1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình pháp luật một số quốc gia và kinh nghiệm cho việt nam

54 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 93,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đã thể hiện sự quan tâm chung của cảcộng đồng quốc tế trong vấn đề bình đẳng và phòng, chống bạo lực gia đình.Ở nước ta, vấn đề phòng chống bạo lực gia đình cũng được thể hiện trong các

Trang 1

Giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình: Pháp luật một số quốc gia và kinh

nghiệm cho Việt Nam Danh mục các chữ viết tắt

BLHS: Bộ luật hình sự

VHTTDL: Văn hóa thể thao du lịch

UNFPA: Qũy dân số liên hợp quốc

BLGĐ: Bạo lực gia đình

ABS (Australian Bureau of Statistics): Cục thống kê Úc

FVSN (Family violence safety notices): Giấy thông báo an toàn

FVPA (Family Violence Protection Act): Đạo luật bảo vệ bảo lực gia đình ở ÚcDAPN (Domestic Abuse Protection Notices): Lệnh ca thiệp tạm thời ở Anh

DAPO (Domestic Abuse Protection Order): Lệnh can thiệp chính thức ở Anh

BPO (Banragay Protection Order): Lệnh bảo vệ ở làng ở Philippiens

TPO (Temporary Protection Order): Lệnh bảo vệ tạm thời ở Philippines

PPO (Personal Protection Order): Lệnh bảo vệ chính thức ở Philippines

WMP (Women and Men Progressive Movement Foundation): Quỹ Phong trào tiến bộ nam giới và phụ nữ Thái-lan

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều vấn đề phát sinh, nó không chỉ gây ra sự nhức nhốicho cơ quan nhà nước mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người, xã hội và mộttrong những vấn đề đáng báo động hiện nay là bạo lực gia đình Bạo lực gia đình làvấn đề mang tính toàn cầu, nhân loại gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho conngười, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em Bạo lực gia đình đang trở thành vấn đề phổbiến, là biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người lớn

và trẻ em trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến danh dự,nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của phụ nữ và trẻ em, làm suy giảm chất lượng cuộcsống nói chung Bạo lực gia đình đã và đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳngtrong xã hội, là lực cản trên con đường xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại Trongnhiều năm qua, sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của bạo lực gia đình là mối quantâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, đặc biệt, tổ chức Liên hiệp quốc đãthông qua Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về xóa bỏ tất cả các

Trang 2

hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ đã thể hiện sự quan tâm chung của cảcộng đồng quốc tế trong vấn đề bình đẳng và phòng, chống bạo lực gia đình.

Ở nước ta, vấn đề phòng chống bạo lực gia đình cũng được thể hiện trong các văn bảnquy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, theo đó đều coi bạo lực gia đình là hành

vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự

và nhân phẩm của con người, cụ thể: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới Nhữngvăn bản pháp luật nêu trên và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quantrọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và xử lýcác hành vi bạo lực gia đình

Dù vậy, thực tiễn pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn nhiều hạn chế, bất cập:bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; địnhkiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề trong đời sống xã hội; bạolực gia đình vẫn diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức tinh vi gây ảnh hưởng tới giađình – tế bào xã hội Thực trạng bạo lực gia đình diễn ra từ việc thực thi pháp luậtphòng chống bạo lực gia đình chưa đầy đủ và thiếu hiệu quả

Thế nên, chúng ta cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, nghiêm túc vềnhững nguyên nhân phát sinh hành vi bạo lực gia đình, những hậu quả mà hành vi đómang lại cùng những tác động của nó tới đời sống gia đình nói riêng cũng như ảnhhưởng tiêu cực tới xã hội nói chung Cùng với đó, việc nghiên cứu những quy địnhpháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề hết sức cần thiết đểđánh giá toàn diện mức độ điều chỉnh, tác động của pháp luật hiện hành đối với cácquan hệ xã hội có liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình

Từ những lí do trên, nhóm của em quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình: Pháp luật một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận vềpháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay và đánh giá thực trạng bạo lực giađình của các quốc gia trên thế giới, từ đó đề xuất những giải pháp, kinh nghiệm chopháp luật Việt Nam về phòng chống bạo lực gia đình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình củanước Anh, nước Úc, nước Philippines, nước Thái Lan

- Phân tích tình hình bạo lực gia đình và thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lựcgia đình của nước Anh, nước Úc, nước Philippines, nước Thái Lan

- Rút ra những kinh nghiệm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thựchiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 3

Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, giải pháp phòng, chống bạo lực giađình của nước Anh, nước Úc, nước Philippines và nước Thái Lan để từ đó đúc kếtnhững kinh nghiệm giúp hoàn thiện chế định pháp luật về phòng, chống bạo lực giađình, của nước ta hiện nay.

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài tiểu luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủnghĩa Mác – Lê nin trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, tổnghợp, diễn giải, quy nạp, phân tích, so sánh và làm rõ các vấn đề khoa học cần nghiêncứu

6 Tình hình nghiên cứu

Bạo lực gia đình không còn là đề tài còn quá xa lạ, mới mẻ mà là hiện tượng xã hội cótính lịch sử và phổ biến trên thế giới Bạo lực gia đình nhận được sự quan tâm nghiêncứu mạnh mẽ của nhiều tác giả Một số công trình nghiên cứu, tiêu biểu:

Luận văn, bài nghiên cứu khoa học

- TS Bùi Thị Mừng- giảng viên khoa Luật HNGĐ Đại học Luật Hà Nội (2021), Phápluật một số nước châu Á về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình và bài học kinhnghiệm cho Việt Nam

- TS Bùi Thị Mừng (2018), Bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình

- TS Bùi Thị Mừng (2018), Thực tiễn bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình

- Ths Pham Thị Đam- giảng viên khoa lý luận chính trị- pháp luật trường Đại học

Công Nghiệp Hà Nội (2017), Hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam

- ThS Nguyễn Lan Anh - giảng viên Đại Học Ngoại Thương bộ môn Luật khoa Quản

trị kinh doạnh (2019), Các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và chồng theo pháp luật Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội xuất bản

- Nguyễn Thị Hồng Thủy (2015), Bạo lực gia đình và những hệ quả xã hội của nó, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến.

Hội thảo khoa học

- Hội thảo khoa học "10 năm thi hành Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), Luật phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp" do Bộ Văn hóa, Thể thao và

- Hội thảo tham vấn “Dự thảo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2021)”, do Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thựchiện

Trang 4

7 Cấu trúc bài tiểu luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bàitiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát phòng, chống bạo lực gia đình.

Chương 2: Qui đinh của pháp luật nước ngoài về bạo lực gia đình.

Chương 3: Một số nội dung có thể chọn lọc và vận dụng cho Việt Nam.

Chương I: Khái quát về phòng chống bạo lực gia đình

1 Bạo lực gia đình được hiểu như thế nào?

1.1 Bạo lực gia đình là gì?

Bạo lực được hiểu là “dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” Khái niệmnày dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế, bạo lựcđược coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung Các mốiquan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phúđược chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìnthấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, trẻ em…

Và Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 cũng đã nêu: “2 Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.”.

1.2 Các hình thức của Bạo lực gia đình:

Hiện nay hành vi bạo hành gia đình được chia làm 4 nhóm chính :

Nhóm 1 – nhóm hành vi bạo lực tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi

cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thườngxuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ vàchồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình rakhỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tựnguyện, tiến bộ,…

Nhóm 2 – nhóm hành vi bạo lực thể chất: bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánhđập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng của người khác

Nhóm 3 – nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm hành vi chiếm đoạt, huỷ hoại,đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên kháctrong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viêngia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soátthu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính

Nhóm 4 – nhóm hành vi bạo lực về tình dục: chẳng hạn như các hành vi cưỡng épquan hệ tình dục trái ý muốn

1.3 Một số hành vi Bạo lực gia đình thường xảy ra trong thực tế:

Trang 5

Căn cứ vào hành vi bạo lực gia đình được liệt kê tại Điều 2 của Luật Phòng, chốngbạo lực gia đình năm 2007, có cụ thể hóa ra những hành vi bạo lực gia đình thườngxảy ra trên thực tế như sau:

- Dùng vũ lực hành hung, đánh đập gây thiệt hại tới tính mạng hoặc sức khỏe chothành viên gia đình

- Hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình, bao gồm:

+ Thường xuyên gây tổn hại về sức khỏe, gây tổn thương về tinh thần đối với thànhviên gia đình; Đối sử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắtchịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân, giam hãm ở nơi có môitrường độc hại, nguy hiểm; Thường xuyên dọa nạt thành viên gia đình bằng các hìnhảnh, con vật, đồ vật mà người đó sợ; Ép buộc thành viên gia đình thực hiện hành vitrái pháp luật; Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật,phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ; Nuôi các con vật, trồng các loại cây gây hại chosức khỏe của thành viên gia đình tại nơi ở của thành viên đó; Ép buộc thành viên giađình phải xem, nghe, đọc những văn hóa phẩm đồi trụy, kinh dị; Ép buộc thành viêngia đình bán dâm;

- Cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình, có thể bao gồm:+ Lăng mạ, chửi bới, chì chiết thành viên gia đình; Tiết lộ hoặc phát tan tư liệu thuộc

bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Cưỡng épthành viên gia đình lột bỏ quần áo trước mặt nhiều người hoặc nơi công cộng; Phát tờrơi hoặc sử dụng các phương tiện thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viêngia đình; Phổ biến, phát tán bài viết, hình ảnh, âm thanh về vụ bạo lực gia đình nhằmxúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý, có thể bao gồm:

+ Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ ngườithân, bạn bè hoặc các mối quan hệ xã hội khác nhằm cô lập thành viên đó; Không chothành viên gia đình thực hiện quyền làm việc; Không cho thành viên gia đình đọcsách, báo, xem ti vi, nghe đài hoặc tiếp cận với thông tin đại chúng hàng ngày;Thường xuyên đòi hỏi thành viên gia đình đáp ứng yêu cầu vượt quá khả năng củathành viên gia đình đó Đe dọa tự gây thương tích cho mình hoặc tự gây thương tíchcho mình để đòi hỏi thành viên gia đình đáp ứng yêu cầu của mình; Buộc thành viêngia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực của người có hành vi bạo lực với thành viên giađình khác, người khác hoặc các con vật; Thường xuyên theo dõi thành viên gia đình vì

lý do ghen tuông; Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợppháp, lành mạnh hoặc có hành vi gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thànhviên gia đình

- Bạo lực liên quan tới tình dục, bao gồm:

+ Cưỡng ép quan hệ tình dục; có hành vi bạo lực trong sinh hoạt tình dục vợ chồng

mà người vợ hoặc chồng đó không muốn; Buộc thành viên gia đình phải chứng kiếncảnh sinh hoạt tình dục của người có hành vi bạo lực với người khác; Buộc vợ hoặcchồng của người có hành vi bạo lực sống chung một nhà hoặc ngủ chung phòng vớingười tình của người có hành vi bạo lực và người có hành vi bạo lực; Cưỡng ép thành

Trang 6

viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục; Cóhành vi tác động vào cơ thể thành viên gia đình không phải là vợ, chồng nhằm kíchđộng tình dục, hoặc lạm dụng thân thể người đó vì mục đích tình dục;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ khác trong quan hệ gia đình giữa ông, bà

và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau, bao gồm:+ Ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữacha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cản trở người khôngtrực tiếp nuôi con thăm nom con sau khi ly hôn, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chếquyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án;

- Trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con; Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấpdưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bàngoại và cháu theo quy định của pháp luật; Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấpdưỡng cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của phápluật

- Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếptinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác; Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hônnhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách củacải hoặc bằng thủ đoạn khác

- Bạo lực về kinh tế, bao gồm:

+ Không cho thành viên gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng;Kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của thành viên gia đình hoặc nguồn tài chínhchung của gia đình nhằm tạo ra cho thành viên gia đình sự phụ thuộc về tài chính;Buộc thành viên gia đình đóng góp tài chính quá khả năng của họ; Đập phó tài sảnriêng của mình nhằm gây áp lực về tâm lý đối với thành viên gia đình; Chiếm đoạt tàisản riêng của thành viên gia đình; Dùng tài sản chung của gia đình tham gia các giaodịch dân sự vì lợi ích cá nhân mà không được sự đồng ý của các thành viên đã thànhniên trong gia đình Ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việcnăng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại hoặc làm những công việc khác tráivới quy định của pháp luật về lao động; Ép buộc thành viên gia đình đi ăn xin hoặclang thang kiếm sống;

- Buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ trái pháp luật;

+ Đe dọa để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ; Buộc thành viêngia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ vào ban đêm hoặc lúc trời mưa, bão, gió rét;Thực hiện các hành vi nhằm tạo ra tình trạng khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày đểbuộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

2 Nguyên nhân và hậu quả của Bạo lực gia đình:

2.1 Nguyên nhân:

Bạo lực gia đình xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Các nghiên cứu khác nhautuy có đưa ra những điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, nhưngnhìn chung các nghiên cứu này đều thống nhất chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản nhưsau:

Trang 7

- Bất bình đẳng giới là nguyên nhân gốc rễ gây ra bạo lực nam/chồng đối vớinữ/người vợ trong gia đình Trong gia đình, người phụ nữ có vị thế và quyền lựckhông ngang bằng với nam giới, không có quyền tham gia vào các quyết địnhtrong gia đình, khiến họ dễ bị bạo lực do nam giới gây ra Trẻ em khi chứng kiếnbạo lực gia đình tạo thành tâm lý cam chịu khi lớn lên và vô tình hình thành suynghĩ cho rằng bạo hành gia đình như một biện pháp cần thiết để giải quyết mâuthuẫn gia đình Và sau này lớn lên không tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực và lặplại những hành vi của người lớn Nhiều người với trình độ nhận thức và sự hiểubiết về pháp luật còn thấp nên cho rằng cha mẹ có quyền đánh đập, chửi mắng concái, chồng có quyền đánh vợ… Nhiều phụ nữ, người già cũng không nhận thứcđược đầy đủ quyền của mình nên không dám đấu tranh mà cam chịu bạo lực Ngay

cả những gia đình mà thành viên có trình độ học vấn cao, am hiểu về pháp luật thìbạo lực gia đình cũng vẫn xảy ra

- Khó khăn về kinh tế cũng là một trong những nguyên nhân có thể dẫn tới bạo lựcgia đình vì khó khăn về kinh tế thường tạo ra các áp lực, căng thẳng, bế tắc đối vớithành viên gia đình và do đó dễ dẫn tới các mâu thuẫn, tranh chấp nếu không biếtcách xử lý phù hợp có thể gây nên bạo lực gia đình Tuy nhiên không phải cứ cókhó khăn về kinh tế là nhất thiết phải có bạo lực gia đình Thực tế cho thấy nhiềugia đình có mức sống, thu nhập thấp nhưng gia đình vẫn hòa thuận và ngược lại cónhững gia đình khá giả nhưng bạo lực vẫn xảy ra

- Các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…là những nguyênnhân trực tiếp dẫn tới bạo lực gia đình.Thống kê cho thấy 60% nạn bạo hành giađình xảy ra sau khi người chồng uống rượu hay dùng các chất kích thích Các chấtkích thích làm giảm sự kiềm chế cũng như nhận thức của bản thân phán đoán đúngsai từ đó dẫn đến trạng thái dễ nóng nảy, cau có khó chịu Lúc đó, chuyện nhỏcũng hóa thành chuyện lớn và các thành viên trong gia đình dễ dàng xung đột vớinhau hơn

- Sự quan tâm của cộng đồng tới phòng, chống bạo lực gia đình còn chưa đầy đủ.Cộng đồng và các gia đình vẫn coi bạo lực gia đình là vấn đề riêng tư trong mỗigia đình và người ngoài không nên can thiệp Chính vì vậy, phản ứng của cộngđồng đối với các hành vi bạo lực gia đình còn thờ ơ, chưa mạnh mẽ Việc phòngngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình còn chưa kịp thời,nghiêm minh, vì thế bạo lực vẫn tiếp tục xảy ra mà không bị ngăn chặn

- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cònhạn chế Trình độ nhận thức và sự hiểu biết về pháp luật trong một bộ phận ngườidân còn thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình vẫn còn tiếptục xảy ra Nhiều người do thiếu hiểu biết về pháp luật nên cho rằng cha mẹ cóquyền đánh đập, chửi mắng con cái, chồng có quyền đánh vợ… Nhiều phụ nữ,người già cũng không nhận thức được đầy đủ quyền của mình nên không dám đấutranh mà cam chịu bạo lực Tuy nhiên, cũng giống như nguyên nhân về kinh tế,bạo lực gia đình cũng vẫn xảy ra ở cả những gia đình mà thành viên có trình độhọc vấn cao, am hiểu về pháp luật

2.2 Hậu quả:

Bạo lực gia đình luôn để lại những hậu quả nghiêm trọng về cả thể xác lẫn tinh thầncho nạn nhân, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em:

Trang 8

- Đối với chính nạn nhân: Bạo lực gia đình gây thiệt hại về thể chất lẫn tinh thầncho nạn nhân Các hành vi đánh đập, dùng vũ lực hay bạo hành tình dục khôngtránh khỏi sức khỏe bị hủy hoại, thương tích đau đớn, có thể bị khuyết tật suốtđời, thậm chí dẫn đến tử vong Ngoài ra, bạo hành gia đình gây ám ảnh về tinhthần, luôn chán nản, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, trầm cảm;cảm thấy cuộc sống nặng nề, căng thẳng và tuyệt vọng.

- Đối với trẻ em: Bạo lực trẻ em trong gia đình ảnh hưởng trực tiếp tới quá trìnhphát triển thể chất và trí tuệ đối với trẻ., những vụ bảo hành trẻ em ngày càngtăng Khi chứng kiến bạo lực gia đình, trẻ sẽ trong tình trạng căng thẳng, sợ hại,tâm lý tiêu cực, thiếu tập trung và không có khả năng chơi tích cực, lẩn tránh cácmối quan hệ với các bạn cùng lứa tuổi, có xu hướng kép kín với mọi người xungquanh Tuy nhiên, nhiều trẻ lại theo chiều hướng thích gây rối ,bỏ học, phạm tội,uống rượu, hút thuốc lá và nghiện ma túy và học theo hành vi của người lớn bạolực lại người khác; thiếu tin tưởng vào người lớn; bỏ đi khỏi nhà; có thể có cáchành vi bạo lực như người lớn; chán nản và có ý nghĩ tự tử; thậm chí tự tử

- Đối với người gây bạo lực gia đình: Bạo lực gia đình không chỉ gây thiệt hại chonạn nhân mà ngay cả người gây bạo lực cũng phải trả một cái giá khá đắt Chínhhành vi của mình, người gây bạo lực đang tự phá hỏng mối quan hệ vợ và chồng,cha mẹ với con cái, ông bà với cháu, anh chị em trong gia đình Không ai khác,

họ lại cảm thấy cô đơn ngay trong chính gia đình của mình Với hành vi bạo lựcgia đình, người này phải đóng tiền nộp phạt vi phạm hành chính cho hành vi saitrái của mình khi gây ra bạo lực gia đình với người thân trong gia đình Và cóthể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng với nạn nhân

- Đối với gia đình: Bạo lực gia đình là nguyên nhân dẫn tới li thân, li hôn và tan

vỡ bao gia đình Tốn tiền chữa trị và phục hồi sức khỏe thể chất và sức khỏe tinhthần cho nạn nhân và người chứng kiến bạo lực gia đình Giảm thời gian và năngsuất lao động từ đó giảm thu nhập gia đình Không có khả năng làm tròn bổnphận với gia đình nội, ngoại

- Đối với xã hội: Khi bạo lực gia đình tác động tới nạn nhân lẫn người gây bạo lực

sẽ giảm sự đóng góp của họ tới xã hội Tạo ra lực lượng lao động tương lai cósức khỏe thể chất và tinh thần yếu, thiếu sáng tạo, thiếu sự chủ động Nếu không

xử lý triệt để, xã hội sẽ chấp nhận và dung túng cho bạo lực gia đình

3 Tình trạng và những con số về Bạo lực gia đình ở Việt Nam.

Hiện nay, mỗi cơ quan, tổ chức có cách tổng hợp theo đối tượng và chức năng, nhiệm

vụ của cơ quan, tổ chức nhưng chưa có sự chia sẻ số liệu giữa các ngành dẫn đến sự

rời rạc và không thể khái quát được số liệu chung cho tình hình Bạo lực gia đình ở

nước ta hiện nay Ví dụ, các cơ quan như: Tòa án, Công an, Y tế, Ủy ban nhân dân(thông qua ngành VHTTDL), Tư pháp cùng tổng hợp, báo cáo Song, có những vụbạo lực chỉ có 1 hoặc 2 hoặc 3 trong số 5 cơ quan nêu trên tổng hợp Thực trạng nàydẫn đến sự trùng lặp số liệu rất lớn giữa các ngành Bên cạnh đó, các số liệu của 5 cơquan nêu trên có thể chỉ phản ánh được về bề nổi Tổng hợp số liệu từ các cuộc điều

tra về Bạo lực gia đình trong những năm gần đây cho thấy, có 30% số hộ gia đình

tham gia trả lời cho biết trong 12 tháng gia đình họ đã xảy ra ít nhất một hành vi được

xác định là hành vi Bạo lực gia đình (theo quy định của Luật Phòng chống Bạo lực gia đình ).

Trang 9

Tổng hợp báo cáo số liệu về vụ Bạo lực gia đình từ các Sở VHTTDL/Văn hóa và Thể thao từ năm 2009 đến 2017 cho thấy, tổng số vụ Bạo lực gia đình các địa phương đã

phát hiện, tổng hợp báo cáo là 292.268 vụ, tính trung bình mỗi năm tổng hợp được36.534 vụ bạo lực Tuy nhiên, xem xét theo số vụ diễn biến qua các năm thì năm sau

thấp hơn năm trước Nếu như số vụ Bạo lực gia đình được tổng hợp năm 2009 là

53.206 vụ thì vào năm 2019 chỉ còn 8.176 vụ

Tổng hợp số liệu do Tòa án nhân dân các cấp thực hiện từ ngày 01/7/2008 đến ngày31/7/2018, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 1.422.067 vụ án lyhôn, đã giải quyết 1.384.660 vụ, đạt tỷ lệ 97,4%, còn lại 37.407 vụ đang trong quátrình giải quyết Trong số 1.384.660 vụ án ly hôn Tòa án đã giải quyết, có 1.060.767

vụ xuất phát từ nguyên nhân Bạo lực gia đình như: bị đánh đập, ngược đãi; vợ hoặc

chồng nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; ngoại tình (chiếm 76,6% các vụ án ly hôn).Báo cáo của ngành Tư pháp cho thấy năm 2014 tiếp nhận hòa giải 31.528 vụ việc Bạo

lực gia đình ; năm 2015 là 33.966 vụ; (năm 2016 và 2017 số liệu cung cấp không rõ nên không tách được số vụ hòa giải do Bạo lực gia đình ) So sánh số liệu của 2 cơ

quan trong 2 năm 2014 và 2015 cho thấy diễn biến trái ngược nhau, thiếu thống nhấtgiữa các cơ quan chức năng dẫn đến khó khăn trong thu thập và báo cáo số liệu vềtình hình Bạo lực gia đình

58% phụ nữ kết hôn đã từng bị bạo hành trong đời; 5% phụ nữ có thai bị bạo hành thểchất; 87% phụ nữ bị chồng bạo hành về thể chất hoặc tình dục không tìm kiếm cácdịch vụ hỗ trợ tư pháp hoặc các dịch vụ hỗ trợ thiết yếu khác; Phụ nữ có chồng uốngrượu hàng ngày có nguy cơ bị bạo hành gấp 7 lần

Chỉ có 43% số vụ Bạo lực gia đình đã tiết lộ được trình báo cảnh sát; và chỉ có 12%

trong số đó bị cáo buộc hình sự, và 1% trong số này bị kết án Tình trạng kinh tế xã

hội không trực tiếp dẫn tới tình trạng dễ bị tổn thương đối với Bạo lực gia đình hoặc việc gây ra Bạo lực gia đình Tuy nhiên, nó là một trong các yếu tố có ảnh hưởng đến

các tỷ lệ về giáo dục, tiếp cận các dịch vụ; hiểu biết pháp luật Đạt được trình độ giáodục trung học cơ sở là một chỉ số phát triển con người chủ chốt có tác động tích cực

đến tình trạng dễ bị tổn thương đối với Bạo lực gia đình và cả khả năng trẻ em gái thoát khỏi tình trạng bị Bạo lực gia đình

Các tổn thất do Bạo lực gia đình gây ra chiếm trên 3% GDP của Việt Nam Ngoài ra,

những phụ nữ bị bạo hành sẽ có thu nhập ít hơn 35% so với thu nhập của những phụ

nữ không bị bạo hành

4 Cơ sở lý luận về bạo lực gia đình và những vướng mắc bất cập:

4.1 Cơ sở lý luận về bạo lực gia đình trong pháp luật Việt Nam:

- Điều 64 Hiến pháp 1992 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội.

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”

Trang 10

Quy định tại điều này đã thể hiện được pháp luật Việt nam lúc bấy giờ có những cáinhìn khái quát về các nghĩa vụ mà mọi thành viên phải thực hiện trong gia đình để cóthể hạn chế nguyên nhân xảy ra bạo lực Song, những quy định trên vẫn có phầnchung chung, chưa khẳng định được sự bảo vệ của pháp luật đối với những thành viên

bị yếu thế

- Điều 36 Hiến pháp 2013 quy định: “1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2 Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.”

Quy định tại điều này đã được thông qua Dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 2011, bổsung cho điều 64 Hiến pháp 1992 Trong đó, sự tiến bộ rõ nhất nằm ở chỗ việc chophép vợ chồng ly hôn được nằm trong luật tối cao nhất và giữa vợ chồng có sự tôntrọng lẫn nhau Đây cũng có thể xem là một trong những nguyên nhân chính nhất choviệc không thể chấm dứt bạo lực gia đình Trên thực tế, nhiều người phụ nữ vì địnhkiến xã hội và những quan niệm cổ hủ lạc hậu mà không dám ly hôn với những ngườichồng có hành vi bạo lực, thiếu tôn trọng đối với mình Đồng thời, tại khoản 2, phápluật nước ta đã thừa nhận bảo vệ cho những người yếu thế trước trước sự bạo hành,

vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình.”

So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986, Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 đã có quy định cấm đối với các hành vi ngược đãi, hành hạ người thântrong gia đình Điều này tiến bộ hơn là việc chỉ nêu nghĩa vụ của từng người đối vớigia đình mà không có một hình phạt gì cho người không thực hiện nghĩa vụ hoặc cóhành vi bạo lực gia đình của những văn bản luật trước đó Tuy nhiên, so với các địnhnghĩa cũng như phân loại về bạo lực gia đình được nêu ở mục 1, thì quy định này vẫncòn chưa đầy đủ, chưa bao quát hết được những trường hợp bạo lực phi hành độngtrong gia đình

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

+ Điều 4: “1 Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân

Trang 11

và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.

2 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình Các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo sự phân công của Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan khác thực hiện quản lý nhà nước

về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

3 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.”

+ Điểm h Khoản 2 điều 5 cấm hành vi bạo lực gia đình

+ Khoản 2 điều 51: “2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.”

+ Khoản 1 điều 56: “1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành

vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

+ Khoản 5 điều 59: “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

+ Khoản 4 điều 69: “Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”

+ Điều 71: “1 Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Trang 12

2 Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.”

+ Các quy định tại chương VI về quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình baogồm cô, dì, chú, bác,

Từ những quy định trên ta có thể thấy, so với Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, thìLuật năm 2014 quy định rõ ràng hơn, đặc biệt là về những hình thức khác nhau củabạo lực gia đình, từ đó có thể lường trước được những nguy cơ nảy sinh bạo lực giađình Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có rất nhiều quy định về nghĩa vụ của cácthành viên đối với gia đình, trên cơ sở quan trọng nhất là giữa các thành viên đặc biệt

là giữa vợ chồng phải có sự tôn trọng nhau Nghĩa vụ của những thành viên khác nhưông bà, họ hàng cũng được quy được quy định cụ thể hơn Thêm vào đó, văn bản luậtnày còn khẳng định sự bảo vệ và quan tâm của Nhà nước về hôn nhân và gia đình.Tuy nhiên, các điều khoản này chủ yếu là dưới hình thức quy định, không mang tínhrăn đe cao, không nói lên được nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ sẽ bị xử phạt nhưthế nào

- Điều 151 Bộ luật hình sự 1999: “Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha

mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”

Bộ luật hình sự 1999 đưa ra chế tài cho những người có hành vi bạo lực gia đình, tuynhiên mức độ nghiêm trọng của hành vi ngược đãi chưa được khai thác rõ, vì bạo lực

có thể gây ra thương tích về thể xác lẫn tinh thần, và các chế tài phải được đóng khungphù hợp với những mức độ hậu quả tương ứng Điều đó dẫn đến những sửa đổi, bổsung của Bộ luật hình sự 2015 sau đây

- Điều 185 Bộ luật hình sự 2015: “

1 Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha

mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.”

Tiến bộ hơn so với Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2015 đã đưa ra các chế tài

cụ thể cho từng mức độ hậu quả do bạo lực gia đình gây ra Bộ luật còn có xu hướngbảo vệ cho nạn nhân là những người yếu thế (phụ nữ đang mang thai, trẻ em, ngườigià,…), hoặc những người hay bị gia đình ruồng bỏ, tách họ ra khỏi những nạn nhân

Trang 13

thông thường Tuy chưa thực sự sát với thực tế nhưng điều này đã góp phần khôngnhỏ đến thực tiễn giải quyết các vụ việc bạo lực gia đình của Tòa án

- Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007:

+ Chương 1: Những quy định chung gồm 8 điều khoản, quy định chung nhất và khẳngđịnh vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, bao gồm: phạm vi điềuchỉnh, các hành vi bạo lực gia đình, nghĩa vụ và quyền của nạn nhân, nghĩa vụ củangười có hành vi bạo lực gia đình, các chính sách của Nhà nước và các hợp tác quốc

tế về phòng chống bạo lực gia đình; cấm những hành vi xúi giục, bao che cho việc bạolực gia đình

+ Chương 2: Về phòng ngừa bạo lực gia đình bao gồm các mục nhỏ:

Mục 1: Mục đích, nội dung và hình thức của việc tuyên truyền về phòng chống bạolực gia đình

Mục 2: Trách nhiệm của các cơ sở về việc hòa giải những mâu thuẫn có thể gây rabạo lực gia đình

Mục 3: Góp ý, phê bình, tư vấn trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực giađình

+ Chương 3: Bảo vệ hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình:

Mục 1: Các biện pháp bảo vệ các nạn nhân bạo lực gia đình

Mục 2: Các cơ sở đảm bảo việc phòng ngừa bạo lực gia đình

+ Chương 4: Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng chốngbạo lực gia đình

+ Chương 5: Xử lý vi phạm về phòng chống bạo lực gia đình và khiếu nại, tố cáo Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 ra đời như một cột mốc quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức của xã hội về vấn nạn bạo lực gia đình Văn bản Luậtnày nêu rõ những cơ quan có thẩm quyền can thiệp và xử lý bạo lực gia đình, cũngnhư những biện pháp mà Nhà nước đảm bảo thi hành để ngăn chặn bạo lực gia đình.Điểm mới của Luật này đầu tiên là cấm các hành vi xúi giục, bao che cho bạo lực giađình Theo quan niệm lạc hậu gia trưởng thì việc xảy ra bạo lực gia đình là tất yếu vàthể hiện được việc người đàn ông bạo hành là người có quyền lực, đồng thời một sốngười (họ hàng, hàng xóm,…) với tâm lý sợ bị trả thù, liên luỵ nên đã bao che chonhững hành vi bạo lực Vì vậy, đây được xem là một điểm tiến bộ có giá trị to lớn.Hơn hết, tại thời điểm này, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Bộ luật hình sự 2015chưa được ban hành nên khái niệm về phòng chống bạo lực gia đình đối với nhiềungười dân vẫn còn rất mơ hồ, tin rằng những hành vi ngược đãi chỉ bị vi phạm về đạođức và chỉ gây ra tổn thương về thể xác

Trang 14

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan

đến hôn nhân và gia đình.

2 Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

3 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng

biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

4 Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

5 Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.”

+ Ngoài ra còn có các điều luật bổ sung cho việc thực hiện bình đẳng giới nói chung lànhiệm vụ của mọi cá nhân, gia đình và là của các cơ quan, tổ chức; các biện pháp thựchiện và xử lý vi phạm luật bình đẳng giới

Bình đẳng giới là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến bạo lực gia đình, cónghĩa là nếu thực sự muốn ngăn chặn bạo lực gia đình, thì đầu tiên phải đảm bảo bìnhđẳng giới, không chỉ trong gia đình mà còn là ngoài xã hội Sự xuất hiện của luật bìnhđẳng giới càng củng cố hơn cho việc nâng cao nhận thức về phòng chống bạo lực giađình, cụ thể như vợ và chồng đều tham gia xây dựng gia đình, quyền và nghĩa vụ của

họ đối với gia đình đều như nhau Vợ chồng bình đẳng dựa trên sự tôn trọng lẫn nhaumột cách tự nguyện Tương tự như vậy đối với các trẻ em trai và trẻ em gái Cả haiđều có quyền được đi học, chơi, phát triển năng khiếu và được đối xử ngang nhau,nghĩa vụ trong gia đình của con trai và con gái như nhau Ðây là cơ sở quan trọng đểbảo vệ quyền lợi của những trẻ em gái bị đối xử bất bình đẳng và không có sức phảnkháng trong cuộc sống thực tế

- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2006:

+ Khoản 1 điều 5: “ Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan,

tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”.

+ Điều 7: “Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1 Cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;

2 Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi;

3 Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ;

4 Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em;

5 Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hoá phẩm khiêu

Trang 15

dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em;

6 Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác;

7 Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động;

8 Cản trở việc học tập của trẻ em;

9 Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật;

10 Đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gây cháy,

nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em.”

+ Điều 24: “Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng

1 Cha mẹ, người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em; khi gặp khó khăn

tự mình không giải quyết được, có thể yêu cầu và được cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

2 Cha mẹ, người giám hộ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

3 Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm chăm lo chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi.

4 Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con theo quy định của pháp luật.”

+ Điều 26: “Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự

1 Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em.

2 Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị

xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.”

+ Khoản 1 điều 27: Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định

về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em.

+ Khoản 1 điều 28: “ Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.”

+Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự

Trang 16

“1 Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

2 Cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.

3 Trường hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật.”

+ Chương IV: Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em không nơinương tụa bị bỏ rơi, trẻ em làm việc nặng nhọc, trẻ em bị tàn tật, khuyết tật, trẻ em bịxâm hại và vi phạm pháp luật,… là của gia đình và toàn xã hội

Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi xảy ra bạo lực gia đình Luật bảo vệtrẻ em quy định khá rõ ràng và chi tiết về những quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũngnhư người đại diện hay người giám hộ đối với trẻ Đồng thời nêu lên trách nhiệm bảo

vệ trẻ em của cả xã hội và cơ quan Nhà nước, đảm bảo trẻ em được phát triển đầy đủ

về thể chất và tinh thần Thêm vào đó, điểm sáng của Luật này là đề cập đến việc cấm

dụ dỗ sử dụng trẻ em để che đậy các hành vi phạm pháp, đó cũng là một dạng bạo lực

mà người thực hiện là người thân của đứa trẻ

- Luật người cao tuổi:

+ Khoản 3 điều 5: “Gia đình người cao tuổi có trách nhiệm chủ yếu trong việc phụng dưỡng người cao tuổi.”

+ Điều 9: “Cấm

1 Lăng mạ, ngược đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với người cao tuổi.

2 Xâm phạm, cản trở người cao tuổi thực hiện quyền về hôn nhân, quyền về sở hữu tài sản và các quyền hợp pháp khác.

3 Không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi.

4 Lợi dụng việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi để vụ lợi.

5 Ép buộc người cao tuổi lao động hoặc làm những việc trái với quy định của pháp luật.

6 Ép buộc, kích động, xúi giục, giúp người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đối với người cao tuổi

7 Trả thù, đe doạ người giúp đỡ người cao tuổi, người phát hiện, báo tin ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật đối với người cao tuổi.”

+ Điều 10:

“1 Phụng dưỡng người cao tuổi là chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của người cao tuổi.

2 Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi là con, cháu của người cao tuổi và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

3 Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi tùy theo hoàn cảnh cụ thể phải sắp xếp nơi ở phù hợp với điều kiện sức khoẻ, tâm lý của người cao tuổi; chu cấp

Trang 17

về kinh tế; thanh toán chi phí điều trị và chăm sóc y tế động viên khi người cao tuổi

ốm đau; mai táng khi người cao tuổi chết

4 Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi phải cùng nhau hợp tác trong việc phụng dưỡng người cao tuổi

5 Khuyến khích tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này tham gia phụng dưỡng người cao tuổi”

Đối tượng người cao tuổi ở Việt Nam bị bạo hành về thể xác không phổ biến nhưphụ nữ và trẻ em, mà thông thường sẽ bị bỏ mặc hoặc đối xử tệ trong khâu vệ sinh ănuống Họ không chỉ không có sức phản kháng về thể chất mà thậm chí tinh thần họcũng không muốn phản kháng vì luôn nghĩ cho con cháu Luật người cao tuổi khẳngđịnh trách nhiệm của gia đình trong việc phụng dưỡng người cao tuổi, đồng thời cũng

có những quy định tương tự như luật bảo vệ trẻ em để người cao tuổi không bị lợidụng

- Luật người khuyết tật:

+ Điều 8: “Trách nhiệm của gia đình

1 Gia đình có trách nhiệm giáo dục, tạo điều kiện để thành viên gia đình nâng cao nhận thức về vấn đề khuyết tật; thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật.

2 Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm sau đây:

a) Bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật;

b) Tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;

c) Tôn trọng ý kiến của người khuyết tật trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình;

d) Thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.”

+ Điều 14: “Cấm

1 Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật.

2 Xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.

3 Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội.

4 Lợi dụng người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật, hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

5 Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc theo quy định của pháp luật.

6 Cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của người khuyết tật.

7 Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật.”

Trang 18

+ Khoản 3 điều 22 : “Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi

để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh.”

+ Khoản 3 điều 28: “Người khuyết tật, cha, mẹ hoặc người giám hộ người khuyết tật lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với sự phát triển của cá nhân người khuyết tật Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để người khuyết tật được học tập và phát triển theo khả năng của cá nhân.

Nhà nước khuyến khích người khuyết tật tham gia học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập.”

Người khuyết tật cũng là đối tượng hay bị bỏ mặc trong gia đình Tương tự như Luậtngười cao tuổi và Luật bảo vệ trẻ em, Luật người khuyết tật cũng có những quy phạmpháp lý về việc bảo vệ người khuyết tật trước bạo lực từ gia đình theo nhiều cách khácnhau

- Ngoài ra còn có các văn bản luật khác:

+ Chỉ thị số 16 / CT-TTg về việc tổ chức thực hiện Luật phòng chống BLGĐ(30/05/08)

+ Nghị định số 08/2009 / NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật PC BLGĐ (04/02/09)

+ Nghị định số 110/2009 / NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với BLGĐ(10/12/09)

+ Nghị định số 110/2009 / NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với BLGĐ(10/12/09)

+ Nghị định số 110/2009 / NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với BLGĐ(10/12/09)

+ Quyết định số 629 / QĐ-TTg về Chiến lược Quốc gia về Xây dựng Gia đình ViệtNam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (29/05/12)

+ Quyết định số 215 / QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch Hành động quốc giaphòng, chống bạo lực đến năm 2020 (06/02/14) Quyết định số 21 Quy chế phối hợp

đa ngành về Phòng Chống BLGĐ (17/05/16)

4.2 Kết luận:

Nhìn chung, những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bạo lực gia đình ởViệt Nam khá đa dạng, các văn bản luật cũng đưa ra quy định chi tiết về các đối tượng

dễ bị ngược đãi, bạo hành; liên tục được thay đổi, bổ sung để có thể ngăn chặn người

có hành vi bạo lực và bảo vệ nạn nhân một cách tối ưu nhất Tuy nhiên, trong các vănbản trên thì chỉ có BLHS có nêu chế tài của hành vi bạo lực gia đình, tiến bộ hơn cácvăn bản luật khác nhưng chưa cụ thể, rõ ràng lắm Vì vậy, để đưa ra những phươnghướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam thì cần phải tham khảo pháp luật các nướckhác trên thế giới về bạo lực gia đình

Trang 19

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH

TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC

Trên thế giới, vấn đề bạo lực gia đình được xem như là một vấn đề chung cầngiải quyết Nếu như muốn xác định được mức độ phát triển của một quốc gia, chúng

ta thường nhìn vào trình độ phát triển kinh tế và đời sống xã hội Vì thế, tùy vào trình

độ nhận thức về xã hội của người dân, tùy vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội mà chính phủcác nước phải đề ra một số giải pháp triệt để và hợp lý nhất để hạn chế tối đa hiệntrạng này Cũng nhằm mục đích răn đe và cải thiện đời sống xã hội, góp phần xâydựng hình ảnh văn minh của đất nước đó với bạn bè trên thế giới Thật không lạ nếumột đất nước nghèo nàn, lạc hậu như các nước ở khu vực Châu Phi chẳng hạn có một

hệ thống pháp luật yếu kém, và hậu quả là tình trạng bạo lực gia đình diễn ra như mộtvấn nạn khó giải quyết Nhưng nếu nhìn vào những đất nước phát triển hàng đầu thì sẽnhư thế nào? Liệu các quốc gia được xem như thiên đường để sinh sống, phát triển,làm giàu sẽ có những giải pháp nào để gìn giữ sự văn minh, phát triển trong đời sống

xã hội? Ở đây chúng tôi xin lấy ví dụ về một số quốc gia thuộc những khu vực khácnhau, phong tục, truyền thống khác nhau nhưng có một điểm chung là có nền kinh tếhùng mạnh và từ đó xem như bài học để học tập và nghiên cứu pháp luật Việt Nam,

để đóng góp, góp ý vào nền lập pháp nước nhà

2.1 Các điều luật xử lý hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ các nạn nhân của bạo lực gia đình ở Australia

Định nghĩa bạo lực gia đình:

Không có định nghĩa pháp lý thống nhất về bạo lực gia đình giữa các khu vựcpháp lý của Úc Mặc dù luật pháp của tiểu bang, lãnh thổ và liên bang công nhận, theonhững cách khác nhau, rằng bạo lực gia đình có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức và

có thể xảy ra trong nhiều mối quan hệ khác nhau, một đánh giá của Úc xác định rằngcác nhân viên tư pháp có thể không có hiểu biết nhất quán rằng đó là một hình thức vềhành vi liên quan đến việc thủ phạm thực hiện quyền kiểm soát đối với nạn nhân Cóthể hiểu đại khái rằng bạo lực trong gia đình (hay bạo hành trong nhà) là hành vi bạođộng về thể xác hoặc ngược đãi tình cảm giữa người trong gia đình Đây là hình thứckiểm soát mà một người sử dụng để chi phối và kiểm soát người trong gia đình.1

Phần lớn luật pháp của Bang, Vùng lãnh thổ và Khối thịnh vượng chung(Australia) hiện công nhận rằng 'bạo lực' bao gồm lạm dụng hoặc tổn thương về thểchất, tình dục, tình cảm và tâm lý, cũng như hành vi được thiết kế để sử dụng quyềnlực bằng cách hạn chế tiếp cận các nguồn lực tài chính, gia đình và văn hóa và hạn chế

quyền tự chủ xã hội, đôi khi được gọi là kiểm soát cưỡng chế 2

Các bài báo cáo nghiên cứu tại Úc về vấn đề bạo lực đã chỉ ra các hình thứcbạo lực trong gia đình phổ biến, đe dọa hoặc gây nguy hiểm cho nạn nhân, bao gồm:

1 Domestic Abuse Intervention Project, “Power and Control Wheel”,

http://www.theduluthmodel.org/training/wheels.html.

2 Dr Stark’s book, Coercive Control: The Entrapment of Women in Personal Life (Oxford, 2007)

Trang 20

- Bạo lực và tổn hại thể chất

- Lạm dụng tình dục và sinh sản

- Lạm dụng kinh tế

- Lạm dụng tình cảm và tâm lý

- Lạm dụng văn hóa và tinh thần

- Theo dõi, quấy rối và giám sát

và cảm giác an toàn nói chung

Trong những phát hiện của mình, cuộc khảo sát ước tính rằng:

 49% nam giới (4.148.000) và 41% phụ nữ (3.560.600) đã từng trải qua một sốhình thức bạo lực kể từ khi 15 tuổi

phụ nữ có nhiều khả năng bị nam giới tấn công thể xác hơn nam giới trong nhà của họ Ước tính có khoảng 62% phụ nữ so với 8% nam giới đã trải qua

vụ việc gần đây nhất bị nam giới tấn công thân thể tại nhà của họ

 tỷ lệ tương tự của phụ nữ và nam giới (67 và 68%) đã không tiếp xúc với cảnhsát sau vụ việc gần đây nhất của họ bị một nam giới tấn công thể xác

 phụ nữ có nhiều khả năng bị bạn tình bạo lực hơn nam giới — 17% tổng số phụ

nữ và 5% nam giới đã từng bị bạn tình bạo lực từ khi 15 tuổi

 cả nam giới và nữ giới đều có xu hướng bị bạo lực thể xác hơn bạo lực tìnhdục, tuy nhiên, phụ nữ có nhiều khả năng bị tấn công tình dục hơn namgiới Ước tính có khoảng 17% phụ nữ và 4% nam giới đã từng bị tấn công tìnhdục từ khi 15 tuổi

 đàn ông và phụ nữ từng bị tấn công tình dục từ khi 15 tuổi có nhiều khả năng bịtấn công bởi một người mà họ biết hơn là một người lạ Ước tính có khoảng15% phụ nữ từng bị một người quen biết tấn công tình dục so với 4% bị tấncông bởi một người lạ

 phụ nữ có nhiều khả năng bị bạn tình lạm dụng tình cảm hơn từ độ tuổi 15-25%

và 14% tương ứng3

3 For statistics and analysis on emotional abuse see ABS, ‘ Emotional abuse’, Australian Social trends 2014, cat

no 4102.0, ABS, Canberra, 2014, accessed 27 June 2014.

Trang 21

 phụ nữ có nhiều khả năng đã trải qua một giai đoạn rình rập trong suốt cuộc đờicủa họ — 19% phụ nữ và 8% nam giới.4

Phương pháp tiếp cận phòng chống bạo lực gia đình cần phải nghiên cứu và họchỏi từ Australia bao gồm các chiến dịch nâng cao nhận thức và tiếp thị xã hội, phòngngừa cho trẻ nhỏ và dựa vào gia đình, các chương trình tại trường học, huy động cộngđồng, các quy định về miêu tả bạo lực trên các phương tiện truyền thông và đặc biệt là

hệ thống pháp luật liên bang của Australia

Án lệnh Bạo hành trong Gia đình.

Theo chương trình Lệnh Bảo vệ Bạo lực Gia đình Quốc gia, các lệnh bảo vệđược đưa ra tại bất kỳ khu vực tài phán (như Tòa án luật gia đình, tòa án liên bang hayTòa án Tây Úc tương đương) nào của Úc vào hoặc sau ngày 25 tháng 11 năm 2017 sẽ

tự động được công nhận và có hiệu lực trên toàn quốc

Các lệnh bảo vệ được đưa ra trước ngày 25 tháng 11 năm 2017 (ngoại trừ cáclệnh bảo vệ của Victoria và các lệnh bảo vệ của New Zealand đã đăng ký tại Victoria,được công nhận hồi tố) sẽ không được tự động công nhận và có hiệu lực thi hành ởcác khu vực pháp lý khác Tất cả các khu vực pháp lý đều có luật cho phép các lệnhbảo vệ được đưa ra trước ngày 25 tháng 11 năm 2017 được công nhận trên toàn quốcbằng cách 'tuyên bố' là lệnh bảo vệ được công nhận theo chương trình Người đượcbảo vệ có thể nộp đơn lên bất kỳ tòa án địa phương nào ở Úc để xin tuyên bố như vậy

Mặc dù có sự khác biệt về bản chất và phạm vi của luật bạo lực gia đình giữacác Bang và Vùng lãnh thổ của Úc, nhưng tất cả đều có các quy định dành cho một sốtòa án ở mỗi khu vực tài phán để đưa ra các lệnh dân sự (thường là do cảnh sát hoặcmột cá nhân áp dụng) cụ thể để bảo vệ nạn nhân - hoặc những người có nguy cơ - bạolực gia đình xảy ra trong bối cảnh của một loạt các mối quan hệ, bao gồm cả mối quan

hệ giữa những người bạn đời thân thiết hiện tại hoặc trước đây

Các án lệnh sẽ có các loại khác nhau bao gồm:

Giấy thông báo an toàn về bạo hành trong gia đình(FVSN)

Nếu cảnh sát tin rằng nạn bạo hành trong gia đình đang xảy ra, họ có thể traogiấy thông báo an toàn để bảo vệ nạn nhân/người sống sót Cảnh sát sẽ giao (trao) chothủ phạm giấy thông báo an toàn về bạo hành gia đình Giấy thông báo an toàn có hiệulực đến năm (5) ngày làm việc, hoặc cho đến khi tòa có thể phán xét vụ việc Giấythông báo này đặt ra các điều kiện về cách cư xử của thủ phạm, có thể giống y như cácđiều kiện trong án lệnh can thiệp Ví dụ như thủ phạm không được phép có mặt tạinhà, Nếu bị đơn từ chối rời đi hoặc trở về nhà sau khi thông báo về bạo lực gia đình đãđược tống đạt, họ đang vi phạm pháp luật và có thể bị bắt Giấy thông báo này sẽ vẫn

có hiệu lực cho tới ngày ra tòa Tòa án sẽ phán quyết xem có cần cấp án lệnh can thiệphay không

4 C Tarczon and A Quadara, The nature and extent of sexual assault and abuse in Australia, ACSSA resource sheet, December 2012, accessed 2 July 2014.

Trang 22

Án lệnh can thiệp tạm thời

Lệnh can thiệp tạm thời được thiết kế để cung cấp sự bảo vệ khẩn cấp, ngắnhạn cho một thành viên gia đình bị ảnh hưởng Các mệnh lệnh có thể được đưa ra mộtcách phiến diện, mà không cần thông báo cho bị đơn và không cho bị đơn một phiênđiều trần đầy đủ Mục đích là để bảo vệ thành viên gia đình bị hại cho đến khi tòa án

có thể xem xét có đưa ra lệnh can thiệp cuối cùng hay không5 Án lệnh tạm thời sẽ cóghi ngày và liệt kê thủ phạm và nạn nhân/người sống sót được phép tiếp xúc với nhaunhư thế nào Án lệnh này do cảnh sát hoặc nạn nhân/người sống sót nộp đơn xin, vàsau đó được thẩm phán chấp thuận

Cụ thể tại Victoria, theo Đạo luật Bảo vệ Bạo hành Gia đình 2008 quy định về

án lệnh can thiệp tạm thời có một số vấn đề chung giữa lệnh tạm thời và lệnh cuốicùng Những vấn đề này thường được giải quyết chi tiết hơn trong các phần của lệnhcuối cùng

Án lệnh can thiệp tạm thời được nêu rõ tại phần 2 Chương 4 Lệnh can thiệpbạo lực gia đình của Đạo luật Bảo vệ Bạo hành Gia đình 2008, bao gồm:

“(1) Tòa án có thể đưa ra lệnh tạm thời nếu—

(a) một người đã nộp đơn lên tòa án để xin lệnh can thiệp bạo lực gia đình và tòa án, dựa trên xác suất cân bằng, rằng lệnh tạm thời là cần thiết trong khi chờ quyết định cuối cùng về đơn xin—

(i) để đảm bảo sự an toàn của thành viên gia đình bị ảnh hưởng; hoặc

(ii) bảo quản bất kỳ tài sản nào của thành viên gia đình bị ảnh hưởng; hoặc

S 53 (1) (a) (iii) được sửa đổi bởi số 18/2010 s 18 (1), được thay thế bởi số 19/2017

(c) thông báo an toàn về bạo lực gia đình đã được ban hành cho một thành viên gia đình bị ảnh hưởng và tòa án hài lòng, dựa trên các xác suất xảy ra, không có trường hợp nào có thể biện minh cho việc ngừng bảo vệ người đó cho đến khi có quyết định cuối cùng về đơn đăng ký.

Lưu ý đến s 53 (1) được sửa đổi bởi số 53/2010 s 200 (1).”

5 VLRC, Final report, 7.1

Trang 23

“Quyền ra lệnh can thiệp tạm thời

Tòa án có thể đưa ra lệnh can thiệp tạm thời nếu:

cần thiết, trong khi chờ quyết định cuối cùng về việc áp dụng, để đảm bảo sự

an toàn của thành viên gia đình bị ảnh hưởng, giữ gìn tài sản của thành viên gia đình bị ảnh hưởng hoặc bảo vệ trẻ em; hoặc

các bên đồng ý hoặc không phản đối việc đưa ra một lệnh tạm thời; hoặc

thông báo về an toàn bạo lực gia đình đã được ban hành và không có trường hợp nào để biện minh cho việc ngừng bảo vệ cho đến khi tòa án đưa ra quyết định cuối cùng về đơn đăng ký.

Tòa án có thể ra lệnh tạm thời ngay cả khi:

một số hoặc tất cả các vụ bạo lực gia đình được cho là xảy ra bên ngoài Victoria, với điều kiện là thành viên gia đình bị ảnh hưởng đang ở Victoria vào thời điểm xảy ra bạo lực; và

thành viên gia đình bị ảnh hưởng ở bên ngoài Victoria khi bạo lực gia đình bị cáo buộc xảy ra, với điều kiện bạo lực gia đình bị cáo buộc xảy ra ở Victoria Tòa án có thể đưa ra lệnh tạm thời bất kỳ lúc nào sau khi nộp đơn xin lệnh can thiệp bạo hành gia đình và trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về đơn đó, và có thể làm như vậy cho dù trước đó tòa đã đưa ra hay từ chối đưa ra quyết định lệnh tạm thời” (FVPA s53 (3) (4))

Về điều kiện của lệnh tạm thời, Tòa án có thể đưa vào bất kỳ điều kiện nào đốivới lệnh can thiệp tạm thời có vẻ là cần thiết hoặc mong muốn trong các trườnghợp cụ thể Quyền hạn của tòa án trong việc áp đặt các điều kiện đối với lệnh tạmthời tuân theo chặt chẽ các điều kiện có sẵn của lệnh cuối cùng Một ví dụ chođiểm khác biệt chính là tòa án chỉ có thể đình chỉ cơ quan có thẩm quyền về vũkhí, phê duyệt vũ khí hoặc miễn trừ vũ khí theo lệnh tạm thời, trong khi tòa án cóthể hủy bỏ các ủy quyền này khi có lệnh cuối cùng

 tòa án từ chối đưa ra phán quyết cuối cùng; hoặc

 tòa án hủy bỏ lệnh tạm thời; hoặc

 Đơn xin lệnh can thiệp bị rút lại (FVPA s 60)

Về nguyên tắc, Lệnh tạm thời có hiệu lực mặc dù không tuân thủ yêu cầu giải thíchlệnh (FVPA ss 57, 57A (6), 60G (2)) Tuy nhiên, trong trường hợp bị đơn là người

Trang 24

lớn, việc nhận được lời giải thích cho phép lệnh được thực thi ngay cả khi lệnh chưađược tống đạt.

Án lệnh can thiệp

Án lệnh can thiệp là án lệnh pháp lý do thẩm phán cấp Cảnh sát hoặc nạnnhân/người sống sót6 có thể nộp đơn xin cấp án lệnh can thiệp.Án lệnh can thiệp ngăncấm thủ phạm làm những điều nhất định Tòa sẽ cấp án lệnh can thiệp phù hợp với nhucầu của gia đình và hoàn cảnh cụ thể, nhưng nói chung, án lệnh này quy định rằng thủphạm:

 bị cấm mọi hành vi bạo hành trong gia đình

 bị cấm phá hư tài sản hoặc hăm dọa phá hư tài sản;

 bị cấm tìm cách tìm kiếm, đi theo hoặc quan sát người được bảo vệ (nạn nhân/ngườisống sót);

 cấm phổ biến chi tiết về người được bảo vệ trên internet, bằng thư điện tử (email)hoặc phương tiện thông tin liên lạc điện tử khác;

 cấm tới gần hoặc ở trong vòng [X] mét cách người được bảo vệ

 cấm tới gần hoặc ở trong vòng [X] mét cách [địa chỉ] hoặc bất kỳ nơi nào khác màngười bảo vệ làm việc, sinh sống hoặc đi học, trường mẫu giáo hoặc nhà trẻ 18

 cấm nhờ người khác làm bất cứ điều gì mà thủ phạm bị án lệnh cấm đoán

Ngoài ra còn nhiều những quy định khác trong án lệnh can thiệp tùy theo tình hình vànhu cầu của những người liên quan và tính chất của vụ án mà Tòa án có thể thêmnhiều điều khác hoặc sửa đổi

Mục tiêu của những mệnh lệnh này, nói chung, là để bảo vệ nạn nhân khỏi bạo lực giađình trong tương lai Họ nhận ra rằng: một loạt các hành vi - thể chất và phi thể chất -

có thể cấu thành bạo lực gia đình; rằng đây thường là những kiểu hành vi xảy ra theothời gian chứ không phải là những sự cố xảy ra một lần; và các nạn nhân cũng như cácbên bị ảnh hưởng khác có khả năng cần được bảo vệ trong thời gian dài Từ ngữ vàđiều kiện của lệnh can thiệp rất khác nhau trong và giữa các khu vực pháp lý tùy thuộc

6 Thuật ngữ 'nạn nhân' có thể được gán cho những cá nhân đã từng hoặc đang trải qua bạo lực gia đình còn thuật ngữ 'người sống sót' ngụ ý rằng những cá nhân không thoát khỏi bạo lực gia đình bằng cách nào đó yếu hèn hoặc tự nguyện đồng ý với hành vi; và do đó thuật ngữ 'nạn nhân' có thể phản ánh kinh nghiệm của họ một cách khéo léo hơn Đây là 2 thuật ngữ biểu hiện cho một nghĩa thường được được sử dụng phổ biến nhất trong giới cảnh sát và nhân viên tư pháp trong các thủ tục tố tụng liên quan đến bạo lực gia đình

Trang 25

vào thực tế của trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cũng như là kinh nghiệm của các bênliên quan Cụ thể như bảng dưới đây

Quyền hạn Pháp luật liên quan Các lệnh thường được sử

dụng

Lãnh thổ thủ đô Australia Đạo luật vệ Bạo lực Gia

đình 2016 (ACT)

Family violenceorder (FVO)

New South Wales Đạo luật Tội phạm (Bạo

lực gia đình và cá nhân)

2007 (NSW)

Apprehened domesticviolence order (ADVO)

Queensland Đạo Luật Bảo vệ Bạo

Hành Gia đình 2012 (Qld) Domestic violence order(DVO)

Northern Territory Đạo luật Bạo lực Gia đình

2017 (NT)

Domestic violence order

Nam Úc Lệnh can thiệp (Phòng

chống lạm dụng) Đạo luật

2009 (SA)

Intervention order

Tasmania Đạo Luật Bạo lực gia đình

2004 (Tas) Family violence order

Victoria Đạo Luật Bảo vệ Bạo

Hành gia đình 2008(FVPA)

intervention order (FVIO)

Western Australia Đạo luật về Lệnh cấm

1997 (WA) Familyrestraining order (FVRO)violence

Vi phạm án lệnh can thiệp

Nếu thủ phạm thực hiện những gì họ bị cấm trong án lệnh can thiệp thì điều đógọi là vi phạm án lệnh can thiệp Vi phạm án lệnh can thiệp ở Úc là vấn đề hình sự rấtnghiêm trọng

Theo Điều 123 Đạo luật bảo vệ bạo lực gia đình 2008, người nào có hành vilàm trái với lệnh can thiệp bạo lực gia đình thì sẽ có mức hình phạt tù là mức 7 (tối đa

2 năm) hoặc phạt tiền ở mức 7 (khoảng 43000 đô la) hoặc cả 2 Hay tại khoản 123Acủa Luật này quy định về tội làm trái với mệnh lệnh có ý định gây hại hoặc gây sợ hãicho sự an toàn thì mức hình phạt tù sẽ là mức 6 (tối đa 5 năm) hoặc phạt tiền mức 6

Trang 26

(khoảng 110000 đô la) hoặc cả 2 – đây cũng là mức phạt đối với tội liên tục làm tráicác thông báo và lệnh (Khoản 125A) Việc vi phạm án lệnh can thiệp có thể bị ghi vào

hồ sơ hình sự Nếu nạn nhân/người sống sót yêu cầu thủ phạm làm điều gì đó mà họ bị

án lệnh cấm thì đó là vi phạm án lệnh can thiệp

Ví dụ

Ông A là đối tượng trong án lệnh can thiệp bảo vệ bà B - vợ ông ta Án lệnhcan thiệp quy định rằng ông A bị cấm không được phép đến căn nhà của gia đình Mộtngày nọ, bà Nữ bị bệnh/đau ốm và cần có người giúp chăm lo cho bản thân mình vàtrông coi nhà cửa vì vậy bà ấy gọi điện thoại cho ông Nam và yêu cầu ông ấy đến nhà.Ông A lái xe đến nhà để nấu bữa tối và cho các con đi ngủ Bà C-người hàng xóm biết

về án lệnh can thiệp, và khi thấy ông A về nhà, bà ấy báo cảnh sát Cảnh sát bắt giữông A và ông ta phải ra tòa Bà B sẽ không bị truy tố vì bà ta không bị hạn chế gì hếttrong án lệnh can thiệp Ông Nam phải chắc chắn rằng ông ta không làm những điều

mà ông ta bị cấm trong án lệnh

2.2 Hiện trạng thực thi pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình ở Anh

Khác với Australia, Vương Quốc Anh là quốc gia có pháp luật phức tạp, thường dựa vào các án lệ, lẽ phải, … để giải quyết các vấn đề bởi vì nguyên nhân là do đây là quốc gia không có một bản hiến pháp nào thống nhất, duy nhất như một số quốc gia khác Hay nói cách khác thì luật pháp Anh Quốc được gọi là luật bất thành văn Và khi nghiên cứu về pháp luật Anh, điều chúng ta quan tâm chính là nếu không có một quy định nào cụ thể, thì dựa vào đâu để xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến gia đình và bạo lực gia đình? Các nạn nhân sẽ được bảo vệ như thế nào?

Đi sâu vào nghiên cứu về luật pháp Anh, ta phải tìm hiểu trước tiên là về hoàn cảnh xã hội Thực trạng bạo lực gia đình ở quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Anh có phức tạp hay không? Và nếu phức tạp thì các nhà lập pháp sẽ đối đầu với khó khăn đó như thế nào?

Mong muốn ngăn chặn bạo lực gia đình và hỗ trợ các nạn nhân của nó đã thúc đẩy một số thay đổi trong luật pháp và chính sách của chính phủ quốc gia nhiều nước và trong đó có Anh, đặc biệt là kể từ những năm 1970 Tại Australia, như ta đã biết các hình phạt của luật hình sự thường không hiệu quả vì vấn đề gia đình vẫn luôn rất nhạycảm, mặt khác các biện pháp dân sự thường bị giới hạn đối với các vụ kiện dân sự về thiệt hại hoặc hành hung, khiếu nại hòa bình (khiếu nại không chính thức tại tòa án địaphương), một vụ kiện công bằng tại Tòa án tối cao về lệnh và thủ tục lệnh trong Tòa

án Gia đình Trong khi đó, Đạo luật về Bạo lực Gia đình và Hôn nhân năm 1976 của Vương quốc Anh có những tiến bộ đáng kể bằng cách nhấn mạnh tính không thể chấp nhận được của bạo lực và bằng cách đưa ra biện pháp bảo vệ ngay lập tức thông qua việc loại bỏ người phạm tội Ba trong số các điều khoản sẽ đưa ra những đổi mới đáng

kể trong khuôn khổ tình hình luật pháp Australia:

Trang 27

- Mở rộng thủ tục lệnh cấm đối với những người vợ trên thực tế cũng như những phụ nữ đã kết hôn hợp pháp;

- Trao quyền cho tòa án để loại một người ra khỏi nhà bất kể người đó là chủ sở hữu duy nhất hay chủ sở hữu chung;

- Mở rộng quyền lực bắt giữ kèm theo lệnh cấm trong các trường hợp bạolực thực tế

Song bất chấp những tiến bộ kể trên giữa pháp luật của Anh so với Australia, Anh vẫn gặp phải những vấn đề phức tạp khi thi hành những điều luật đó trên thực tế Tương tự như Úc, Anh cần nỗ lực để ban hành các điều khoản đòi hỏi cả cải cách luật của Tiểu bang và Liên bang Vấn đề đó nằm ở chỗ Chính phủ Liên bang Anh chỉ có thể lập pháp liên quan đến hôn nhân và ly hôn, nên các quyền của vợ / chồng trên thực

tế sẽ phải được thông qua bởi từng Bang riêng lẻ và việc này là vô cùng phức tạp và tốn nhiều thời gian

Vậy pháp luật Vương Quốc Anh đã làm những gì để bảo vệ những nạn nhân của bạo lực gia đình trong tình hình này? Như chúng ta đã biết, pháp luật của

Vương Quốc Anh thường giải quyết bởi án lệ, rất khó khăn nếu cứ dựa vào án lệ bởi

vì quyền lợi của các nạn nhân sẽ không được can thiệp kịp thời Vì thế, trong Đạo luậtlạm dụng gia đình 2021 mới đây được thông qua đã có những cải cách, sửa đổi mang tính tiến bộ mà chúng ta có thể kể đến như:

Tạo ra một định nghĩa theo luật định về lạm dụng trong gia đình

Thành lập văn phòng của Ủy viên lạm dụng trong nước

Cấm người phạm tội khám nghiệm trực tiếp nạn nhân của họ tại các tòa án

 Tạo ra một giả định theo luật định rằng các nạn nhân của lạm dụng gia đình đủ

điều kiện để áp dụng các biện pháp đặc biệt tại tòa án hình sự

 Cho phép những người phạm tội lạm dụng gia đình có thể bị kiểm tra nhiều điểm như một điều kiện cấp phép sau khi được thả ra khỏi nơi giam giữ

Giao nhiệm vụ cho chính quyền địa phương hỗ trợ nạn nhân

bị xâm hại gia đình và con cái của họ về nơi ở và chỗ ở an toàn

Yêu cầu chính quyền địa phương cấp các hợp đồng thuê nhà an toàn

mới cho những người thuê nhà xã hội để lại các hợp đồng thuê nhà an toàn

hiện có vì những lý do liên quan đến lạm dụng trong gia đình

 Mở rộng quyền tài phán ngoài lãnh thổ của các tòa án hình sự của Anh và xứ Wales, Scotland và Bắc Ireland đối với các tội phạm bạo lực và tình dục khác

7 https://criminalinjurieshelpline.co.uk/legal-advice/clares-law

Ngày đăng: 21/04/2022, 23:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w