1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0127 giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại NHTM CP ngoại thương VN chi nhánh nam định luận văn thạc sỹ (FILE WORD)

114 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 165,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (12)
    • 1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại (12)
    • 1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại (13)
    • 1.1.3. Phân loại ngân hàng thương mại (15)
    • 1.1.4. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại (16)
  • 1.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂNHÀNGTHƯƠNG MẠI (18)
    • 1.2.1. Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng thươngmại (18)
    • 1.2.2. Phân loại tín dụng (20)
  • 1.3. MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (24)
    • 1.3.1. Các quan điểm về mở rộng hoạt động tín dụng Ngân hàng Thương mại.... 16 1.3.2. Yêu cầu về mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại (0)
    • 1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng tín dụng (29)
  • 1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (31)
    • 1.4.1. Nhân tố từ phía ngân hàng (31)
    • 1.4.2. Nhân tố từ phía khách hàng (37)
    • 1.4.3. Nhân tố khách quan bên ngoài (38)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT (12)
    • 2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH NAM ĐỊNH (41)
    • 2.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh từ năm 2012 - 2015 (0)
    • 2.5. THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH NAM ĐỊNH (0)
      • 2.2.1. Cơ sở hoạt động tín dụng của Chi nhánh (53)
      • 2.2.2. Thực trạng mở rộng hoạt động tín dụng của Chi nhánh (58)
    • 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT (69)
      • 2.3.1. Những kết quả đạt được (69)
      • 2.3.2. Những mặt còn tồn tại (71)
      • 2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại (72)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT (41)
    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH (77)
      • 3.1.1. Định hướng kinh doanh của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại thương Việt Nam (77)
      • 3.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Nam Định (80)
    • 3.2. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH (82)
      • 3.2.3. Cải tiến quy trình tín dụng (84)
      • 3.2.4. Thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừarủi ro (86)
      • 3.2.5. Xây dựng chính sách khách hàng (88)
      • 3.2.6. Nâng cao chất lượng các dịch vụ (92)
      • 3.2.7. Tăng cường nguồn vốn (94)
      • 3.2.8. Coi trọng công tác tổ chức cán bộ (95)
      • 3.2.9. Xây dựng văn hoá kinh doanh tại Chinhánh (96)
    • 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (98)
      • 3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước (98)
      • 3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước (101)
      • 3.3.3. Kiến nghị đối với ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (103)
  • KẾT LUẬN (107)

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Khái niệm ngân hàng thương mại

Thuật ngữ Ngân hàng đã xuất hiện từ lâu trước khi nền sản xuất hàng hóa phát triển, ban đầu không mang tên gọi Ngân Hàng Các thương gia đã lập ra những nơi nhận tiền gửi để bảo quản và thu phí từ người gửi, đồng thời thực hiện các dịch vụ đổi tiền và thanh toán hộ Ba nghiệp vụ đầu tiên này đã hình thành nền tảng cho hoạt động ngân hàng Ban đầu, người gửi phải trả phí, nhưng do áp lực cạnh tranh từ lợi nhuận của tiền gửi, các thương nhân đã bắt đầu trả phí cho người gửi để tăng khả năng huy động Họ nhận ra rằng luôn có một lượng tiền ổn định trong két, trong khi nhiều thương gia khác cần vay vốn, dẫn đến việc cho vay để kiếm thêm lợi nhuận, từ đó hình thành các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.

Hoạt động và vai trò của ngân hàng thương mại (NHTM) không ngừng phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội Sự phát triển của các nghiệp vụ ngân hàng đã hình thành một ngành công nghiệp tiền tệ Mỗi quốc gia có cách định nghĩa riêng về NHTM; ví dụ, ở Mỹ, NHTM được coi là công ty chuyên cung cấp dịch vụ tài chính, trong khi ở Pháp, NHTM là các cơ sở nhận tiền từ công chúng để thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và dịch vụ tài chính.

Định nghĩa Ngân hàng Thương mại (NHTM) ở mỗi quốc gia có sự khác biệt trong cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đều đáp ứng ba yêu cầu cơ bản: Thứ nhất, định nghĩa phải ngắn gọn, chính xác và đầy đủ Thứ hai, cần nêu rõ ba mục tiêu chính là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, bảo vệ nghề ngân hàng và bảo vệ chính sách tiền tệ quốc gia Thứ ba, định nghĩa này cần được ghi vào luật ngân hàng để đảm bảo sự thống nhất về mặt ý nghĩa và làm căn cứ pháp lý trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến ngân hàng.

Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 xác định ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, chủ yếu nhận tiền gửi từ khách hàng và có trách nhiệm hoàn trả, đồng thời sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X thông qua ngày 12/12/1997 định nghĩa ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động liên quan, trong đó tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ ngân hàng như nhận tiền gửi và cấp tín dụng.

Chức năng của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng là vai trò quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM), nơi NHTM kết nối người thừa vốn với người cần vốn Trong vai trò này, NHTM vừa là người vay vừa là người cho vay, thu lợi từ chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tiền vay Chức năng này không chỉ mang lại lợi ích cho NHTM mà còn cho cả người gửi tiền và người đi vay.

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các DN và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của KH như trích tiền gửi từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của KH tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.

Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán và thẻ tín dụng Khách hàng có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp với nhu cầu của mình, giúp họ không cần mang theo tiền mặt khi gặp gỡ chủ nợ hay thực hiện giao dịch Nhờ đó, các chủ thể kinh tế tiết kiệm chi phí và thời gian, đồng thời đảm bảo an toàn trong các giao dịch Chức năng thanh toán này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ thanh toán và lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.

Chức năng tạo tiền là một yếu tố quan trọng thể hiện bản chất của ngân hàng thương mại (NHTM) Nhằm đạt được lợi nhuận, điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển, các NHTM đã thực hiện chức năng này một cách tự nhiên thông qua các hoạt động kinh doanh đặc thù của mình, góp phần quan trọng vào việc tạo ra tiền cho nền kinh tế.

Chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại (NHTM) được thực hiện thông qua hai chức năng chính: tín dụng và thanh toán NHTM sử dụng vốn huy động để cho vay, từ đó khách hàng sử dụng số tiền này để mua sắm và thanh toán dịch vụ, trong khi số dư tài khoản tiền gửi vẫn được coi là một phần của tiền giao dịch Nhờ vào chức năng này, hệ thống NHTM đã gia tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội Việc tạo tiền của NHTM còn phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng trung ương quy định, cho phép ngân hàng này điều chỉnh tỷ lệ để kiểm soát lượng cung tiền vào nền kinh tế.

Phân loại ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Dựa vào hình thức sở hữu

Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể được phân loại thành bốn loại chính: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài Mỗi loại hình NHTM không chỉ khác nhau về hình thức sở hữu mà còn có sự khác biệt trong các hoạt động, được quy định bởi Luật tổ chức tín dụng.

Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTM Nhà nước) là những tổ chức tài chính được thành lập và đầu tư bởi Nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế quốc gia Các NHTM Nhà nước giữ vai trò quan trọng và chiếm ưu thế trong hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam.

Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM cổ phần) là loại hình ngân hàng được hình thành dưới dạng công ty cổ phần, với sự góp vốn của các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trong bối cảnh kinh tế thị trường, NHTM cổ phần đóng vai trò quan trọng nhờ khả năng linh hoạt và dễ dàng thích ứng với những biến động của thị trường.

Ngân hàng liên doanh là ngân hàng được thành lập từ vốn góp của cả bên Việt Nam và bên nước ngoài thông qua hợp đồng liên doanh Đây là một pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam và hoạt động theo giấy phép thành lập cùng các quy định pháp luật liên quan.

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc, chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của mình dưới sự đảm bảo của ngân hàng mẹ Để hoạt động, chi nhánh này cần có giấy phép mở chi nhánh và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan của Việt Nam.

1.1.3.2 Dựa vào chiến lược kinh doanh

Dựa theo tiêu thức chiến luợc kinh doanh và mối quan hệ giữa NH với

KH, có thể chia NHTM thành Ngân hàng đa năng, Ngân hàng chuyên doanh, Ngân hàng bán buôn, Ngân hàng bán lẻ.

Ngân hàng đa năng là loại hình ngân hàng thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh như tín dụng ngắn hạn và dài hạn, giao dịch giấy tờ có giá, nhận mọi loại tiền gửi, và cung cấp tất cả các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Ngân hàng chuyên doanh là loại ngân hàng chỉ đuợc làm một hoặc một số ít nghiệp vụ ngân hàng (gần nhu chuyên môn hóa các hoạt động).

Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó là thực hiện với các khách hàng lớn.

Ngân hàng bán lẻ tập trung vào việc phục vụ khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với các hoạt động chính liên quan đến tài chính và dịch vụ ngân hàng.

Nghiệp vụ ngân hàng thương mại

1.1.4.1 Nghiệp vụ Tài sản Nợ

Hoạt động của ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động, trong khi nguồn vốn tự có rất hạn chế, đóng vai trò như một tấm đệm bảo vệ rủi ro Nghiệp vụ tài sản Nợ thể hiện quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau.

Nghiệp vụ tiền gửi là hoạt động ghi nhận các khoản tiền mà doanh nghiệp gửi vào ngân hàng nhằm mục đích thanh toán hoặc bảo quản Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thu hút các khoản tiền nhàn rỗi từ cá nhân và hộ gia đình để gửi vào ngân hàng, với mục tiêu nhận lãi suất.

Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá là một phương thức quan trọng giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn dài hạn, từ đó đảm bảo khả năng đầu tư vào các dự án kinh tế bền vững Việc phát hành này không chỉ góp phần tăng cường nguồn lực tài chính mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế tổng thể.

Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể thực hiện nghiệp vụ vay bằng cách vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Ngoài ra, NHTM cũng có khả năng vay từ Ngân hàng Trung ương thông qua các hình thức như tái chiết khấu hoặc vay có đảm bảo.

- Nghiệp vụ huy động vốn khác: Thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn thuộc sở hữu riêng của từng ngân hàng, và thực tế cho thấy khoản vốn này liên tục gia tăng nhờ vào kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó.

1.1.4.2 Nghiệp vụ Tài sản Có

Là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM

- Nghiệp vụ ngân quỹ: phản ánh các khoản vốn của NH được dùng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và thực hiện quy định dự trữ bắt buộc.

Nghiệp vụ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng thương mại (NHTM) Đây là các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua việc cung cấp tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho nền kinh tế.

- Nghiệp vụ đầu tư tài chính: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường.

Nghiệp vụ khác trong lĩnh vực tài chính bao gồm kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý Ngoài ra, các dịch vụ tư vấn và ngân quỹ cũng được thực hiện, cùng với nghiệp vụ ủy thác và đại lý Đặc biệt, dịch vụ bảo hiểm cũng là một phần quan trọng trong các hoạt động này.

1.1.4.3 Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các ngân hàng đang tích cực tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản Những hoạt động này bao gồm môi giới mua bán các công cụ tài chính, tạo ra thu nhập từ các khoản lệ phí, và chuyển nhượng các khoản vay.

Một hình thức khác để ngân hàng tạo ra lợi nhuận là thông qua việc bán các khoản vay Họ thu lợi bằng cách bán các sản phẩm tín dụng với giá cao hơn so với số tiền gốc của khoản vay ban đầu.

Một hình thức tạo thu nhập thứ ba là từ các lệ phí mà ngân hàng thu khi cung cấp dịch vụ chuyên môn cho khách hàng Chẳng hạn như thực hiện giao dịch hối đoái cho khách hàng, bảo đảm các chứng khoán vay nợ, và thu tín dụng dự phòng.

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂNHÀNGTHƯƠNG MẠI

Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng thươngmại

1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng

Tín dụng là một khái niệm quan trọng trong kinh tế hàng hóa, đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, đồng thời gắn liền với sự tiến bộ của nền kinh tế hàng hóa.

Tín dụng, xuất phát từ tiếng Latinh "creditium" và tiếng Anh "credit", mang ý nghĩa là sự tin tưởng và trách nhiệm Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng được hiểu là việc vay mượn giữa các cá nhân, với cam kết hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

Tín dụng tài chính là quá trình chuyển nhượng tạm thời một giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, với cam kết sau một khoảng thời gian, giá trị này sẽ trở lại với số lượng lớn hơn giá trị ban đầu.

Một quan hệ đuợc xem là quan hệ tín dụng khi chứa đựng đầy đủ ba nội dung:

- Có sự chuyển nhuợng quyền sử dụng vốn từ nguời sở hữu sang cho nguời sử dụng.

- Sự chuyển nhuợng này có thời hạn.

- Sự chuyển nhuợng này có kèm theo chi phí.

Quan hệ tín dụng cần có đầy đủ các nội dung thiết yếu; nếu thiếu một trong số đó, nó sẽ không còn được coi là quan hệ tín dụng Cụ thể, nếu thiếu chi phí (nội dung thứ ba), mối quan hệ chỉ đơn thuần là cho mượn mà không có lãi suất Tương tự, nếu thiếu nội dung thứ hai, quan hệ này sẽ trở thành cho không, không còn mang tính chất tín dụng hay cho mượn nữa.

1.2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp thường có một phần vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, như tiền mua nguyên vật liệu chưa sử dụng hoặc tiền lương chưa đến hạn Đồng thời, người dân cũng có khoản tiền để dành mà chưa có nhu cầu sử dụng, mong muốn đầu tư để kiếm lời Những nguồn vốn này tạo thành một tiềm năng lớn trong nền kinh tế Tuy nhiên, một số doanh nghiệp và cá nhân lại thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt, trong khi Ngân hàng Nhà nước đối mặt với tình trạng thâm hụt Do đó, Nhà nước cần nguồn vốn để bù đắp thâm hụt và đảm bảo cân đối thu chi cho nền kinh tế.

Trong xã hội, luôn tồn tại hai nhóm người: một nhóm thừa vốn cần đầu tư và một nhóm thiếu vốn cần vay Tuy nhiên, việc kết nối trực tiếp giữa hai nhóm này gặp nhiều khó khăn về chi phí và thời gian Do đó, cần có một bên trung gian để tập trung vốn từ những người thừa và phân phối cho những người cần vốn dưới hình thức tín dụng Các tổ chức tín dụng, chủ yếu là ngân hàng thương mại, đóng vai trò là người môi giới tài chính, thu hút và tập trung nguồn vốn tạm thời từ các tổ chức và cá nhân để đầu tư vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quá trình này không chỉ đáp ứng nhu cầu về vốn mà còn góp phần vào việc lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ chu chuyển vốn và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững Đồng thời, nó cũng giúp chuyển dịch vốn từ các ngành có lợi nhuận thấp sang các ngành có lợi nhuận cao, tối ưu hóa tỷ suất lợi nhuận trong toàn bộ nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sản xuất và lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất và phát triển các ngành kinh tế NHTM không chỉ cung cấp tài chính cho các ngành kém phát triển mà còn cho các lĩnh vực mũi nhọn theo định hướng phát triển của Nhà nước Thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có khả năng kiểm soát lượng tiền tệ trong lưu thông thông qua các công cụ như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn và hạn mức tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM và lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế.

Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng tốc độ tích lũy vốn cho các doanh nghiệp Thay vì phải mất thời gian dài để tích lũy vốn cho sản xuất, nhờ vào tín dụng, các khoản vốn nhàn rỗi được tập trung tại ngân hàng Các ngân hàng sau đó cung cấp khoản vay kịp thời cho doanh nghiệp, giúp sản xuất phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng gia tăng tích lũy vốn cho từng doanh nghiệp.

Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế, giúp thúc đẩy giao lưu kinh tế và củng cố mối quan hệ với các quốc gia trên toàn cầu.

Phân loại tín dụng

1.2.2.1 Phân loại theo thời hạn tín dụng

Phân loại theo thời hạn tín dụng thì các hình thức tín dụng của NHTM bao gồm các loại sau đây:

Tín dụng ngắn hạn là hình thức cho vay có thời gian dưới 12 tháng, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn lưu động tạm thời của Nhà nước, doanh nghiệp và hộ sản xuất Các ngân hàng thường áp dụng nghiệp vụ này trong những trường hợp cần thiết để giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn.

Nhà nước có thể đáp ứng nhu cầu chi tiêu bằng cách phát hành trái phiếu kho bạc, một hình thức tín dụng an toàn nhờ vào khả năng hoàn trả cao của chính phủ.

Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các tổ chức tín dụng như ngân hàng, công ty tài chính và quỹ tín dụng, có thể sử dụng tín dụng trực tiếp trên thị trường liên ngân hàng hoặc tín dụng gián tiếp thông qua việc nắm giữ chứng khoán.

Tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh là một trong những đối tượng khách hàng chiến lược mà các ngân hàng thương mại hướng tới Đối tượng này chiếm số lượng đông đảo và thường yêu cầu các khoản vay có đảm bảo bằng thế chấp hoặc cầm cố tài sản Trong lĩnh vực tín dụng ngắn hạn, ngân hàng có thể áp dụng nhiều hình thức như tín dụng trực tiếp hoặc gián tiếp, tín dụng theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không cần đảm bảo, thông qua các hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.

• Tín dụng trung và dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn là hình thức cho vay có thời hạn từ 12 đến 60 tháng và trên 60 tháng Các ngân hàng thương mại thường áp dụng tín dụng này trong những tình huống cần vốn đầu tư lớn hoặc hỗ trợ tài chính cho các dự án dài hạn.

Tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng và cải tiến kỹ thuật là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhu cầu về vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp ngày càng gia tăng để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và đổi mới.

Hoạt động đầu tư phát triển của Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp Sự đầu tư này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh và phát triển bền vững.

- Tài trợ cho nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền nhu nhà cửa, phương tiện vận chuyển của nguời tiêu dùng.

NH có thể áp dụng các hình thức tín dụng sau:

Ngân hàng mua trái phiếu trung và dài hạn của doanh nghiệp nhằm tài trợ cho việc hình thành tài sản cố định Trong quá trình này, ngân hàng xem xét các yếu tố quan trọng như kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như các kế hoạch tương lai của họ.

- Tín dụng theo dự án:

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm hoặc xây dựng tài sản cố định để thực hiện dự án, họ có thể xin vay ngân hàng Ngân hàng yêu cầu khách hàng lập dự án chi tiết, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư và quá trình thực hiện Việc phân tích và thẩm định dự án là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định mức vốn tín dụng và đánh giá khả năng hoàn trả của dự án.

Dự án bao gồm nhiều yếu tố quan trọng như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa điểm, công nghệ, quy trình sản xuất và phân tích tài chính Trong đó, phân tích tài chính là ưu tiên hàng đầu của ngân hàng, đặc biệt là thời gian và các nguồn trả nợ Đối với những dự án không mới, ngân hàng thường kết hợp phân tích tài chính của người vay với phân tích dự án Một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc quyết định cho vay, vì các nguồn thu khác của người vay có thể hỗ trợ cho việc trả nợ bên cạnh nguồn thu từ dự án.

Trong các trường hợp quy mô tín dụng lớn, việc ngân hàng là người cấp tín dụng duy nhất sẽ gia tăng rủi ro Do đó, sự tham gia của nhiều bên trong việc cấp tín dụng giúp phân tán rủi ro cho ngân hàng Hình thức này được gọi là tín dụng đồng tài trợ, tuy có lợi trong việc giảm thiểu rủi ro nhưng ngân hàng cần thực hiện phân tích kỹ lưỡng về các nguồn và chủ tài trợ.

Tín dụng tiêu dùng được thiết kế để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng hóa lâu bền như nhà cửa và phương tiện vận chuyển Sự gia tăng mạnh mẽ trong nhu cầu tiêu dùng, cùng với sự ổn định về thu nhập của người tiêu dùng, đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa các công ty tài chính và ngân hàng Điều này khiến thị phần tín dụng của ngân hàng giảm, buộc các ngân hàng phải mở rộng thị trường tín dụng tiêu dùng nhằm tăng thu nhập.

Ngân hàng có khả năng cấp tín dụng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc thông qua việc tài trợ cho các doanh nghiệp bán lẻ hàng lâu bền và các công ty xây dựng, giúp các doanh nghiệp này thực hiện bán hàng trả góp.

Tín dụng tiêu dùng tiềm ẩn rủi ro cao do người vay có thể đối mặt với những tình huống bất ngờ như ốm đau hoặc mất việc Do đó, loại tín dụng này thường có lãi suất cao nhất, và ngân hàng thường yêu cầu người vay mua một số loại bảo hiểm nhất định để bảo vệ cả hai bên.

1.2.2.2 Phân loại theo mức độ đảm bảo

Phân loại theo mức độ đảm bảo thì các hình thức tín dụng của NHTM bao gồm các loại sau đây:

• Tín dụng có đảm bảo

Khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh thường phải đối mặt với rủi ro, có thể dẫn đến việc không đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng, gây thiệt hại lớn cho tổ chức tài chính này Do đó, hầu hết các khoản vay của ngân hàng yêu cầu có tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo (TSĐB) có thể thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách hàng, bên bảo lãnh, hoặc là tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng.

MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng tín dụng

Sự thỏa mãn của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng của ngân hàng là yếu tố quan trọng trong việc mở rộng tín dụng Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thương mại cần đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, đưa ra các chính sách phù hợp và linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Khi khách hàng hài lòng, điều này không chỉ phản ánh hiệu quả của chính sách mở rộng tín dụng mà còn giúp tăng số lượng và chất lượng khách hàng, từ đó nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng Chính vì vậy, sự thỏa mãn của khách hàng là thước đo chính cho thành công trong việc phát triển tín dụng.

- Sự hài lòng của KH về công nghệ và trình độ của cán bộ ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng Để đáp ứng nhanh chóng và thuận tiện các giao dịch của khách hàng, ngân hàng cần liên tục đổi mới trang thiết bị và áp dụng công nghệ hiện đại, đảm bảo an toàn và chính xác Việc áp dụng công nghệ trong tín dụng là một yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả hoạt động.

• Chỉ tiêu tăng quy mô tín dụng

Chỉ tiêu dư nợ tín dụng phản ánh khối lượng tiền mà ngân hàng thương mại cho khách hàng vay tại một thời điểm nhất định Dư nợ tín dụng của ngân hàng được phân loại theo thời gian thành ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cũng như theo thành phần kinh tế gồm dư nợ của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cá nhân và hộ gia đình.

Du nợ càng cao chứng tỏ ngân hàng càng mở rộng hoạt động tín dụng.

- Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng:

Mức tăng dư nợ Dư nợ TD kỳ sau - Dư nợ TD kỳ trước

= _x 100% tín dụng Dư nợ TD kỳ trước

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá về tốc độ mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng qua từng thời kỳ.

- Chỉ tiêu tăng số lượng khách hàng:

Mức tăng dư Số KH vay kỳ sau - Số KH vay kỳ trước

= , _x 100% nợ tín dụng Số KH vay kỳ trước

- Chỉ tiêu tăng trưởng thu nhập từ cho vay:

Tăng trưởng thu Thu nhập CV kỳ sau - Thu nhập CV kỳ trước ɪ = _Z _ _x 100% nhập từ cho vay Thu nhập CV kỳ trước

• Chỉ tiêu chất lượng tín dụng

Chỉ tiêu nợ xấu của các ngân hàng thương mại (NHTM) phân loại nợ thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Trong đó, nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Tỷ lệ nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn và chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng; tỷ lệ nợ xấu cao cho thấy chất lượng tín dụng thấp.

- Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng:

Tỷ lệ thu nhập từ Thu nhập từ hoạt động tín dụng

' ■ = " _ _. x 100% hoạt động tín dụng Tong thu nhập

- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn:

Tong dư nợ tín dụng Hiệu suất sử dụng vốn = „ _, ’ _x 100%

Tổng vốn huy động là chỉ tiêu quan trọng phản ánh tỷ lệ phần trăm vốn huy động được sử dụng trong hoạt động tín dụng Hệ số cao cho thấy ngân hàng sử dụng hiệu quả vốn để cho vay, trong khi hệ số thấp cho thấy tình trạng ứ đọng vốn, làm tăng chi phí huy động và giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Nhân tố từ phía ngân hàng

Hoạt động tín dụng là hoạt động cốt lõi và quan trọng nhất trong ngân hàng, với quy mô lớn và được thực hiện theo chính sách tín dụng rõ ràng Chính sách tín dụng không chỉ phản ánh cương lĩnh tín dụng của ngân hàng mà còn là tài liệu hướng dẫn cho cán bộ tín dụng, giúp tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng và tạo sự thống nhất trong quản lý rủi ro Nó cũng liên quan đến các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước như chính sách ưu đãi và tỷ giá, cũng như các yếu tố như quy mô, cấu trúc và tính ổn định của khoản tiền gửi và khả năng vay mượn của ngân hàng.

Mỗi ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng riêng dựa trên quy định của NHNN và tình hình thực tế Chính sách này bao gồm lãi suất, hạn mức, phương thức tín dụng và tài sản đảm bảo, ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng Khi các yếu tố trong chính sách tín dụng hợp lý và linh hoạt, đáp ứng nhu cầu khách hàng, ngân hàng sẽ thành công trong mở rộng tín dụng Do đó, để phát triển hoạt động tín dụng, ngân hàng cần có chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.

Quy trình tín dụng quy định các bước cụ thể từ khi nhận hồ sơ vay của khách hàng đến khi thu hồi nợ Để nâng cao chất lượng khoản vay, ngân hàng cần xây dựng quy trình tín dụng hợp lý, đảm bảo an toàn cho khoản vay và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, giúp họ tránh những thủ tục không cần thiết.

Quy trình tín dụng thường bao gồm 4 bước sau:

Bước 1 Thiết lập hồ sơ tín dụng

Hồ sơ tín dụng của ngân hàng là tài liệu quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ này Mỗi loại cho vay và quy mô khoản vay sẽ có yêu cầu riêng về hồ sơ tín dụng.

NHTM quy định về việc thiết lập bộ hồ sơ cho phù hợp Bộ hồ sơ cho vay thường bao gồm các loại sau:

- Hồ sơ do khách hàng lập và cung cấp cho ngân hàng: bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế, hồ sơ vay vốn.

Hồ sơ ngân hàng bao gồm các báo cáo thẩm định và tái thẩm định, cùng với các thông báo như thông báo cho vay, từ chối cho vay và gia hạn nợ Ngoài ra, hồ sơ còn chứa báo cáo kiểm tra việc sử dụng vốn vay và phân tích tình hình tài chính.

Hồ sơ tín dụng bao gồm các tài liệu quan trọng do ngân hàng và khách hàng phối hợp lập, như hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm cho khoản vay, hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản và hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.

Bước 2 Phân tích trước khi cấp tín dụng

Mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận, tuy nhiên, họ thường phải đối mặt với rủi ro trong quá trình này Để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng áp dụng nhiều biện pháp, trong đó việc phân tích và đánh giá toàn diện khách hàng trước khi cho vay đóng vai trò quan trọng Nếu khách hàng có đủ tư cách kinh doanh, năng lực tài chính đảm bảo và triển vọng phát triển, họ sẽ được xem xét cho vay Ngược lại, nếu không đáp ứng đủ điều kiện, ngân hàng sẽ từ chối cấp tín dụng.

Nội dung chính của bài viết là thu thập và xử lý thông tin khách hàng, bao gồm năng lực vay vốn, uy tín, khả năng sinh lợi và nguồn ngân quỹ, cũng như quyền sở hữu tài sản và các điều kiện kinh tế liên quan Phân tích tài chính bao gồm đánh giá tài sản, nợ, luồng tiền và điều kiện kinh tế Ngân hàng sử dụng các tỷ lệ tài chính như tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ sinh lợi, tỷ lệ vốn tự có và tỷ lệ rủi ro để đánh giá tình hình tài chính của khách hàng.

Ngân hàng cần chú trọng đến các yếu tố cấu thành tài sản của khách hàng như ngân quỹ, chứng khoán, hàng hóa trong kho và tài sản cố định, vì đây là những nguồn có thể dùng để thanh toán nợ Khi xem xét các khoản nợ, ngân hàng đánh giá thời gian và vị trí của mình trong danh sách chủ nợ, vì vị trí quan trọng sẽ giúp dễ dàng thu hồi nợ hơn Bên cạnh đó, ngân hàng cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và các loại nợ khác để đưa ra quyết định chính xác.

Bước 3 Quyết định cấp tín dụng

Quá trình cấp tín dụng culminates in the decision to grant a loan Đối với khoản vay nhỏ, cán bộ tín dụng có quyền quyết định, trong khi các khoản vay lớn cần sự phê duyệt của hội đồng tín dụng Hội đồng sẽ xem xét hồ sơ vay và tờ trình từ cán bộ tín dụng để đưa ra quyết định Nếu được chấp thuận, hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo sẽ được ký kết giữa cán bộ tín dụng và khách hàng Trong trường hợp hồ sơ vay bị từ chối, lý do từ chối sẽ được thông báo cho khách hàng.

Bước 4 Kiểm tra, giám sát và xử lý vốn vay

Ngân hàng không chỉ cấp tín dụng mà còn kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả Quá trình này bao gồm việc theo dõi tiến độ sử dụng tiền vay, phát hiện những thay đổi bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như dấu hiệu lừa đảo hoặc thua lỗ Nếu thông tin thu thập được cho thấy tín dụng đang được đảm bảo, ngân hàng sẽ tiếp tục hỗ trợ; ngược lại, nếu chất lượng khoản vay có nguy cơ bị đe dọa, ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời như thu hồi nợ trước hạn hoặc yêu cầu bổ sung tài sản thế chấp Việc kiểm soát này không chỉ giúp ngân hàng bảo vệ tài sản mà còn ngăn chặn việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, từ đó giảm thiểu rủi ro phát sinh các khoản tín dụng xấu.

Quan hệ tín dụng chấm dứt khi ngân hàng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi Các khoản tín dụng an toàn là những khoản được đảm bảo hoàn trả đúng hạn Nếu khách hàng cố tình lừa đảo hoặc không còn khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ áp dụng phương án thanh lý để thu hồi nợ, bao gồm phong tỏa và bán tài sản thế chấp Ngược lại, nếu khách hàng gặp khó khăn tài chính nhưng quyết tâm trả nợ, ngân hàng sẽ xem xét phương án khai thác, như gia hạn nợ, giảm lãi suất hoặc cho vay thêm.

Lãi suất cho vay của ngân hàng là một phần chi phí quan trọng đối với doanh nghiệp, phản ánh giá trị của khoản vay Ngân hàng phải cân nhắc để lãi suất này không chỉ bù đắp chi phí huy động vốn mà còn đảm bảo lợi nhuận và phản ánh mức độ rủi ro của dự án đầu tư Lãi suất ảnh hưởng lớn đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và khách hàng Để mở rộng tín dụng, ngân hàng cần có chính sách lãi suất phù hợp với từng giai đoạn phát triển, vừa đạt được mục tiêu của mình vừa khuyến khích khách hàng vay Hiện nay, NHNN cho phép các ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất thoả thuận, tạo điều kiện cho việc thu hút khách hàng, như áp dụng lãi suất thấp hơn cho khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên Chính sách lãi suất linh hoạt này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn cho người vay.

1.4.1.4 Các phương thức tín dụng

Hiện nay, theo quy định của NHNN, các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép áp dụng nhiều phương thức tín dụng cho khách hàng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng các NHTM vẫn chưa đa dạng hóa các hình thức tín dụng, đặc biệt là phương thức tín dụng theo hạn mức và cho thuê tài chính vẫn chưa được triển khai rộng rãi Việc mở rộng các hình thức tín dụng sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn.

1.4.1.5 Công tác huy động vốn

Ngân hàng hoạt động trên nguyên tắc vay để cho vay, do đó việc huy động vốn là yếu tố tiên quyết để thực hiện cho vay Để mở rộng và nâng cao chất lượng khoản vay, ngân hàng cần huy động nguồn vốn lớn và đảm bảo chất lượng Việc đa dạng hóa hình thức huy động như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, và phát hành giấy tờ có giá là cần thiết để đạt được mục tiêu này Nếu ngân hàng huy động được vốn lớn với lãi suất đầu vào thấp, khả năng mở rộng tín dụng sẽ cao hơn Huy động vốn chính là nền tảng cho hoạt động tín dụng đối với các thành phần kinh tế trong nền kinh tế.

1.4.1.6 Trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ tín dụng

Nhân tố từ phía khách hàng

Để vay vốn ngân hàng, khách hàng cần đáp ứng một số điều kiện quan trọng, trong đó tài sản đảm bảo (TSĐB) là yếu tố then chốt TSĐB không chỉ là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra mà còn phải hợp pháp và có giá trị phù hợp với nhu cầu vay Bên cạnh đó, tỷ lệ vốn tự có của khách hàng cũng rất quan trọng, thường không dưới 30%, điều này có thể hạn chế khả năng vay vốn của doanh nghiệp do nhiều doanh nghiệp thiếu TSĐB hoặc không có đủ giấy tờ cần thiết.

Khách hàng vay vốn ngân hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp, thường gặp khó khăn trong việc chứng minh nguồn trả nợ, một yêu cầu quan trọng từ ngân hàng Nhiều doanh nghiệp không thể trình bày rõ ràng các đề xuất vay vốn cho dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh do thiếu kiến thức tài chính tín dụng Trong khi tài sản đảm bảo chỉ là nguồn trả nợ thứ hai, nguồn trả nợ chính từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải đủ khả năng để đảm bảo khả năng trả nợ Do đó, việc chứng minh tính khả thi của các dự án là rất quan trọng Thêm vào đó, các phương án kinh doanh của khách hàng thường không đủ hấp dẫn để thu hút vốn từ ngân hàng, dẫn đến sự ngần ngại trong việc cho vay.

Mức độ tín nhiệm về tài chính và thương hiệu của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp, dẫn đến việc ngân hàng ngần ngại cho vay, đặc biệt là các khoản vay dài hạn Mặc dù ngân hàng đã mở rộng hình thức tín dụng qua các phương án kinh doanh và vay tín chấp, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Đối với các khoản vay trung và dài hạn, ngân hàng quy định vốn vay dựa trên chênh lệch giữa nhu cầu vốn cần thiết và vốn tự có tối thiểu 30% Cụ thể, yêu cầu vốn tự có tối thiểu 10% áp dụng cho các dự án cải tiến kỹ thuật và mở rộng sản xuất Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thiếu nhân lực có khả năng lập dự án khả thi để vay vốn, dẫn đến việc giảm mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với họ.

Thiếu minh bạch trong tài chính là một trở ngại lớn cho doanh nghiệp, vì vậy cần thay đổi cách quản trị và thực hiện kế toán theo chuẩn mực của Nhà nước Doanh nghiệp cũng cần thực hiện kiểm toán hàng năm để đảm bảo tình hình tài chính minh bạch, từ đó tạo điều kiện tiếp cận vốn vay ngân hàng Thay đổi cách quản lý không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả phát triển kinh doanh mà còn giúp họ cạnh tranh tốt hơn trong môi trường ngày càng khốc liệt.

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT

Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh từ năm 2012 - 2015

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG

VIỆT NAM - CHI NHÁNH NAM ĐỊNH

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH NAM ĐỊNH

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh

Ngày 1/4/1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập, là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Vietcombank thực hiện các hoạt động như cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ vận tải, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, và kinh doanh ngoại hối Ngân hàng cũng quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài và làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Vietcombank còn tư vấn cho Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước về chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc và quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước cùng các tổ chức tài chính quốc tế.

Ngày 14/11/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành chỉ thị số 403/CT chuyển Vietcombank thành NHTM quốc doanh Cũng từ đây Vietcombank

Vietcombank, với kinh nghiệm dày dạn trong lĩnh vực ngân hàng đối ngoại, đã nhanh chóng thích ứng với nền kinh tế thị trường và giữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Ngân hàng này không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho Ngân hàng Nhà nước trong việc thực thi chính sách tiền tệ, mà còn đóng góp quan trọng vào việc ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng Vietcombank nổi bật trong các lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối và dịch vụ thẻ Hiện tại, ngân hàng sở hữu một mạng lưới rộng khắp với 1 Hội sở chính, 1 Sở giao dịch, 92 Chi nhánh và hơn 300 phòng giao dịch trên toàn quốc, cùng với 3 công ty con trong nước, 2 công ty con nước ngoài, 3 công ty liên doanh, 1 công ty liên kết, 1 văn phòng đại diện tại Singapore và hơn 1800 ngân hàng đại lý tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Sau hơn 50 năm phát triển, Vietcombank đã khẳng định vị thế và uy tín trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Với đội ngũ cán bộ năng lực và nhạy bén, ngân hàng luôn là lựa chọn hàng đầu cho các tập đoàn lớn và khách hàng cá nhân Trong hơn một thập kỷ qua, Vietcombank liên tục được các tổ chức uy tín toàn cầu công nhận là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” trong nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng.

Vietcombank Nam Định cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, bao gồm tín dụng, huy động vốn, phát hành thẻ, bảo lãnh, thanh toán trong nước và quốc tế, đại lý chi trả ngoại tệ, cùng với dịch vụ kho quỹ.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng của Chi nhánh

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh

Với 23 cán bộ nhân viên ngày đầu thành lập, trải qua hơn 3 năm hình thành và phát triển, Vietcombank Nam Định đang ngày càng khẳng định hình ảnh và vị thế của mình với tổng số 43 cán bộ nhân viên và một phòng giao dịch Trong đó 100% có trình độ đại học và trên đại học Hầu hết đội ngũ cán bộ nhân viên trong Chi nhánh có tuổi đời còn trẻ, vì vậy rất năng động, nhiệt tình trong công việc và chịu khó học hỏi Đồng thời Ban lãnh đạo Chi nhánh cũng thường xuyên chú trọng tổ chức các lớp học bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho cán bộ về mọi mặt.

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ các phòng

V Ban giám đốc: là những người chịu trách nhiệm cao nhất trong ngân hàng, là người quản lý và tổ chức mọi hoạt động của Chi nhánh.

Phòng KH đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn cho Ban giám đốc CN về quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh đối với khách hàng doanh nghiệp, đảm bảo phù hợp với định hướng của NHNT theo từng giai đoạn và các quy định hiện hành Đồng thời, phòng cũng chịu trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao trong từng thời kỳ.

Chủ động tìm kiếm và tiếp thị khách hàng mới, đồng thời thiết lập và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng Tiếp nhận và giải quyết mọi nhu cầu, vướng mắc của khách hàng Thực hiện kiểm tra giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi cấp tín dụng theo quy định Theo dõi và thu nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ gốc, lãi và các khoản phí đầy đủ Thực hiện thẩm định tín dụng, tài trợ thương mại và quản lý nợ cho cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân.

- Tham mưu cho Ban lãnh đạo CN trong công tác lập, xây dựng, giao kế hoạch, tổng hợp báo cáo tại CN.

S Phòng Kế toán thanh toán và Kinh doanh dịch vụ:

Tham mưu cho Ban lãnh đạo Chi nhánh trong công tác hạch toán kế toán và quản lý tài chính, bao gồm chi tiêu nội bộ, quản lý hệ thống máy tính và điện toán, cũng như kiểm kê tài sản và công cụ dụng cụ.

- Tiếp nhận và xử lý mọi yêu cầu của khách hàng về mảng dịch vụ.

Tiếp nhận hồ sơ và giấy tờ liên quan đến khách hàng từ các phòng khách hàng để thực hiện kiểm soát, giải ngân, thu nợ, thu lãi, tất toán khoản vay Đồng thời, quản lý và lưu trữ hồ sơ theo quy định hiện hành.

Tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ triển khai các hoạt động bán lẻ tại chi nhánh, bao gồm việc xây dựng chính sách khách hàng và phát triển các chương trình marketing hiệu quả.

S Phòng Hành chính nhân sự và Ngân quỹ:

- Tham mưu cho Ban giám đốc CN và tổ chức hoạt động trong công tác quản lý cán bộ, văn phòng, hành chính quản trị của CN.

Tổ chức thực hiện quản lý và sử dụng tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, ấn chỉ quan trọng, cùng hồ sơ tài sản cố định của chi nhánh tại nơi giao dịch, kho bảo quản và trong quá trình vận chuyển.

Phòng giao dịch Trần Hưng Đạo hoạt động trực thuộc chi nhánh cấp 1, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tín dụng và huy động vốn cho cả tổ chức và cá nhân.

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh từ năm 2012 - 2015

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại, đóng vai trò quyết định trong các hoạt động nhằm đạt lợi nhuận cho ngân hàng và lợi ích cho doanh nghiệp, khách hàng cũng như nền kinh tế Vietcombank Nam Định đặc biệt chú trọng đến chữ "tín" với khách hàng, xem đó là chìa khóa vàng để thu hút vốn Ngân hàng cũng đa dạng hóa các nguồn vốn bằng cách triển khai nhiều hình thức huy động phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội địa phương, nhằm tối ưu hóa nguồn vốn cho chi nhánh.

Năm 2012, các biện pháp giảm tổng cầu theo Nghị quyết 11 của Chính phủ đã làm giảm sức mua và tốc độ tăng trưởng kinh tế, gây ra nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng thương mại do mất thanh khoản Niềm tin của người dân vào nền kinh tế bị lung lay, tạo nên bức tranh kinh tế ảm đạm kéo dài suốt năm Để đối phó với tình hình này, Chi nhánh Nam Định đã xác định huy động vốn là nhiệm vụ hàng đầu và tích cực triển khai các biện pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn ngay từ khi bắt đầu hoạt động.

Từ 8 tỷ đồng năm 2012, doanh thu của Chi nhánh đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 533 tỷ đồng năm 2013, 807 tỷ đồng năm 2014 và 1.114 tỷ đồng năm 2015 Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đều trên 50%, phản ánh xu hướng phát triển ổn định và bền vững của Chi nhánh.

Cơ cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động tại Chi nhánh Nam Định Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Bảng cân đôi kê toán của Chi nhánh)

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH NAM ĐỊNH

hệ thống Vietcombank Năm 2014 lợi nhuận đạt 1.605 triệu đồng, giảm

Lợi nhuận của Chi nhánh trong năm 2013 là 971 triệu đồng, giảm do chi phí đầu tư cơ sở vật chất tăng khi mở rộng hoạt động và chuẩn bị khai trương hai phòng giao dịch mới tại Hải Hậu và Ý Yên Tuy nhiên, đến năm 2015, lợi nhuận đã nhanh chóng tăng lên 8.192 triệu đồng nhờ vào chiến lược kinh doanh hiệu quả, huy động vốn với chi phí thấp và mở rộng cho vay Bên cạnh đó, doanh thu từ dịch vụ và hoạt động ngoại hối cũng góp phần vào thu nhập Đặc biệt, hoạt động cho vay của Chi nhánh rất lành mạnh với tỷ lệ nợ xấu thấp, dẫn đến tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cũng rất thấp, giúp lợi nhuận đạt được con số khả quan.

2.2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH NAM ĐỊNH

2.2.1 Cơ sở hoạt động tín dụng của Chi nhánh

2.2.1.1 Cơ sở pháp lý hoạt động tín dụng

Ngân hàng Ngoại Thương xét duyệt cho vay khi khách hàng đáp ứng các điều kiện sau: có năng lực pháp luật và hành vi dân sự, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, khả năng tài chính để trả nợ đúng hạn, và phương án sản xuất, kinh doanh hoặc dự án đầu tư khả thi, hiệu quả và tuân thủ pháp luật Đối với các dự án lớn, ngân hàng sẽ tính toán dòng tiền thu nhập tương lai và xem xét thị trường đầu vào, đầu ra Ngoài ra, khách hàng cần có ít nhất 25% vốn tự có tham gia vào dự án để đảm bảo tính thận trọng trong hoạt động kinh doanh.

Ngân hàng Ngoại Thương áp dụng hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng hiệu quả để đánh giá khả năng vay vốn của khách hàng, bao gồm cả doanh nghiệp và cá nhân Hệ thống này dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, giúp cán bộ ngân hàng phân loại khách hàng vào các nhóm A, B.

C, D Ngân hàng sẽ tập trung vào phát triển nhóm khách hàng xếp hạng

A, hạn chế cho vay nhóm khách hàng x ếp hạng B, và dừng cho vay với các khách hàng xếp hạng C, D Tuy nhiên, cách làm này v ẫn còn một số hạn chế như thông tin cán bộ khách hàng thu thập không đấy đủ hoặc thiếu chính xác, báo cáo tài chính c ủa nhiều khách hàng không được kiểm toán với độ tin cậy thấp dẫn đến kết quả xếp hạng cũng không hoàn toàn chính xác.

Hầu hết các đối tượng vay vốn đều cần có tài sản đảm bảo, theo QĐ 30/VCB.CSTD ngày 20/01/15, Ngân hàng TMCP Ngoại Thuong quy định tỷ lệ cho vay tối đa 70% giá trị tài sản đảm bảo (TSBĐ) dựa trên xếp hạng tín dụng của từng khách hàng Quy định này giúp cán bộ ngân hàng dễ dàng xác định mức cho vay, tuy nhiên, thực tế cho thấy khoản vay thường thấp hơn nhu cầu của doanh nghiệp do tài sản thế chấp thường là bất động sản được định giá theo giá Nhà nước, thường thấp hơn giá thị trường Mặc dù ngân hàng đã giảm bớt sự chú trọng vào yếu tố này trong những năm gần đây, nhưng đây vẫn là một trở ngại lớn cho khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong việc tiếp cận vốn vay.

Theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ và Thông tư 07/2003/TT-NHNN ngày 19/5/2003 của NHNN, có hai hình thức bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.

Thứ nhất, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Biện pháp này bao gồm 3 hình thức: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của

KH có thể vay vốn từ ngân hàng hoặc bên thứ ba, với tài sản hình thành từ vốn vay làm đảm bảo Ngân hàng Ngoại Thương quy định hai hình thức cho vay đảm bảo bằng tài sản: đảm bảo toàn bộ và đảm bảo một phần.

Cấp tín dụng có đảm bảo toàn bộ là trường hợp mà giá trị khoản vay không vượt quá tỷ lệ cho vay tối đa theo quy định dựa trên tổng giá trị tài sản bảo đảm Đối với đất ở, tỷ lệ vay tối đa là 70% Khách hàng bắt buộc phải sử dụng biện pháp đảm bảo toàn bộ bằng tài sản trong các trường hợp như không có điểm xếp hạng tín dụng hoặc có xếp hạng tín dụng loại C hoặc D.

Cấp tín dụng có đảm bảo là trường hợp khoản vay vượt tỷ lệ cho vay tối đa so với tổng giá trị tài sản đảm bảo (TSBĐ), với tỷ lệ TSBĐ tối thiểu thường dựa vào điểm xếp hạng của khách hàng Ngân hàng cần đánh giá giá trị TSBĐ, có thể tự định giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá độc lập Tuy nhiên, việc thuê thẩm định giá tốn kém có thể gây phàn nàn từ khách hàng, do đó, với các khoản vay và TSBĐ có giá trị thấp, cán bộ ngân hàng thường tự định giá theo hướng dẫn và quy định của Ngân hàng Việc phê duyệt giá trị TSBĐ được quy định chặt chẽ; cấp nào phê duyệt cấp tín dụng cũng sẽ phê duyệt định giá TSBĐ, và các khoản vay cần thông qua Hội đồng tín dụng cơ sở hoặc Trung Ương thì TSBĐ cũng phải được phê duyệt bởi các cơ quan này.

Thứ hai, biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Ngân hàng chỉ lựa chọn khách hàng để cho vay không có bảo đảm tài sản khi khách hàng đó có uy tín cao, được xếp loại AA, và có hoạt động kinh doanh có lãi trong hai năm liên tiếp trước thời điểm xem xét cho vay Ngoài ra, khách hàng cần phải có dự án và phương án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả.

NH ưu tiên cho vay cho cán bộ công nhân viên có lương trả qua tài khoản Vietcombank, đồng thời yêu cầu chứng minh nguồn thu nhập đủ khả năng trả nợ.

Mặc dù trong quy định là như thế nhưng trên thực tế thì hầu hết KH muốn vay vốn ở Chi nhánh đều phải có tài sản thế chấp.

Chi nhánh hiện đang áp dụng tất cả các loại hình cho vay từ ngắn hạn đến dài hạn cho khách hàng Mặc dù mới hoạt động ba năm, chi nhánh đã phát triển đa dạng các loại hình vay Tuy nhiên, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 60 đến 70% trong tổng dư nợ cho vay.

Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay đã trở nên mạnh mẽ hơn với sự đa dạng trong đối tượng khách hàng và nhu cầu vay vốn ngày càng tăng, đồng thời diễn biến phức tạp của nền kinh tế yêu cầu một hệ thống quy trình chi tiết và nhanh chóng Ngân hàng Ngoại Thương đã không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản cấp tín dụng của mình bằng cách ban hành các quy trình cho vay cho từng nhóm khách hàng, như quy trình cho vay cho doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với các quy trình cho vay sản phẩm bán lẻ cho khách hàng cá nhân Những quy trình này quy định rõ ràng từng bước từ khâu nhận hồ sơ, thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng, đến rút vốn và kiểm tra sau Nhờ đó, Ngân hàng Ngoại Thương đã đáp ứng hầu hết các nhu cầu vay vốn của khách hàng, đảm bảo việc cấp tín dụng diễn ra an toàn và giảm thiểu rủi ro tín dụng tối đa.

2.2.2 Thực trạng mở rộng hoạt động tín dụng của Chi nhánh

2.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng tổng dư nợ cho vay của NHNT

Chi nhánh Nam Định Đơn vị: Tỷ đồng

Tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh Nam Định có sự tăng trưởng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước.

Trong 3 năm gần đây, kinh tế thế giới và kinh tế trong nước có nhiều biến động không ngừng tác động xấu tới tình hình tài chính của các doanh nghiệp, thị trường vàng nhiều biến động, thị trường bất động sản lâm vào tình trạng đóng băng đã làm cho nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản sa sút Nền kinh tế trong trạng thái “thừa tiền, thiếu vốn” Vietcombank Nam Định bắt đầu hoạt động từ tín dụng là 912 tỷ đồng, tăng 87,27% so với năm 2013 Và đến năm 2015 dư nợ tín dụng là 1.398 tỷ đồng, tăng 53,29% so với năm 2014 Dư nợ tín dụng tăng trưởng cả về số tuyệt đối, cả về tương đối Tốc độ tăng trưởng dư nợ cũng khá ổn định qua các năm Để đạt được kết quả này, từ năm 2013 Chi nhánh đã chủ động áp dụng các gói sản phẩm hỗ trợ lãi suất cho khách hàng Ví dụ như gói ưu đãi lãi suất VND đối với DNVVN tháng 05/2013 sàn lãi suất là 8,5%/năm trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn với các doanh nghiệp này trên thị trường giai đoạn này vào khoảng 10% Hay gói ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình với quy mô 3.000 tỷ đồng năm 2014 với mức sàn lãi suất là 7,99%/ năm trong khi mức lãi suất bình quân nhóm này trên thị trường vẫn ở mức 10%- 12%.

Vietcombank hiện đang cung cấp các khoản vay ngoại tệ với lãi suất thấp khoảng 4% - 4,5%/năm, đồng thời cũng áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam rất cạnh tranh Ngân hàng này luôn tiên phong trong việc hạ lãi suất cho vay và huy động, giữ vị trí hàng đầu với mức lãi suất thấp nhất trên thị trường Từ đầu tháng 5/2013, lãi suất cho vay ngắn hạn của Vietcombank đã giảm mạnh xuống còn khoảng 10,5%/năm, trong khi lãi suất cho vay trung và dài hạn cho doanh nghiệp chỉ còn khoảng 11,6%/năm.

2 290 31,80 511 36,55 ɪ Theo loại hình kinh tế

Bảng 2.5: Cơ cấu cho vay tại Vietcombank CN Nam Định Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính Chi nhánh)

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT

Ngày đăng: 21/04/2022, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Với 23 cán bộ nhân viên ngày đầu thành lập, trải qua hơn 3 nămhình thành và phát triển, Vietcombank Nam Định đang ngày càng khẳng định hình ảnh và vị thế của mình với tổng số 43 cán bộ nhân viên và một phòng giao dịch - 0127 giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại NHTM CP ngoại thương VN   chi nhánh nam định   luận văn thạc sỹ (FILE WORD)
i 23 cán bộ nhân viên ngày đầu thành lập, trải qua hơn 3 nămhình thành và phát triển, Vietcombank Nam Định đang ngày càng khẳng định hình ảnh và vị thế của mình với tổng số 43 cán bộ nhân viên và một phòng giao dịch (Trang 45)
động không ngừng tác động xấu tới tình hình tài chính của các doanh nghiệp, thị - 0127 giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại NHTM CP ngoại thương VN   chi nhánh nam định   luận văn thạc sỹ (FILE WORD)
ng không ngừng tác động xấu tới tình hình tài chính của các doanh nghiệp, thị (Trang 63)
ɪ Theo loại hình kinh tế - 0127 giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại NHTM CP ngoại thương VN   chi nhánh nam định   luận văn thạc sỹ (FILE WORD)
heo loại hình kinh tế (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w