVTTM
Khi xảy ra nợ xấu thì NHNN sử dụng công cụ nghiệp vụ TTM khôngđược phát huy hiệu quả mà còn gặp phải nhiều cản trở, giảm vai trò quantrọng trong điều tiết vốn khả dụng của các TCTD Do đó NHNN phải sử dụngcác công cụ trực tiếp khác của CSTT như công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc
Điều này cho thấy rằng, để phát huy hiệu quả nghiệp vụ TTM khi tìnhhình kinh tế có nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh của các NHTM bị giảmlợi nhuận, thiếu vốn hay thừa vốn thì lúc này NHNN cần phải sử dụng tớicông cụ TTM để giải quyết phần nào những vấn đề trên
Khi trong hệ thống ngân hàng có nhiều TCTD dư thừa tiền nhưngkhông đẩy vốn ra được song vẫn phải trả lãi tiền gửi huy động từ nhân dân.Bên cạnh đó, một số NHTM nhỏ thiếu khả năng thanh khoản nếu không xử lýngay sẽ gây bất ổn trong hệ thống
Dựa vào tình hình thực tế như vậy, NHNN đã quyết định thực hiệncông cụ TTM bằng cách phát hành tín phiếu với lãi suất hấp dẫn để hút lượngvốn khả dụng dư thừa từ NHTM lớn chuyển sang điều hòa trở lại cho NHTMnhỏ thiếu thanh khoản qua biện pháp tái cấp vốn Động thái này thực sự pháthuy hiệu quả của nghiệp vụ TTM đó là NHNN chuyển từ trạng thái bơm”sang “hút” ròng tiền qua OMO chủ động hỗ trợ thanh khoản tránh cú sốc chocác ngân hàng có thể xảy ra
Việc phát hành tín phiếu NHNN không những trung hòa khối lượngtiền đồng trên thị trường mà còn giúp kiềm chế lạm phát một cách hiệu quả
Trang 29Ngược lại khi các TCTD gặp khó khăn thiếu thanh khoản trầm trọngbởi nhiều lý do trong đó có nợ xấu thì NHNN lại sử dụng công cụ TTM linhhoạt và đạt hiệu quả rất nhiều bằng đáp ứng kịp thời vốn, giúp các TCTDkhông bị mắc kẹt trong tình trạng thiếu tiền đồng Thời gian này, các TCTD
đã tham gia giao dịch trên TTM đông hơn với khối lượng GTCG tăng gấpnhiều lần và thị trường trở nên sôi động hơn
1.3 KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TTM TẠI MỘT SỐ NƯỚC KHI CÓ NỢ XẤU NGÂN HÀNG TANG CAO
1.3.1 Kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM tại một số nước
* Hiệu quả và tầm quan trọng của nghiệp vụ TTM tăng lên và được sử
dụng như công cụ CSTT và trở thành xu hướng ở hầu hết các NHTW khác.Đến nay nghiệp vụ TTM được sử dụng như một công cụ CSTT hiệu quả nhất
ở hầu hết các NHTW của các nước Cụ thể: tháng 8/2007 một số tổ chức tíndụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xinphá sản Một số khác rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh nhưCountrywide Financial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tíndụng đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến chocác tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành
Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ nổ ra Trước tình hình đó, Cục Dự trữ
Liên Bang Mỹ (FED) đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh
khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn thực hiện nghiệp vụ TTM mua vàocác loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quanchính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở Tháng 09/2007, FED còn tiếnhành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng từ 5,25% xuống 4,75%.Khi đó, NHTW Châu Âu đã bơm 205 tỷ USD vào thị trường tín dụng để nângmức thanh khoản Tháng 03/2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố
Trang 30cứu Bear Sterns nhưng không nổi Công ty này chấp nhận để JP MorganChase mua lại với giá 10 USD/01 cổ phiếu khi khủng hoảng nổ ra Tháng08/2008, một tổ chức tài chính Lehman Brothers lớn nhất và lâu đời nhất ở
Mỹ cũng bị phá sản Tháng 9/2008 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật
ổn định kinh tế khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới
700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại nợ xấu củangân hàng đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản Ngay khikhủng hoảng tín dụng nổ ra, FED bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất vàtăng mua MBS Đến tháng 8/2007 FED đã tiếp tục tiến hành các biện phápnới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính Cụ thể là lãisuất cho vay qua đêm liên ngân hàng giảm từ 5,26% xuống còn 2% chỉ trongvòng chưa đầy 8 tháng (trích dẫn tài liệu FOMC statement 18/09/2007) Lãisuất này tiếp tục giảm đến 16/12/2008 chỉ còn 0,25% mức lãi suất gần 0 hiếmthấy FED còn thực hiện NVTTM (mua các loại trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ
mà các tổ chức tài chính có) và hạ lãi suất tái chiết khấu Giữa tháng 12/2008FED tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng(trích dẫn Financial Times ngày 17/12/2008)
* Nghiệp vụ TTM của PBC (People’s Bank of China): Trong năm
2008 PBC đã phát hành 4,3 nghìn tỉ CNY tín phiếu NHNN và tiếp tục pháthành 4 nghìn tỷ CNY trong năm 2009, nhằm tăng cường tính thanh khoảntrên TTTT Bên cạnh đó, PBC cũng đẩy mạnh khả năng điều tiết lãi suất thịtrường thông qua cung - cầu trên thị trường tiền tệ, lãi suất chuẩn, tỷ lệ dựtrữ bắt buộc và lãi trên thị trường mở Tại thời điểm cuối năm 2008 lãi suấttín phiếu NHNN kỳ hạn 1 năm và 3 tháng lần lượt giảm 180 và 240 điểm
cơ sở Từ tháng 01 năm 2008 PBC đã bắt đầu cho phép thực hiện các hợpđồng hoán đổi lãi suất từ đó đa dạng hóa các công cụ và nâng cao tính linhhoạt trên TTTT Từ tháng 9 đến hết năm 2008 PBC đã tiến hành 4 lần cắt
Trang 31giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chuẩn tiến hành hạ 5 lần kể từ năm 2008đến cuối năm 2009 không thay đổi.
- PBC là cơ quan chủ đạo trong việc xây dựng và thực thi hệ thốngquy phạm pháp luật điều hành thị trường, quy định cơ cấu tổ chức quản lý,vận hành thị trường dưới sự chỉ đạo của PBC, đồng thời tạo hành lang pháp
lý cho các tổ chức tài chính và phi tài chính tham gia thị trường
- PBC trực tiếp tham gia thị trường thông qua các công cụ nhưnghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu (trong
đó nghiệp vụ TTM chiếm vị trí chủ đạo) nhằm tạo ra những tác động điềuchỉnh lãi suất, cung cầu tiền tệ trên thị trường
Ngoài ra, Trung Quốc đã xây dựng được một khung khổ pháp luậttương đối hoàn chỉnh, đặc biệt là thị trường tín dụng liên ngân hàng và thịtrường trái phiếu liên ngân hàng Điểm đáng chú ý nữa là Trung Quốc đã cóthể kiểm soát thống nhất đối với thị trường tiền tệ trên cơ sở một mạng lướikết nối quốc gia giữa các thị trường bộ phận Nhờ vậy, PBC đã có thể canthiệp một cách chủ động và linh hoạt để thực thi chính sách tiền tệ của mình
Bên cạnh đó, các NHTM Trung Quốc thành lập các Công ty con muabán nợ hay công ty khai thác tài sản có nhiệm vụ mua lại nợ của các NHTMvới mục tiêu đẩy nhanh quá trình lành mạnh hóa tài chính, đồng thời thựchiện cải cách quản lý nợ và phân loại nợ thành 5 cấp dựa vào mức độ rủi rotạo điều kiện cho các ngân hàng Với biện pháp này, các Ngân hàng TrungQuốc đã xử lý được 108,4 tỷ NDT nợ khó đòi và bán được 149,8 tỷ NDT nợkhó đòi, góp phần làm giảm tỷ lệ nợ khó đòi từ 16,29% xuống còn 5,46%năm 2009
Một yếu tố giúp Chính phủ Trung Quốc thành công là xử lý triệt để cáckhoản nợ xấu trong đó nợ của doanh nghiệp quốc doanh chiếm tới 70%,Chính phủ thành lập 4 công ty quản lý tài sản để xử lý toàn bộ nợ dưới chuẩn
Trang 32Chính phủ Trung Quốc chi 40 tỷ NDT để xóa nợ cho doanh nghiệp quốcdoanh và tái cấp vốn cho các NHTM bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ.
Tóm lại để đối phó với những tác động của suy giảm kinh tế toàn cầuPBC đã tiến hành một chính sách tiền tệ nới lỏng với mục tiêu là duy trì tínhthanh khoản trên thị trường, tạo mức tăng trưởng tiền gửi và tín dụng tốt Việcduy trì thanh khoản không thực sự khó đối với thị trường tiền tệ Trung Quốc
do hệ thống ngân hàng của nước này thường xuyên rơi vào trạng thái thừathanh khoản hơn là thiếu hụt, số dư tiền gửi thường duy trì ở mức cao hơn số
dư tín dụng Do đó, với nỗ lực quan trọng hơn của PBC tập trung vào các vấnđề: tạo khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh tái cấutrúc hệ thống ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa và đối phóvới rủi ro Bên cạnh đó việc sử dụng ngày càng linh hoạt và đa dạng các công
cụ điều tiết thị trường, mở rộng nghiệp vụ TTM, phối hợp giữa các kỳ hạnphát hành trái phiếu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chuẩn cũng cho thấy việcthực thi chính sách tiền tệ và điều tiết thị trường của PBC là đáng ghi nhận
Cụ thể tháng 7 năm 2009 nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát khi nềnkinh tế tăng trưởng trở lại, PBC đã tiến hành phát hành tín phiếu NHNN kỳhạn 1 năm để hạ thấp tính thanh khoản trong dài hạn Lãi suất repo 28 ngày vàlãi suất tín phiếu NHNN kỳ hạn 3 tháng tăng 1,18% và 1,328% Kỳ hạn lãisuất tín phiếu NHNN kỳ hạn 1 năm là 1,7605 Đó là dấu hiệu đầu tiên chothấy PBC đã bước đầu giảm tính nới lỏng trong thực thi CSTT một sự cẩntrọng cần thiết để đón trước khả năng về áp lực lạm phát trong điều kiện kinh
tế trong nước có dấu hiệu phục hồi song chưa vững chắc
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM đối với Việt Nam
Nghiên cứu nghiệp vụ TTM của NHTW một số nước và vận dụng hợpvới điều kiện phát triển thị trường tài chính, kinh tế tại Việt Nam là cần thiết.Song diễn biến tình hình kinh tế trong thời gian gần đây cho thấy tính bất ổn
Trang 33của kinh tế vĩ mô năm 2012 là hệ quả của sự bất ổn trong 4 năm qua và thểhiện gay gắt hơn qua các biểu hiện:
(1) Áp lực lạm phát kéo dài từ năm 2008 mà Chính phủ phải luôn luônứng phó trong suốt 4 năm qua Bước vào năm 2012 chúng ta càng khó khănhơn khi phải chống lạm phát trong điều kiện lãi suất quá cao và đang đứngtrước yêu cầu giảm lãi suất
(2) Tác dụng của các biện pháp giảm tổng cầu (CSTT và tài khóa thắtchặt theo Nghị quyết 11 của Chính phủ) đã tác động kìm hãm thị trường vàtốc độ tăng trưởng kinh tế Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản,giải thể có xu hướng tăng
(3) Hệ thống NHTM trong quý IV năm 2012 lâm vào tình trạng hết sứckhó khăn do mất thanh khoản của một nhóm ngân hàng nhỏ Nợ xấu xuất hiện
và tăng nhanh, đặc biệt các khoản tín dụng về bất động sản
(4) Từ quý II năm 2012, nền kinh tế Việt Nam càng thể hiện rõ nét nhưmột cơ thể vừa thiếu máu, vừa không tiếp nhận được máu Doanh nghiệpthiếu vốn hoạt động, ngân hàng không tăng được tín dụng Nợ xấu gây tắcnghẽn toàn hệ thống ngân hàng
(5) Thị trường thiếu niềm tin về tính ổn định của kinh tế vĩ mô nên diễnbiễn thất thường qua chỉ báo của thị trường chứng khoán Từ đó cần rút ramột số bài học kinh nghiệm:
Một là, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ nghiệp vụ TTM
và các công cụ CSTT khác trong việc điều hành CSTT như chính sách chovay tái cấp vốn, chính sách dự trữ bắt buộc Nghiệp vụ TTM không thể pháthuy hiệu quả nếu NHNN không thể dự báo tình hình kinh tế trong từng thờigian cụ thể
Hai là, TTM chỉ có thể phát huy hiệu quả trên cơ sở phát triển đồng
bộ các thị trường khác như: thị trường trái phiếu, tín phiếu Chính phủ, thị
Trang 34trường thứ cấp mua bán các loại GTCG với nhiệm vụ tạo hàng hoá cho thịtrường mở, làm cho thị trường sôi động, tăng tính hấp dẫn Thông qua hìnhthức này tác động đến vốn khả dụng của các NHTM, lãi suất thị trường vàhiệu quả của CSTT.
Ba là, đối tác tham gia giao dịch không nhất thiết chỉ là các TCTD Tùy
theo mức độ phát triển của thị trường mà các đối tác có thể mở rộng sang cáccông ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các doanh nghiệp khác Khi đối táctham gia giao dịch NVTTM càng đa dạng thì khả năng điều tiết tiền tệ và thựcthi CSTT qua NVTTM càng trở nên linh hoạt và hiệu quả
Bốn là, để tăng tính linh hoạt trong điều chỉnh của NHTW trên thị
trường mở, ở các nước sử dụng các giao dịch mua đi bán lại (kỳ hạn) đềuđược sử dụng tham gia phổ biến hơn mua bán hẳn Các thời hạn của giao dịchmua bán lại thường hết sức đa dạng
Năm là, thời hạn cho một giao dịch có kỳ hạn của các nước thường là
rất ngắn như giao dịch qua đêm, có thời hạn từ 1 đến 7 ngày, hay các giaodịch có thời gian dài hơn nhưng không được sử dụng thường xuyên bằngcác giao dịch có thời gian ngắn hạn Qua đó, giúp cho NHTW có thể pháthuy được tính chủ động linh hoạt trong điều tiết thị trường tiền tệ và điềuhành CSTT Từ đó các TCTD có thể nắm bắt tín hiệu của NHNN để thamgia hoạt động OMO
Sáu là, dự báo và quản lý vốn khả dụng có vai trò quan trọng, quyết
định hiệu quả hoạt động của công cụ NVTTM Vì NHNN đã thực hiện công
cụ TTM để điều tiết vốn khả dụng của các TCTD và tạo điều kiện cho cácTCTD sự dụng linh hoạt GTCG của mình Tuy nhiên tại Việt Nam công tácnày hiện nay vẫn chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức
Bảy là, vấn đề công nghệ thông tin luôn được quan tâm và được coi
như là một tiêu chí đánh giá sự phát triển của NVTTM Việc có công nghệ lạc
Trang 35hậu làm tăng thời gian và chi phí vận hành hoạt động NVTTM, do đó nỗ lựchiện đại hoá công nghệ thông tin và các phần mềm nghiệp vụ chuyên sâu luônphải được liên tục hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và theokịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Cuối cùng, CSTT trong thời gian này tiếp tục thận trọng theo chiềuhướng xem xét tín hiệu chỉ số CPI, lãi suất mục tiêu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đều
là căn cứ quyết định OMO, đồng thời tập trung xử lý thanh khoản của cácNHTM thông qua việc “bom” thêm tiền cho hệ thống bằng các công cụnghiệp vụ TTM của NHNN cùng với sự ổn định tỉ giá VNĐ và tăng dự trữngoại hối Chính phủ vẫn phải tiếp tục thực hiện CSTT và tài khóa phục vụcho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ một phần thị trường để phục hồităng trưởng, củng cố hệ thống NHTM và ưu tiên xử lý vấn đề nợ xấu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chưong 1, luận văn đã đưa ra lý thuyết co bản về nghiệp vụ thịtrường mở và nợ xấu, các thành viên tham gia, các loại hàng hóa tham giatrên TTM, đánh giá so bộ về hiệu quả hoạt động nghiệp vụ TTM, tác độngcủa nợ xấu tăng cao đối với nghiệp vụ TTM Đồng thời chưong này cũng đưa
ra kinh nghiệm hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, cách thức xử lý nợ xấucủa một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ NGHỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỢ XẤU TĂNG CAO
HIỆN NAY 2.1 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ TTM TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1.1 Các văn bản pháp quy về nghiệp vụ TTM
NHNN Việt Nam đã chính thức khai trương nghiệp vụ TTM vào ngày12/07/2000 để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong điều hành CSTT Đây là mộtbước tiến mới trong điều hành CSTT theo hướng sử dụng các công cụ trựctiếp sang công cụ gián tiếp để phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế pháttriển của kinh tế đất nước Nghiệp vụ TTM là công cụ giúp cho NHTW linhhoạt, chủ động tác động đến dự trữ của các TCTD, từ đó tác động đến lượngtiền cung ứng thông qua việc NHNN mua, bán các loại GTCG với các thànhviên của TTM Trong thời gian qua, NVTTM ngày càng phát triển và đạtđược những thành tựu nhất định góp phần thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia,
là công cụ quạn trọng, hữu hiệu trong việc điều hành CSTT Trên cơ sở đó,các văn bản pháp quy tạo cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ TTM hoạt động cũngđược ban hành, chỉnh sửa, đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của thịtrường Những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất tạo nên khuônkhổ pháp lý cho hoạt động NVTTM tại Việt Nam gồm: Luật Ngân hàng Nhànước, Quy chế quản lý vốn khả dụng, Quy chế nghiệp vụ TTM, Quy chế lưu
ký giấy tờ có giá và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác
- Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010:
Theo Điều 10 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chínhsách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt
Trang 37buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy địnhcủa Chính phủ.”
Theo quy định tại Điều 15, Luật NHNN năm 2010: “Ngân hàng Nhànước thực hiện nghiệp vụ TTM thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đốivới tổ chức tín dụng NHNN quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịchthông qua nghiệp vụ TTM”
- Quyết định “bơm” hay “hút” tiền của NHNN ban hành theo quyếtđịnh số 37/2000/QĐ-NHNN1 của Thống đốc NHNN ngày 24/1/2000 thôngqua nghiệp vụ thị trường mở căn cứ vào vốn khả dụng của toàn hệ thống ngânhàng, vì vậy việc quản lý và dự báo vốn khả dụng nhằm phục vụ cho điềuhành hoạt động thị trường mở là vô cùng quan trọng NHTW có nhiệm vụ dựđoán sự biến động nhu cầu vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng cũng nhưnhững nhân tố ảnh hưởng đến nguồn cung ứng, từ đó mà có các quyết địnhchính xác để bơm thêm hay hút bớt vốn khả dụng từ các ngân hàng TheoQuy chế này, Vụ CSTT (NHNN) có trách nhiệm tập hợp số liệu và thông tin
về thu chi ngân sách từ Bộ Tài chính, các số liệu và thông tin từ các đơn vịthuộc NHNN và các nguồn thông tin khác để dự báo vốn khả dụng của cácTCTD tại NHNN, xác định mức vốn khả dụng cần duy trì của các TCTD vàkiến nghị khối lượng GTCG cần mua hoặc bán tại phiên giao dịch củaNVTTM theo kỳ dự báo
- Quy chế nghiệp vụ TTM ban hành kèm theo Quyết định số01/2007/QĐ-NHNN ngày 5/01/2007 của Thống đốc NHNN về việc ban hànhQuy chế nghiệp vụ TTM và Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN ngày30/9/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế nghiệp vụ TTMcho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của NHNN và sự thay đổicủa nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính, tiền tệ nói riêng Bên cạnh đó,
Sở giao dịch đã ban hành quy trình về nghiệp vụ TTM số 7477/QT-NHNN
Trang 38ngày 10/07/2007 và quy trình số 10876/QT-NHNN ngày 12/12/2008 Đặc biệtnăm 2012 Sở giao dịch NHNN có quy trình đấu thầu Tín phiếu kho bạc số5249/QT-NHNN ngày 17/08/2012 và thông tư liên tịch số 106/2012/TTLT-BTC-NHNN ngày 28/06/2012 hỗ trợ cho quá trình thực hiện nghiệp vụ TTMđược hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hơn.
- Quy chế lưu ký GTCG tại NHNN ban hành kèm theo Quyết định số1022/2004/QĐ-NHNN ngày 17/8/2004 Phạm vi điều chỉnh của Quy chế nàyquy định việc lưu ký tại NHNN các loại GTCG được phát hành qua NHNN
và các loại GTCG khác thuộc quyền sở hữu của khách hàng sử dụng để thamgia các nghiệp vụ TTTT bao gồm: cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG,chiết khấu, thấu chi và cho vay qua đêm, thiết lập hạn mức nợ ròng, nghiệp vụTTM giữa NHNN với các TCTD, nghiệp vụ tái chiết khấu, cho vay giữa cácthành viên thị trường đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại NHNN
- Quy định về mã khóa bảo mật của các nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu,trái phiếu và nghiệp vụ TTM ban hành kèm theo Quyết định số 738/2004/QĐ-NHNN ngày 16/6/2004 Theo Quy định này mã khóa bảo mật áp dụng trongcác nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu, trái phiếu và nghiệp vụ TTM trên mạng máytính để kiểm soát truy nhập, xác thực nguồn gốc, bảo mật và kiểm tra tínhtoàn vẹn của dữ liệu giao dịch điện tử dùng trong các nghiệp vụ này
- Quyết định số 87/2007/QĐ-BTC ngày 22/10/2007 cho phép ngânhàng Nhà nước mở tài khoản trực tiếp tại TTLKCK để lưu ký chứng khoán làcác loại giấy tờ có giá thuộc sở hữu của chính Ngân hàng nhà nước và cáckhách hàng lưu ký của ngân hàng Nhà nước nhằm phục vụ cho mục đích giaodịch trên thị trường tiền tệ
- Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 06/01/2010 về danh mục giấy tờ
có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà nước
Trang 392.1.2 Bộ máy tổ chức và điều hành nghiệp vụ Thị trường mở
(1) Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc Phòng Chính sách tiền tệ và Quản lý vốn khả dụng (Vụ chính sách tiền tệ): Cung cấp thông tin và dự báo
vốn khả dụng theo định kỳ để báo cáo Ban điều hành, kiến nghị với Ban điềuhành về khối lượng giấy tờ có giá cần mua, cần bán trong phiên đấu thầu
(2) Ban Điều hành nghiệp vụ TTM: trực tiếp chỉ đạo điều hành hoạt
động nghiệp vụ TTM Ban điều hành có trách nhiệm thay mặt Thống đốcNHNN điều hành hoạt động của nghiệp vụ TTM Ban điều hành được thànhlập theo Quyết định số 87/2000/QĐ-NHNN9 ngày 13/3/2000 của Thống đốcNHNN trong đó:
+ 01 Phó Thống đốc NHNN là trưởng ban
+ Phó trưởng ban thường trực là Vụ trưởng vụ Chính sách tiền tệ
+ 01 Phó trưởng ban là Giám đốc Sở giao dịch
+ Các ủy viên Ban điều hành là đại diện lãnh đạo các Vụ Tín dụng, VụQuản lý Ngoại hối và Sở Giao dịch
+ Thư ký Ban là chuyên viên các Vụ Chính sách tiền tệ và Sở Giao dịch.Ban điều hành có nhiệm vụ: điều hành hoạt động nghiệp vụ TTM theoquy định; phân tích các thông tin về tình hình dự báo vốn khả dụng của các tổchức tín dụng do các đơn vị và chi nhánh của NHNN cung cấp để làm cơ sởcho việc đưa ra các quyết định về nghiệp vụ TTM; quyết định các loại giấy tờ
có giá cần mua, cần bán; lãi suất, thời hạn mua hoặc bán (nếu có); phươngthức xét thầu và các vấn đề liên quan khác; thông báo các thông tin cần thiết
đã được Ban điều hành quyết định cho Giám đốc Sở Giao dịch thực hiện;trình Thống đốc NHNN về mức vốn, nguồn vốn, khối lượng tín phiếu cầnmua hoặc cần bán, lãi suất và thời hạn mua, bán tín phiếu tối đa trong từngthời kỳ
Trang 40Mọi vấn đề từ chủ trương định hướng đến các quyết định cụ thể trongtừng phiên giao dịch hay các sáng kiến cải tiến cơ chế, quy trình kỹ thuật đềuđược Ban điều hành bàn bạc tập thể tại cuộc họp của Ban để đi đến thống nhất
ý kiến Trong trường hợp còn có ý kiến khác được bảo lưu Việc điều hànhnghiệp vụ TTM đã ngày càng mang tính thị trường, các quyết định mua hoặcbán đều được Ban điều hành cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở xem xét tình hìnhvốn khả dụng của hệ thống các TCTD, xu hướng lãi suất thị trường và mụctiêu điều hành CSTT của NHNN
Trong thời gian qua, Ban Điều hành đã chỉ đạo điều hành hoạt độngnghiệp vụ thị trường mở thông suốt, an toàn và hiệu quả, góp phần tích cựctrong việc thực hiện mục tiêu điều hành CSTT của NHNN
(3) Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ (Sở Giao dịch): thực hiện các
quy trình, thủ tục đấu thầu, xét thầu theo quy định của Ban điều hành
(4) Bộ phận đăng kí GTCG (Sở Giao dịch): thực hiện việc đăng kí, tiếp
nhận, bảo quản GTCG cho các thành viên tham gia đấu thầu
(5) Bộ phận thanh toán (Sở Giao dịch): thực hiện việc hạch toán kế
toán, chuyển tiền đối với giao dịch nghiệp vụ TTM
Ngoài ra còn một số phòng ban khác góp phần vận hành hoạt độngnghiệp vụ TTM
- Phòng thị trường và bảo lãnh thuộc vụ Tín dụng thực hiện xây vàhoàn thiện các cơ chế, quy chế cho hoạt động nghiệp vụ TTM
- Phòng Kế toán, phòng Thanh toán điện tử liên ngân hàng thuộc SởGiao dịch thực hiện các nghiệp vụ hạch toán, thanh toán chuyển tiền, lưu kýcác GTCG
- Các phòng Kỹ thuật I, Kỹ thuật II, phòng Thông tin thuộc cục Côngnghệ tin học ngân hàng thực hiện thiết kế cài đặt chương trình phần mềm ứngdụng, trang bị phần cứng, đường truyền kết nối, xử lý các vấn đề kỹ thuậttrong việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở qua mạng