1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN học hợp ĐỒNG dân sự và TRÁCH NHIỆM bồi THƯỜNG THIỆT hại NGOÀI hợp ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN học kỳ

20 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 63,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với hoàn cảnh của vụ án thì không cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn mà phải xử lý theo điều 127 blds 2015: ‘‘Lừa dối trong giao dịch dân sự là hàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG

BUỔI THẢO LUẬN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN: Đặng Lê Phương Uyên

DANH SÁCH NHÓM

Trang 2

MỤC LỤC

Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân TP Tuy Hòa

Câu 1: Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất

Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao? 1

Câu 3: Việc Toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết

Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lần không? Vì sao? 2

VẤN ĐỀ 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VÔ

Tóm tắt Quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/4/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án

2.1 Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 3 2.2 Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản chung hộ gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên của hộ gia đình? 3 2.3 Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng

2.4: Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển

2.5: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015. 4 Tóm tắt Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/3/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân

2.6: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như

2.7: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế

2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự 6 2.8 Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền

Trang 3

VẤN ĐỀ 3: BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CÓ THỜI HẠN 6

Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án nhân

1 Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào? 7

2 Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo

3 Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời? 8

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối cao 8

VẤN ĐỀ 4: GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG DO HOÀN CẢNH KINH TẾ KHÓ KHĂN9

4.1 Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt hại quá

4.2 Trong tình huống nêu trên, việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi

VẤN ĐỀ 5: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY

*Tóm tắt Quyết định số 30/2010/DS-GĐT ngày 22/01/2010 của Tòa dân sự Tòa án

5.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường

5.2 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do

5.3 Tòa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại

5.4 Theo anh chị, ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại? 11 5.5 Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình

5.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân 12

Trang 4

VẤN ĐỀ 6: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY

*Tóm tắt Bán án số 02/2015/HSST ngày 15/4/2015 của TAND tỉnh Phú Yên: 12

1 Những khác biệt cơ bản về thiệt hại được bồi thường khi một cá nhân chết theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và BLDS. 12

2 Hoàn cảnh như trong vụ việc trên có được Luật trách nhiệm bồi thường của

3 Nếu hoàn cảnh như trong vụ án trên xảy ra sau khi BLDS 2015 có hiệu lực, hướng giải quyết có khác hướng giải quyết trong vụ án không? Vì sao? 15

Trang 5

VẤN ĐỀ 1: THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân

TP Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

Nguyên đơn là vợ chồng ông Hà Văn Linh kiện bị đơn là vợ chồng ông Đỗ Kim Thành Vào ngày 29/9/2015, vợ chồng ông Linh có tìm tới mua đất của vợ chồng ông Thành để xây nhà ở, sau khi xem đất và thảo luận đã đặt cọc 50 triệu đồng nhưng sau đó tìm hiểu mới biết phần đất này đã được UBND phường 9 TP Tuy Hòa thông báo thu hồi Ông Linh cho rằng khi giao kết hợp đồng, vợ chồng ông Thành không cung cấp rõ thông tin về lô đất nên dẫn đến khởi kiện tranh chấp đặt cọc Tòa xét thấy nhận định của nguyên đơn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện Tuy nhiên cũng khẳng định rõ các bên đều có lỗi trong việc xác minh thông tin nên không cần bồi thường, chỉ yêu cầu hoàn trả

Câu 1: Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không?

Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên chuyển nhượng Thông tin nằm ở phần [Xét thấy] của Bản án có đoạn: “Vợ chồng ông Thành cho rằng là chủ quyền sử dụng đất nói trên buộc phải biết và đương nhiên phải biết toàn bộ đất mua bán với vợ chồng ông Linh là thuộc đất nông nghiệp cấp theo nghị định 64 và đã được thông báo nằm trong quy hoạch giải tỏa, mặt khác đất này không thuộc đứng tên của vợ chồng ông Thành nhưng đã cung cấp thông tin sai dẫn đến nhầm lẫn”

Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao?

Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin lô đất chuyển nhượng

Tại Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 quy định rằng: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết” Vì trong bản án thì lô đất đã có quyết định thu hồi của Nhà

Nước nhưng ông Thành không nói cho vợ chồng ông Linh nên ông Thành đã vi phạm điểu khoản đã nêu trên.

Câu 3: Việc Toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

có thuyết phục không? Vì sao?

Việc toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là không thuyết phục vì theo khoản 1 điều 126 blds 2015 thì sự nhầm lẫn là do hành vi vô ý của bên kia nhưng trong trường hợp này thì bên bán buộc phải biết hoặc hoặc

Trang 6

đương nhiên biết diện tích đất khi giao dịch mua bán với vợ chồng ông Linh là đất vườn theo nghị định 64 của chính phủ và đã có thông báo thu hồi và đất giao dịch không thuộc sự sở hữu của vợ chồng ông Thành Việc không cung cấp thông thông tin này không phải là hành vi vì lỗi vô ý mà bên bán đã cố tình che dấu thông tin để bên mua có sự nhầm lẫn Hợp đồng được lập do bị lừa dối.

Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử

lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lần không? Vì sao?

Đối với hoàn cảnh của vụ án thì không cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn mà phải xử lý theo điều 127 blds 2015: ‘‘Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó’’

Ở đây việc ông Thành cung cấp thông tin sai sự thật đã làm ông Thành hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng và đã xác lập hợp đồng một cách bất lợi và trái với nguyện vọng của ông Thành

VẤN ĐỀ 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG

VÔ HIỆU

Tóm tắt Quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/4/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: anh Vũ Ngọc Khánh, anh Vũ Ngọc Tuấn, chị Vũ Thị Tường Vy

Bị đơn: ông Trần Thiết Học, bà Đào Thị Mỹ

Ngày 23/02/2010 tại trụ sở Tòa án Nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” Ông Long mất để lại 252,6m2 đất thổ cho bà Dung và các anh Khánh, anh Tuấn, chị Vy Hợp đồng ủy quyền làm thủ tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng của

bà Dung được xác định là không có chữ ký chính chủ của các anh chị Khánh, Tuấn, Vy

Trang 7

Nhận thấy tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng, bà Dung và vợ chồng ông Học biết rõ tài sản chuyển nhượng là tài sản của hộ gia đình, do đó việc ký kết hợp đồng không đúng theo pháp luật nhưng vẫn ký kết dẫn đến hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên các thành viên trong gia đình không có thảo thuận về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền Do đó phần quyền sử dụng, sở hữu của bà Dung đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Học vẫn có hiệu lực

Tòa quyết định chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm, hủy quyết định giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm, hủy bản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật,

2.1 Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trường hợp vô hiệu toàn bộ khi: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do giả tạo; do nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì trong trường hợp này toàn bộ nội dung của hợp đồng bị vô hiệu

Căn cứ pháp lý: Điều 123 đến Điều 129 BLDS 2015

Trường hợp vô hiệu từng phần khi: Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch VD: cty A va cty B ký kết hợp đồng giao nhận hàng hóa, địa điểm giao hàng tại cảng C nhưng do người giao hàng lại đưa hàng tới cảng D gần đó Trong trường hợp này hợp đồng vô hiệu từng phần do vi phạm về địa điểm giao nhận hàng hoá nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực của những phần khác như (chất lượng sản phẩm, thời gian thực hiện…)

Căn cứ pháp lý: Điều 130 BLDS 2015

2.2 Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản chung hộ gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên của hộ gia đình?

Trong đoạn [2] của Quyết định số 22 cho thấy đã có việc chuyển nhượng tài sản

chung hộ gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả thành viên của hộ gia đình: “Hợp đồng ủy quyền được Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh chứng thực ngày 27/7/2011 thể hiện các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy cùng ủy quyền chi bà Dung được làm thủ tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tổ 2, khu phố Ninh Thành, nhưng các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy không thừa nhận ký vào hợp đồng ủy quyền nêu trên Bà Dung cho rằng chữ ký của các bên ủy quyền không phải do các anh chị Khánh, Tuấn Vy ký, ai ký bà Dung không biết.”

Trang 8

2.3 Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần?

Đoạn trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng

chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần: “Theo đó, phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của bà Dung đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Học nếu đúng quy định của pháp luật thì có hiệu lực Còn phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của các anh, chị Khánh, Tuấn,

Vy là vô hiệu theo Điều 135 Bộ luật Dân sự năm 2005”.

2.4: Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần

Việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần là hợp lý Vì tài sản đang tranh chấp trên là bất động sản thuộc sở hữu của hộ gia đình Theo quy định của pháp luật, khi tài sản của hộ gia đình là bất động sản phải được sự đồng ý của các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự của hộ gia đình Theo

đó, ta có thể thấy mỗi thành viên của hộ gia đình đều có phần quyền của mình trong khối tài sản của hộ gia đình Việc HĐTP dựa vào các quy định về sở hữu chung và quy định của Điều 135 BLDS 2005 là hợp lý Việc vô hiệu một phần ở đây vừa đảm bảo phần quyền của bà Dung trong thửa đất của hộ gia đình vừa không làm ảnh hưởng đến phần quyền của các thành viên khác trong hộ gia đình

2.5: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.

Cơ sở pháp lý:

Điều 137 BLDS 2005 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu :

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận ; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được

bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.” Điều 131 BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu :

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả:

3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó

4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường

Trang 9

5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Theo đó, Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS

2015 như sau:

Thứ nhất, về chế định liên quan đến hoa lợi, lợi tức Nếu Khoản 2 Điều 137

BLDS 2005 theo hướng hoa lợi và lợi tức là vấn đề “khôi phục lại tình trạng ban đầu” thì BLDS 2015 tách vấn đề hoa lợi, lợi tức ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu sang hẳn một khoản riêng là khoản 3; đặt vấn đề hoa lợi, lợi tức ngang bằng với nghĩa vụ “khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận” Thay đổi này giúp khắc phục được hạn chế của BLDS 2005, đảm bảo công bằng cho bên hưởng hoa lợi, lợi tứcvì hoa lợi, lợi tức hoàn toàn có thể phát sinh sau khi giao dịch được xác lập và vấn đề khôi phục lại thế nào với hoa lợi, lợi tức không còn tình trạng ban đầu

Thứ hai, BLDS 2005 quy định theo hướng hoa lợi, lợi tức không phải trả

lại trong trường hợp “bị tịch thu theo quy định của pháp luật” Nghĩa là khi pháp luật có yêu cầu tịch thu hoa lợi, lợi tức thu được thì người thu được phải nộp cho Nhà nước thay

vì hoàn trả cho bên kia Qua BLDS 2015 có sự thay đổi ở chỗ “bên ngay tình” thì “không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”, tức là những người ngay tình vẫn sẽ sở hữu hoa lợi, lợi tức thu được mà không phải hoàn trả cho người có quyền liên quan Ta thấy quy định mới này đã đặt ra vấn đề bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên ngay tình

Thứ ba, BLDS 2015 đã có quy định thêm tại Khoản 5 là “Việc giải quyết

hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định” Việc bổ sung mới này Phù hợp với những quy định pháp luật hiện hành có liên quan làm đầy đủ hơn trách nhiệm pháp lý của các bên gây ra thiệt hại, đồng thời bảo vệ một cách tối đa nhất lợi ích của những người bị xâm phạm đến các quyền nhân thân

Tóm tắt Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/3/2011 của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao.

Vợ chồng ông Lộc chuyển nhượng cho ông Vinh một thửa đất Tuy nhiên, thửa đất trên không được phép chuyển nhượng và ông Vinh đã trả cho v/c ông Lộc số tiền tương ứng với 45% giá trị thửa đất trong thỏa thuận Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã vô hiệu hợp đồng trên và buộc vợ chồng ông Lộc bồi thường ½ giá trị thửa đất theo giá thị trường Tòa Giám đốc thẩm nhận định việc vô hiệu hợp đồng của tòa ST và PT là hợp lý Tuy nhiên, về phần bồi thường thiệt hại, Tòa GĐT cho rằng do cả hai đều có lỗi và ông Vinh chỉ mới thanh toán 45% giá trị thửa đất nên ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại

là ½ chênh lệch giá của 45% giá trị của thửa đất theo giá thị trường Tòa GĐT trên cơ sở quy định pháp luật, quyết định hủy hai bản án ST và PT

2.6: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào?

Trang 10

Trong Quyết định số 319, Toà giám đốc thẩm xác định lỗi của các bên như sau: Nguyên đơn là ông Vinh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thanh toán đợt 2 đúng hạn theo thoả thuận hai bên Ông Vinh thừa nhận ngày 17/3/2007 ( ngày đến hạn trả tiền đợt 2) đến gặp vợ chồng ông Lộc nhưng không mang theo tiền Ông Vinh mới trả được cho ông Lộc được 45.000.000 đồng bằng 45% giá trị thửa đất hai bên đã thoả thuận cho hợp đồng

Phía bị đơn là ông Lộc, bà Lan không giao sổ đỏ theo thoả thuận hợp đồng Ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền đợt 2 sẽ giao “sổ đỏ” cho ông Vinh, tuy nhiên sau đó ông Vinh cũng không giao tiền tiếp cho ông Lộc và ông Lộc cũng không giao giấy chứng nhận quyền suwrr dụng đất cho ông Vinh

2.7: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế nào?

Trong Quyết định số 319, Toà dân sự cho biết ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là 12 chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường

2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự

Hướng giải quyết của Toà án là hoàn toàn hợp lý Trong vụ việc xác định hai bên cùng có lỗi và khi thực hiện hợp đồng chỉ thanh toán được một phần giá trị hợp đồng thì theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/0/2004 của Hội đồng thẩm phán liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất “thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác nếu có.”

2.8 Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường ½ mức chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường, tức là ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền cụ thể là: 45% x ½ x (333.550.000 – 100.000.000) = 52.548.000 đồng

Theo Toà dân sự cho rằng ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là ½ mức chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường bởi vì ông chỉ mới trả được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất 100.000.000 đồng tức là mới trả 45% giá trị thửa đất, cả hai bên cùng có lỗi khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

VẤN ĐỀ 3: BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CÓ THỜI HẠN

Ngày đăng: 21/04/2022, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w