Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
PHAN LÊ HUY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA
BÀN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
BÌNH DƯƠNG - NĂM 2021
Trang 2PHAN LÊ HUY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU - KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 80140114 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VĂN TRUNG
BÌNH DƯƠNG - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Phan Lê Huy, học viên cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục, khóa
4 (2017– 2019) tại Trường Đại Học Thủ Dầu Một Bình Dương
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Văn Trung thì kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa có ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Người cam đoan
Phan Lê Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, quý thầy/cô Khoa Quản lý giáo dục Trường Đại học Thủ Dầu Một - Bình Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cán bộ quản lý, tập thể giáo viên các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cùng bạn
bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất và đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn thầy TS Trần Văn Trung, giảng viên Đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Dù chúng tôi đã cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự quan tâm chỉ dẫn của quý thầy/cô và đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ xii
TÓM TẮT xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung học cơ sở 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Nhóm các phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Quan điểm phương pháp luận 5
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 6
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 8
Trang 6CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO
HỌC SINH YẾU KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 8
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Ngoài nước 8
1.1.2 Trong nước 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường trung học cơ sở 13
1.2.2 Khái niệm học sinh yếu kém 17
1.2.3 Khái niệm về hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém 17
1.2.4 Hoạt động học phụ đạo của học sinh yếu kém 18
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở trường trung học cơ sở 18
1.3 Lý luận về hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở 19
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS 19
1.3.2 Nội dung dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS 20
1.3.3 Phương pháp dạy phụ đạo HS yếu, kém trong trường THCS 21
1.3.4 Hình thức dạy phụ đạo HS yếu, kém trong trường THCS 22 1.4 Lý luận về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở 23
1.4.1 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém trong trường trung học cơ sở 23
1.4.2 Nội dung của quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở 24
Trang 71.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phụ đạo học sinh yếu kém
trong các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 30
1.5.1 Các yếu tố khách quan 30
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Chương 2 35
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO 35
HỌC SINH YẾU KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 35
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 35
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội; giáo dục và đào tạo của thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 35
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 35
2.1.2 Tình hình Giáo dục và Đào tạo của thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 36
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở trường trung học cơ sở ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương36 2.2.1 Mục đích khảo sát 36
2.2.2 Đối tượng khảo sát 37
2.2.3 Nội dung khảo sát 37
2.2.4 Phương pháp khảo sát 38
2.2.5 Qui ước thang đo 40
2.3 Thực trạng hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 41
2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động dạy phụ đạo HS yếu, kém ở trường THCS 41
2.3.2 Thực trạng về nội dung dạy phụ đạo HS yếu, kém ở trường THCS 42
Trang 82.3.3 Thực trạng về phương pháp dạy phụ đạo HS yếu, kém ở
trường THCS 45
2.3.4 Thực trạng về hình thức dạy phụ đạo cho HS yếu, kém ở trường THCS 47
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động phụ đạo học sinh yếu kém các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 51 2.4.1 Thực trạng nhận thức của CB, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 51
2.4.2 Thực trạng công tác lập kế hoạch về quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 52
2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động bộ máy quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 54
2.4.4 Thực trạng công tác chỉ đạo về hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 56
2.4.5 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 57
2.4.6 Thực trạng về quản lý điều kiện CSVC, phương tiện phục vụ hỗ trợ cho hoạt động phụ đạo HS yếu kém 58
2.5 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 60
2.6 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 61
2.6.1 Ưu điểm 61
2.6.2 Hạn chế 62
2.6.3 Nguyên nhân 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
Trang 9Chương 3 65
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO 65
HỌC SINH YẾU KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 65
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 65
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp mang lại hiệu quả quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu, kém ở trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 65
3.1.1 Cơ sở khoa học 65
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 65
3.1.3 Cơ sở pháp lý 65
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý 66
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 66
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 67
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67
3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.3 Các biện pháp mang lại hiệu quả quản lý hoạt động dạy phụ đạo cho HS yếu kém ở trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 68
3.3.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng nhận thức cho giáo viên và cán bộ quản lí về tầm quan trọng của hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS 68
3.3.2 Biện pháp 2: Cải tiến nội dung chương trình, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy phụ đạo phù hợp với đối tượng học sinh yếu kém 70
3.3.3 Biện pháp 3: Bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho GV dạy phụ đạo học sinh yếu kém 72
Trang 103.3.4 Biện pháp 4: Tổ chức thực hiện hoạt động dạy phụ đạo cho
HS yếu kém phù hợp với tình hình từng trường THCS 74
3.3.5 Biện pháp 5: Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động dạy phụ đạo cho phù hợp 78
3.3.6 Biện pháp 6: Tăng cường các nguồn lực đảm bảo thực hiện hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS 81
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.5.5 Kết quả khảo nghiệm 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 92
2.1 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 92
2.2 Đối với cán bộ quản lý các trường THCS 92
2.3 Đối với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn 92
2.4 Đối với phụ huynh học sinh 93
2.5 Đối với học sinh 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 1 1
PHỤ LỤC 2 9
PHỤ LỤC 3 16
PHỤ LỤC 4 19
PHỤ LỤC 5 20
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
3 Bảng 2.3 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về tầm quan
trọng của hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém 41
4
Bảng 2.4 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về mức độ thực
hiện nội dung dạy phụ đạo học sinh yếu kém 43
5 Bảng 2.5 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về kết quả thực
hiện nội dung dạy phụ đạo học sinh yếu kém 45
6 Bảng 2.6 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về mức độ thực
hiện phương pháp dạy phụ đạo học sinh yếu kém 46
7 Bảng 2.7 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về kết quả thực
hiện phương pháp dạy phụ đạo học sinh yếu kém 46
8 Bảng 2.8 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về mức độ thực
hiện hình thức dạy phụ đạo học sinh yếu kém 47
9 Bảng 2.9 Ý kiến khảo sát của CBQL và GV về kết quả thực
hiện hình thức dạy phụ đạo học sinh yếu kém 49
10 Bảng 2.10 Đánh giá của CBQL và GV về vai trò quản lý hoạt
11 Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL và GV về việc thực hiện lập
kế hoạch quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 52
Trang 1312 Bảng 2.12 Đánh giá của CBQL và GV về việc đảm bảo các
yêu cầu của kế hoạch hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 53
13 Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL và GV về việc tổ chức bộ
máy thực hiện hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém 54
14 Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL và GV về việc tổ chức thực
hiện các nội dung hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém 55
15 Bảng 2.15 Đánh giá của CBQL và GV về công tác chỉ đạo về
16 Bảng 2.16 Đánh giá của CBQL và GV về công tác kiểm tra
17 Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL và GV về công tác kiểm tra
18 Bảng 2.18 Đánh giá của CBQL và GV về những yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém 60
26 Bảng 3.2 Quy ước thang đo kết quả khảo nghiệm 86
27 Bảng 3.3 Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL và GV về tính
cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 87
Trang 14DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1 Biểu đồ tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 89
Trang 15TÓM TẮT
Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở trường trung học cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng, có tác dụng nâng cao kết quả học tập của học sinh cũng như chất lượng giáo dục của nhà trường Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém là một trong những hoạt động thường xuyên mang tính cần thiết chứ không phải mang tính hình thức và đối phó
Thị xã Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương là một trong những khu vực đang phát triển nhanh về mọi mặt, trong đó có giáo dục Các nhà quản lý giáo dục luôn phát huy năng lực của mình sao cho chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và địa phương Tuy nhiên, một số trường trung học cơ sở vẫn còn xem nhẹ công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém, vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đối với hoạt động này dẫn đến kết quả
là chất lượng giáo dục không cao Do đó, để đáp ứng nhu cầu của giáo dục, đảm bảo hoạt động dạy phụ đạo cho sinh yếu kém được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả cần có sự đổi mới nhằm phát huy các nguồn lực của nhà trường và khắc phục những hạn chế còn tồn tại
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và chỉ ra những
ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, luận văn đã đề xuất 6 biện pháp quản lý nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém, từ đó góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trong các nhà trường Các biện pháp đó là: Bồi dưỡng nhận thức cho giáo viên và cán bộ quản lí về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS; cải tiến nội dung chương trình, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy phụ đạo phù hợp với đối tượng học sinh yếu kém; nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho GV dạy phụ đạo học sinh yếu kém; Tổ chức thực hiện hoạt động dạy phụ đạo cho HS yếu kém phù hợp với tình hình từng trường THCS; Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động dạy phụ đạo cho phù hợp; Tăng cường các
Trang 16nguồn lực đảm bảo thực hiện hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS
Có thể nói mỗi biện pháp có một ý nghĩa khác nhau Các biện pháp này luôn
có mối quan hệ biện chứng với nhau, biện pháp này làm tiền đề thúc đẩy biện pháp kia và ngược lại Từ đó tạo nên sự thống nhất chặt chẽ và đem lại hiệu quả cao trong quá trình tổ chức thực hiện Tuy nhiên sẽ kém hiệu quả nếu các biện pháp tách rời nhau trong quá trình giáo dục
Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đánh giá khá cao, qua đó, tác giả nhận thấy rằng các biện pháp đã đề ra là có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phù hợp với thực trạng nghiên cứu, rất thiết thực và có tính khả thi cao
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục nước ta, cấp trung học cơ sở là cấp học cơ bản, là giai đoạn trung gian giữa tiểu học và trung học phổ thông Ở giai đoạn này, học sinh cần được cung cấp những kiến thức khoa học cơ bản nhất, cần được hình thành bước đầu các kỹ năng học tập cơ bản để có thể vững vàng khi học lên các bậc học cao hơn, cần được giáo dục các giá trị sống cốt lõi, các kỹ năng xã hội phù hợp với lứa tuổi để hình thành và phát triển nhân cách Như vậy, các hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở là vô cùng quan trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn Phụ đạo học sinh (HS) yếu kém là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường học nào Việc tổ chức các lớp phụ đạo cho HS yếu kém là một hoạt động dạy học thường xuyên, cần thiết chứ không phải chỉ là phong trào thi đua hoặc để đối phó với đợt thi hoặc kiểm tra
Thực tế cho thấy chất lượng của giáo dục còn một số bất cập như hiện tượng
“ngồi nhầm lớp”; học sinh yếu kém ở các trường vẫn tồn tại; chất lượng và tinh thần học tập của một bộ phận học sinh phổ thông hiện nay đang giảm sút; tình trạng học sinh thiếu kiến thức căn bản, kém về năng lực chủ động và sáng tạo, thiếu ý chí và hứng thú học tập, lười biếng, chán nản, bỏ học và nhiều tiêu cực khác gây ra hậu quả cho bản thân HS, gia đình, nhà trường, xã hội Song song với những vấn đề đó,
sự phân hóa trình độ học sinh cũng ngày càng rõ rệt
Trong Công văn số 1497/SGDĐT-GDTrHTX ngày 30/8/2018 của của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2018 – 2019 (Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, 2019)
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học số 1079/PGDĐT- THCS ngày 04/9/2018 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Thuận An về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 – 2019 (Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Thuận An, 2018)
Chỉ thị số 2919/CT - BGDĐT ngày 10/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019 của ngành Giáo dục Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn cụ thể thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo
Trang 18công đã nêu việc Phụ đạo, củng cố và ôn tập kiến thức là cần thiết Chính vì thế việc tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy nói chung và hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém nói riêng ở các trường trung học cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng vì nó góp phần nâng dần chất lượng học tập của HS, giúp các em HS yếu kém tự tin hơn khi đến lớp, có được một nền tảng kiến thức cần thiết, tạo điều kiện cho các em học tập tiếp lên các lớp trên; công tác duy trì sĩ số mới được bảo đảm, góp phần làm nên thắng lợi công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở Quản lý công tác giảng dạy nói chung và hoạt động phụ đạo nói riêng là một công việc khó khăn đối với nhà quản
lý Để hạ thấp dần tỉ lệ HS yếu kém, đảm bảo chất lượng Giáo dục và Đào tạo trong nhà trường, tạo sự cân đối về chất lượng học tập của HS giữa các trường nói chung
và các trường trung học cơ sở nói riêng, các nhà quản lý cần có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động phụ đạo HS yếu kém Làm thế nào để giảm tỷ lệ học sinh yếu kém trong nhà trường đó là điều băn khoăn, trăn trở từ cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn đến giáo viên chủ nhiệm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018)
Cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương- Trách nhiệm” trong toàn Ngành đã và đang được đẩy mạnh, cùng với việc triển khai các cuộc vận động
“Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, kết hợp cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, không vi phạm phẩm chất người thầy giáo, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp” Để nâng cao giá trị thực tiễn các cuộc vận động đòi hỏi đội ngũ cán bộ - giáo viên càng phải nhận thức đầy đủ hơn, triển khai hoạt động dạy học tích cực hơn, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phụ đạo học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục chất lượng giáo dục ở cấp trung học cơ sở và chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung trên địa bàn thị xã Thuận An đã có sự khởi sắc, đã đạt được những thành tựu nhất định các trường trung học cơ sở trên địa bàn đã không ngừng đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng
Trang 19cao, đặc biệt chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học đã đạt được những thành tích đáng khích lệ
Cơ sở vật chất của nhà trường được UBND tỉnh Bình Dương, UBND thị xã Thuận An đầu tư và trang bị đầy đủ và hiện đại từ đó yêu cầu về chất lượng dạy và học đối với các trường THCS trên địa bàn cũng cao hơn Trường phải thực hiện
“kiểm định” (đánh giá ngoài) và đạt chuẩn quốc gia
Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản, một phần là do các em không thích học, không biết cách học dẫn đến ngày một tụt hậu so với trình độ chung của lớp Vì thế, việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém là việc làm cần thiết, cấp bách trong giai đoạn giáo dục hiện nay Hay nói cách khác, phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường học nào nói chung Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy, của nhà trường để góp phần giúp cho các học sinh không theo kịp bạn bè có thể nắm bắt được những
lỗ hổng kiến thức bản thân Công tác phụ đạo học sinh yếu kém không thể nóng vội, phải có lộ trình hợp lý, có biện pháp hiệu quả và kịp thời, có kế hoạch riêng biệt cho mỗi học sinh Với lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, giáo viên trong cả nước đã suy nghĩ tìm tòi nhiều biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém Và theo nhiều giáo viên hiện nay, chưa bao giờ họ chịu nhiều áp lực dạy học như hiện nay, nhất là với công tác giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ
Việc phụ đạo học sinh yếu kém của các trường trên đại bàn thị xã Thuận An chỉ bắt đầu từ Hiệu trưởng chỉ đạo trên các cuộc họp chuyên môn và Hội đồng sư phạm, chỉ đạo Phó Hiệu trưởng tổ chức dạy phụ đạo HS yếu kém, phần lớn giáo viên tự sàn lọc HS yếu kém của bộ môn mình giảng dạy ra để dạy phụ đạo Từ đó cho thấy chưa có biện pháp quản lí thích hợp, chưa có kế hoạch cụ thể, kiểm tra và đánh giá chưa thật sự sâu sắc
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học
và quản lý dạy học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An phù hợp với yêu cầu của thời đại toàn cầu hóa, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã
Trang 20Thuận An, tỉnh Bình Dương” với mong muốn tìm ra các biện pháp quản lý để hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém của Trường có hiệu quả tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội đòi hỏi trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Nội dung: Trọng tâm của đề tài là đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học phụ đạo cho học sinh yếu kém, cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy phụ đạo, đánh giá thực trạng việc dạy học, thực trạng quản lý dạy phụ đạo học sinh yếu kém,
từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới sự quản
lý của Hiệu trưởng
4.2 Về địa bàn và thời gian nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu công tác quản
lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An từ năm học 2017-2018 đến nay
4.3 Về đối tượng khảo sát: đề tài khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Dự kiến khảo sát cán bộ quản lý (CBQL) của 11 trường và giáo viên (GV) là 300
Trang 215 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phụ đạo HS yếu kém được thực hiện ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An nhưng công tác quản lý hoạt động này ở các trường trung học cơ sở thực hiện chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao và còn một số hạn chế
Từ thực trạng công tác quản lý hoạt động phụ đạo HS yếu kém ở các trường trung học cơ sở, có thể đề xuất một số biện pháp quản lý đến các nhà quản lý giúp cải tiến quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém, cải thiện chất lượng và hiệu quả quản lý hoạt động dạy phụ đạo ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An trong giai đoạn hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
6 2 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, Bình Dương
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
7 Nhóm các phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém được xem xét một cách toàn diện, đồng thời phân tích được các nội dung của công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém và chỉ ra được mối quan hệ chặt chẽ trong quản
lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém
Sự tác động qua lại của các mặt: dạy, học, nội dung và kết quả đánh giá
7.1.2 Quan điểm lịch sử – logic
Giúp người nghiên cứu xác định phạm vi thời gian, không gian và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để điều tra, thu thập số liệu chính xác phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Trang 22Người nghiên cứu bám sát thực tế công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém của các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương để tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những nguyên nhân hạn chế, để từ đó
đề ra các biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng hai mặt giáo dục và hiệu quả quản lý hoạt động dạy phụ đạo
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường; các văn bản chỉ đạo trong nhà trường như Thông tư; Điều lệ, quy chế, hướng dẫn về các lĩnh vực giáo dục; các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước Trên cơ sở đó xây dựng cơ sở
lý luận nghiên cứu của đề tài
Phân tích, tổng hợp hệ thống hoá các vấn đề lý luận về công tác quản lý hoạt động phụ đạo HS yếu kém trong các tài liệu, văn kiện của Đảng và nhà nước, văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT, của ngành giáo dục, các tài liệu liên quan đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng, phụ đạo HS yếu kém ở trường trung học cơ sở làm cơ
sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: sử dụng phương pháp này để phân tích các hồ sơ, tài liệu về hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém của nhà trường, về kế hoạch, bảng số liệu thống kê; các biên bản kiểm tra; nội dung, chương trình phụ đạo; đề tài sáng kiến kinh nghiệm về phụ đạo HS yếu kém; các bản báo cáo sơ kết, tổng kết về tình hình dạy phụ đạo HS yếu kém của nhà trường
7.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: xây dựng mẫu phiếu trưng cầu
ý kiến cho 02 đối tượng: Cán bộ quản lý và giáo viên; thu thập thông tin, số liệu để đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn: trao đổi, phỏng vấn CBQL, GV về công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém của nhà trường Tham khảo các báo, tạo chí, trang thông tin mạng điện tử có liên quan đến nội dung của đề tài
Trang 237.3 Phương pháp thống kê: tôi sử dụng chương trình SPSS tính các giá trị như sau: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng,
vẽ biểu đồ…Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được từ quá trình điều tra
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
Trang 24Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO HỌC SINH
YẾU KÉM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc phụ đạo học sinh yếu kém là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cơ quan chức năng và của mỗi GV Đối với GV các trường, lớp công việc này lại càng cần thiết hơn, bởi vì phải phát hiện ra những HS học sinh học chưa tốt Hơn nữa, ở một mức độ nhất định chương trình không có thời lượng để phụ đạo học sinh
Trong công cuộc đổi mới GD hiện nay, việc phát hiện và phụ đạo học sinh yếu kém nhằm góp phần nâng cao chất lượng bộ môn cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường Xác định được nhiệm vụ quan trọng này, đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phụ đạo học sinh yếu kém trong nhà trường
1.1.1 Ngoài nước
Ở Mỹ là nước có nền kinh tế và giáo dục phát triển đứng hàng đầu thế giới, nhưng tình trạng trẻ em bỏ học, trốn học, tham gia các băng đảng, nghiện hút…không phải ít Và người ta chủ trương tập trung các em này trong các trường đặc biệt để giáo dục Trong cuốn sách “Quản lý những nhu cầu đặc biệt ở nhà trường bình thường” Neville jones và Tim Southgate đã chỉ ra: Với những học sinh bình thường, ta có các giải pháp giáo dục bình thường, đại trà để bảo đảm yêu cầu giáo dục cho số đông Nhưng bên cạnh những học sinh bình thường này, bao giờ cũng có những học sinh khuyết tật về cơ thể như thiểu năng trí tuệ, mù lòa, câm điếc, tàn tật chân tay…ta phải có những lớp riêng, trường riêng cho loại học sinh này Mặt khác lại có những học sinh có khuyết tật về tính cách do những nguyên nhân xã hội, số lượng cũng không nhỏ, chúng cần được chăm sóc giáo dục đặc biệt,
vì bao giờ chúng cũng có những nhu cầu riêng biệt hết sức chính đáng Nếu đem những phương pháp giáo dục thông thường áp dụng cho những học sinh đặc biệt này, thì điều đó không chỉ thể hiện cách làm quan liêu, thiếu trách nhiệm của một số nhà sư phạm, mà còn cho thấy hơn ai hết, họ chính là những người đã vi phạm quyền con người, vi phạm quyền bình đẳng của con người Giáo dục hơn ai hết phải
Trang 25là nơi đảm bảo cho quyền con người và sự bình đẳng của con người được phát triển đầy đủ tốt đẹp nhất (Neville jones và Tim Southgate, 2002)
Aristốt (384-322 trước CN), một nhà triết học, giáo dục lớn của Hi Lạp, đã cho rằng: “Muốn giáo dục con người phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhu cầu phát triển của trẻ Nếu không tuân thủ qui luật tự nhiên này sẽ dẫn đến sự áp đặt giáo dục hoặc bỏ lỡ thời cơ phát triển của trẻ” Ông quan niệm trẻ em phát triển qua các thời kỳ, mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển riêng về sinh lý và tâm lý nên phải có nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục thích hợp (Aristốt, 384-322 trước CN)
Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa ở Tây Âu, một trong những đặc điểm của nhà trường mới là việc giảng dạy cần dựa vào sự hoạt động cá nhân và hứng thú của trẻ Theo Deway (1859 – 1952), người có ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục thực dụng - giáo dục phải xuất phát từ hứng thú và kinh nghiệm thực tế của trẻ em, trong quá trình giáo dục phải chú ý đến trẻ em và tổ chức dạy học phải xuất phát từ những hứng thú của trẻ (Deway, 1859 – 1952)
Trong những công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục Nga, khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên” (P.V Zimin, 1985)
V.A.Xukhôlinxki, Jaxapob nêu ra một số vấn đề quản lý của hiệu truởng trường phổ thông như phân công nhiệm vụ giữa hiệu trưỏng và phó hiệu trưởng Các tác giả thống nhất khẳng định: Người hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác lãnh đạo nhà truờng (P.V Zimin, 1985)
Ở thời kỳ phong kiến, Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của giáo dục Ông cho rằng, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển thì giáo dục là một trong những thành tố không thể thiếu được của mỗi người dân, mỗi dân tộc, Dân tộc ngu dốt không thể mạnh được Chính vì vậy, ông chủ trương mọi người đều được giáo dục Trong quá trình dạy học, Khổng Tử luôn xuất phát từ người học để đặt ra yêu cầu
và nội dung giáo dục vừa sức Đối với Khổng Tử, ông áp dụng nguyên tắc “sát đối
Trang 26tượng”, tùy trình độ môi sinh (học trò) mà ông dạy cho mỗi người một cách khác nhau, không đồng loạt Do vậy, dù ở trình độ nào học trò của ông cũng có thể tiếp thu được Do đó, ông có hàng trăm học trò giỏi Khổng Tử là người quán triệt rất cao về nguyên tắc cá biệt hóa đối tượng dạy và học trong giáo dục (Khổng Tử, 551-
479 trước CN)
1.1.2 Trong nước
Học sinh yếu kém được hiểu là những học sinh bị xếp loại yếu hoặc kém về mặt học lực sau một quá trình học tập tại trường phổ thông Đó là niềm băn khoăn, trăn trở của lực lượng sư phạm từ giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp đến CBQL nhà trường
Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ luôn được coi là động lực và quốc sách hàng đầu, là then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước Gần 40 năm trở lại đây đã có nhiều Nghị quyết của Trung ương ban hành về các nội dung này: Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IV, năm 1979 đã nêu “Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động
tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 1979)
Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" (Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam, 2005)
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
Trang 27tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, 2011)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013)
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi" (Chính phủ, 2012)
Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đã nêu rõ “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách,
là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát
Trang 28triển, được ưu tiên đi trước trong chương trình, phát triển kinh tế - xã hội” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013)
TS Trần Thị Hương có nghiên cứu chuyên đề về Quản lý hoạt động dạy học
là những tác động của chủ thể quản lý vào hoạt động dạy học được tiến hành bởi
GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học (Trần Thị Hương, 2014)
Vụ Giáo dục Trung học phối hợp với Dự án Giáo dục trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất tổ chức biên soạn tài liệu: Hướng dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực để phục vụ trong đợt tập huấn cán bộ quản
lý, giáo viên về đổi mới KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh trường THCS vùng khó khăn nhất (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014)
Theo nghiên cứu của Dương Thị Ngọc Diệp (2012), quản lý hoạt động phụ đạo học sinh yếu kém là quá trình CBQL hoạch định và tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phụ đạo HS yếu của giáo viên nhằm bổ sung, ôn tập, củng
cố hệ thống kiến thức, rèn luyện kỹ năng tương ứng, nâng cao và hoàn thiện năng lực học tập của HS yếu ở những môn học nhất định nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng Công tác quản lý hoạt động phụ đạo HS yếu của CBQL còn nhiều mặt hạn chế, thường là do: nhận thức và thái độ của một số CBQL
và giáo viên còn hạn chế; tìm hiểu và phân loại HS chưa quan tâm đầy đủ; thiếu kinh phí và thời gian hỗ trợ cho hoạt động phụ đạo HS yếu; thực hiện các chức năng quản lý chưa tốt; Chưa thực hiện được các biện pháp quản lý phù hợp; Kiểm tra, giám sát chưa phát hiện được những bất cập nên điều chỉnh không kịp thời (Dương Thị Ngọc Diệp, 2012)
Đinh Thị Thanh Tâm (2013) cho rằng “Người dạy học trước hết phải làm cho người học tự tin sẽ học tốt môn này và từng bước đưa người học đi vào say mê học Để làm được điều đó thì người dạy học phải vận dụng một số phương pháp
gây hứng thú cho HS trong quá trình giảng dạy của mình” (Đinh Thị Thanh Tâm,
2013)
Theo Võ Tấn Phát (2016), việc nắm bắt, nhận diện và phân luồng đối tượng học sinh là một việc làm hết sức cần thiết đối với một giáo viên dạy lớp cũng như
Trang 29đối với CBQL nhà trường để từ đó có những biện pháp, giải pháp chỉ đạo thực hiện giảng dạy một cách có hiệu quả đối với từng loại đối tượng học sinh, trong đó bao gồm cả học sinh yếu kém Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát là một việc làm vô cùng quan trọng đối với người lãnh đạo Võ Tấn Phát (2016) Vì nó quyết định sự thành bài của các nội dung của kế hoạch giảng dạy mà trường đã đề ra Việc khen thưởng học sinh có sự tiến bộ trong học tập là một việc làm không thể không thực hiện khi thực hiện hoạt động giảng dạy mà đặc biệt là giảng dạy đối với học sinh yếu, kém
Khi thực hiện một nhiệm vụ hay một kế hoạch nào đó, nếu chúng ta bỏ qua khâu kiểm tra giám sát mà đặc biệt là khâu sơ, tổng kết rút kinh kinh nghiệm thì nhiệm vụ đó, kế hoạch đó sẽ đạt kết quả không như mong đợi, có khi sẽ dẫn đến thất bại vì ta không tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm để tìm ra những hạn chế, sai sót
mà điều chỉnh cho kịp thời Do đó, theo Võ Tấn Phát (2016), khâu sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm là một khâu vô cùng quan trọng trong công tác phụ đạo học sinh yếu kém (Võ Tấn Phát, 2016)
Trần Thị Thủy nghiên cứu chuyên đề phụ đạo học sinh yếu kém đã đạt được những mục tiêu tích cực: nhằm mục đích đẩy mạnh nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy các môn học, hướng tới việc xây dựng và thực hiện dạy học theo chủ đề Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, phấn đấu đạt chỉ tiêu đề
ra (Trần Thị Thủy, 2019)
Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp
lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường trung học cơ
sở
1.2.1.1 Quản lý
Có nhiều khái niệm khác nhau đễ cập tới khái niệm về Quản lý:
Trang 30Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là “Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” (Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010)
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” (Trần Kiểm, 2003)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” (Đặng Quốc Bảo, 2005)
Theo tác giả Phan Văn Kha khái niệm quản lý trong hoạt động giáo dục được hiểu là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” (Phan Văn Kha, 2007)
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” (Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ, 1998)
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê thì: “QL là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” (Hoàng Phê, 1998)
Từ những khái niệm trên, trong khuôn khổ đề tài, tác giả khái niệm: “Quản
lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch của
Trang 31chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất”
Cần phải hiểu khái niệm quản lý đầy đủ bao hàm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh Hệ thống đó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện khách quan
- Quản lý bao giờ cũng là hoạt động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng của quản lý), có quan hệ qua lại, tương tác lẫn nhau
- Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau nhằm đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu, và nếu xét về mặt công nghệ là sự vận động thông tin
- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn của môi trường
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người, bởi vì thực chất của quản lý là quản lý con người, vì và do lợi ích của con người
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “QL nhà trường hay nói rộng ra là QLGD là
QL hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái
khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” (Phạm Minh Hạc, 1986)
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Như vậy, quan điểm về QLGD có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập đến các yếu tố cơ bản như chủ thể và khách thể QLGD, mục tiêu, các cách thức và công cụ QLGD Qua sự đúc kết thực
Trang 32tiễn công tác giáo dục và đào tạo, có thể hiểu QLGD như sau: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD lên khách thể QLGD mà cụ thể là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra”
1.2.1.3 Quản lý trường trung học cơ sở
Nhà trường là một cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy,
QL nhà trường cũng được tiếp cận theo quan điểm QLGD ở hai cấp độ: vi mô và vĩ
mô
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 1986)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Tác giả Nguyễn Trọng Hậu quan niệm “Quản lí nhà trường hay quản lý trường học là quá trình hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý tới quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục đã xác định” (Nguyễn Trọng Hậu, 2013)
Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống trong nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu kinh tế - xã hội và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” (Trần Kiểm, 2015)
Như vậy, “Quản lý trường THCS là quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào quá trình quản lý”
Trang 331.2.2 Khái niệm học sinh yếu kém
Học sinh (HS) yếu trong nhà trường phổ thông có thể được chia thành làm hai đối tượng sau:
+ Thứ nhất: HS yếu là HS bị mất kiến thức căn bản ngay từ lớp dưới, các em
bị hổng kiến thức bộ môn và thường là các môn khoa học tự nhiên; là những HS có khả năng tiếp thu kiến thức chậm hoặc không còn khả năng tiếp thu và “tiêu hóa” những kiến thức mới, HS bị mất căn bản về kiến thức, HS lười học… HS yếu là những HS với khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin; khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền, trình độ tư duy còn hạn chế
+ Thứ hai: HS yếu là những học HS có điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên, không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0 (Bộ Giáo Dục và Đào tạo, 2011)
Học sinh kém là HS có điểm trung bình các môn dưới 5,0 và có môn học điểm trung bình dưới 2,0 (Bộ Giáo Dục và Đào tạo, 2011)
1.2.3 Khái niệm về hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém
Hoạt động dạy: là sự tổ chức, hướng dẫn tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển năng lực, nhân cách Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy là tổ chức, hướng dẫn việc học tập của học sinh, giúp học sinh nắm bắt kiến thức đồng thời hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy có hai chức năng là truyền đạt kiến thức, định hướng quá trình nắm bắt kiến thức theo nội dung chương trình quy định bằng phương pháp phù hợp (Phan Trọng Ngọ, 2005)
Theo tác giả B.P Exipop “Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra” (B.P Exipop, 1977)
Trang 34Theo tác giả Hoàng Anh thì “Hoạt động dạy học của giáo viên là một mặt của hoạt động sư phạm Trước đây, người ta hiểu hoạt động sư phạm chỉ là hoạt động của người thầy Người thầy đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học Trong hoạt động sư phạm, người thầy chủ động từ việc chuẩn bị nội dung giảng dạy, phương pháp truyền thụ, đến những lời chỉ dẫn, những câu hỏi, v.v Còn học sinh tiếp nhận thụ động, học thuộc để “trả bài” Người thầy giữ “chìa khoá tri thức”, cánh cửa tri thức chỉ có thể mở ra từ phía hoạt động của người thầy Quan niệm này hiện nay đã lỗi thời, bị vượt qua Vì rằng, từ góc độ khoa học sư phạm, quan niệm trên chỉ chú trọng hoạt động một mặt, hoạt động của người thầy mà không thấy được mặt kia của hoạt động sư phạm là hoạt động của trò" (Hoàng Anh - Vũ Kim Thanh, 2008)
Như vậy, “Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém là quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học của GV với đối tượng HS yếu kém theo hướng củng cố kiến thức,
bổ sung các kiến thức cơ bản mà các em chưa nắm được, rèn luyện kỹ năng học tập đáp ứng mục tiêu “phổ cập trung học cơ sở”
1.2.4 Hoạt động học phụ đạo của học sinh yếu kém
Theo Phan Trọng Ngọ hoạt động học: là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, qua đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách (Phan Trọng Ngọ, 2005)
Như vậy, “Hoạt động học phụ đạo của học sinh yếu kém là quá trình thực hiện nhiệm vụ học của HS yếu kém tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học theo hướng củng cố kiến thức, bổ sung các kiến thức cơ bản mà các em chưa nắm được, rèn luyện kỹ năng học tập”
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở trường trung học cơ sở
1.2.5.1 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) chính là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia hỗ trợ phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS… nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng,
Trang 35mục tiêu và chất lượng đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới Quản lý HĐDH là quản lý sự lao động của nhóm (người quản lý, người dạy và người học)
Cụ thể:
- Chủ thể quản lý HĐDH tác động đến người dạy và người học thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho dạy học
- Người dạy cùng một lúc thực hiện kế hoạch hoá HĐDH, tự tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy của mình và tổ chức, chỉ đạo hoạt động học của người học, đồng thời
tự kiểm tra; đánh giá kết quả dạy của mình và kết quả học của người học
- Người học tự xây dựng kế hoạch, tự tổ chức, tự chỉ đạo và tự kiểm tra hoạt động học của mình theo kế hoạch, theo sự chỉ đạo và phương thức kiểm tra đánh giá của chủ thể quản lý và của người dạy trực tiếp
1.2.5.2 Quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém ở trường trung học
cơ sở
Dựa vào các khái niệm trên, tác giả nhận thấy “Quản lý hoạt động phụ đạo
HS yếu là quá trình nhà quản lý hoạch định và tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy phụ đạo HS yếu của GV nhằm bổ sung, ôn tập, củng cố hệ thống kiến thức, rèn luyện kỹ năng, nâng cao và hoàn thiện năng lực học tập của HS ở những môn học nhất định nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng”
1.3 Lý luận về hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS
Hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở là:
- Giúp các em HS khắc phục tình trạng yếu kém để hoàn thành chương trình THCS, tốt nghiệp THCS;
- Củng cố các kiến thức cơ bản;
- Bổ sung các kiến thức bị hổng cho HS;
Trang 36- Rèn luyện các kỹ năng học tập, phương pháp học phù hợp với khả năng trí tuệ, tiếp thu kiến thức của HS
- Nâng cao vai trò giảng dạy và lương tâm nghề nghiệp; giúp đối tượng HS yếu kém vươn lên để cùng nhà trường nâng cao chất lượng
1.3.2 Nội dung dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường THCS
Nội dung của hoạt động phụ đạo là một thành tố đặc trưng của quá trình dạy phụ đạo, là hệ thống tri thức, kỹ năng có liên quan đến mục tiêu giáo dục của nhà trường Nội dung dạy phụ đạo HS yếu kém ở trường THCS được xác định trên những căn cứ:
- Căn cứ vào mục tiêu đã được xác định cho hoạt động phụ đạo: mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài
- Căn cứ vào các qui định, hướng dẫn về chương trình, nội dung phụ đạo của
có khả năng trưu tượng hóa, khả năng tiếp thu
- Rèn luyện, phát triển kỹ năng, kỹ xảo: rèn luyện cho HS kỹ năng nhận và
xử lý thông tin, trình bày vấn đề mạch lạc, biết phán đoán đề ra phương án giải quyết chính xác, linh hoạt về ngôn ngữ, ký hiệu, định luật, vận dụng sáng tạo lý thuyết vào thực hành
- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức: bồi dưỡng cho HS về động cơ học tập đúng đắn, trong sáng; có tinh thần trách nhiệm; tính tự giác, chủ động trong học tập, kiên trì nhẫn nại, độc lập suy nghĩ và hành động
Trang 371.3.3 Phương pháp dạy phụ đạo HS yếu, kém trong trường THCS
Trong tài liệu Giáo trình Giáo dục học đại cương của Trần Thị Tuyết Oanh thì tùy theo mục đích, nội dung, hình thức giáo dục, giáo viên phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học Đặc điểm của phương pháp dạy học: PP dạy học chịu sự chi phối của mục đích dạy học, không có PP nào là vạn năng cho tất cả mọi hoạt động; PP dạy học chịu sự chi phối của nội dung dạy học (Trần Thị Tuyết Oanh, 2006)
Nội dung dạy học như thế nào thì cần có phương pháp tương ứng, phương pháp là hình thức vận động của nội dung; Hiệu quả của PP dạy học phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của GV; PP dạy học mới cần có phương tiện hiện đại
hỗ trợ Dạy học là sự phối hợp của nhiều PP Trong đó cần lưu ý vận dụng linh hoạt các phương pháp sau:
Phương pháp luyện tập là phương pháp GV tổ chức cho HS lặp đi lặp lại một hay nhiều động tác một cách có kế hoạch, có hệ thống nhằm hình thành và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS
Phương pháp đàm thoại là phương pháp GV đặt ra hệ thống câu hỏi giúp HS làm sáng tỏ những vấn đề mới, tìm ra những tri thức mới, tổng kết và ôn tập những vấn đề đã lĩnh hội Yêu cầu khi đàm thoại là xây dựng câu hỏi đòi hỏi phải chính xác, có nội dung rõ ràng Các câu hỏi được sắp xếp một cách hợp lý để lôi cuốn HS vào tiến trình suy nghĩ cùng với GV
Phương pháp thuyết trình là PP giáo viên dùng lời nói để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách có hệ thống, chi tiết dễ hiểu cho HS tiếp thu Yêu cầu khi thuyết trình là đảm bảo tính khoa học và tuần tự lôgíc của vấn đề trình bày; ngôn ngữ trong sáng, có tính diễn cảm tạo ra tính hấp dẫn của vấn đề cần trình bày; thu hút được sự chú ý của học sinh vào bài giảng đồng thời đảm bảo cho học sinh ghi chép được nội dung thuyết trình của GV; cần kết hợp với các phương pháp khác
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp của dạy học, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn
Trang 38lớp Thảo luận nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Trong các môn khoa học tự nhiên, công việc nhóm có thể được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm
và tìm các giải pháp cho những vấn đề được đặt ra Trong các môn nghệ thuật, âm nhạc, các môn khoa học xã hội, các đề tài chuyên môn có thể được xử lý độc lập trong các nhóm, các sản phẩm học tập sẽ được sẽ tạo ra Trong môn ngoại ngữ có thể chuẩn bị các trò chơi đóng kịch,
Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra một hệ thống các tình huống có vấn đề, dưới sự hướng dẫn của GV, HS tự lực và sáng tạo giải quyết các tình huống Qua đó HS mà nắm được tri thức mới hoặc cách thức hoạt động mới, đồng thời phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo của mình
Phương pháp tác động riêng là phương pháp dạy học, trong đó GV giúp đỡ
HS thông qua cá nhân Đây là dạng cá biệt hóa hoạt động dạy học Những HS giúp
đỡ học tập thường là những HS yếu, kém hoặc khá, giỏi Những điểm cần lưu ý: HS tranh thủ sự giúp đỡ của thầy, nhưng không ỷ lai, không để GV làm thay HS phải tích cực tư duy, chủ động nghiên cứu và suy nghĩ cách giải quyết, trước khi xin ý kiến GV HS biết vận dụng những giải đáp, lời khuyên của GV vào những tình huống cụ thể
1.3.4 Hình thức dạy phụ đạo HS yếu, kém trong trường THCS
Hình thức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động theo một trình tự nhất định thực hiện mục tiêu phụ đạo HS yếu Hoạt động phụ đạo HS yếu ở trường THCS có thể tiến hành dưới các hình thức sau:
- Xét về nội dung:
+ Phụ đạo theo chương trình: là hình thức phụ đạo trên cơ sở củng cố, bổ sung các kiến thức bị hổng cho HS yếu trên cơ sở hoàn thiện hơn chương trình HS
đã tiếp thu hoặc dạy lại các kiến thức cho HS yếu bị mất căn bản
+ Phụ đạo theo nội dung môn học: là hình thức phụ đạo lựa chọn một phạm
vi kiến thức, một số kỹ năng nhất định cho HS đáp ứng những nhu cầu về kiến thức
và kỹ năng trong quá trình phụ đạo
Trang 39- Xét về hình thức tổ chức: căn cứ vào tình hình đặc điểm tổ chức các hoạt động giáo dục THCS, hoạt động dạy phụ đạo HS yếu có thể thực hiện ở từng thời điểm Cụ thể:
+ Phụ đạo vào thời điểm nhất định (phụ đạo trong hè, tập trung cao điểm trước các kỳ thi)
+ Phụ đạo song song với hoạt động dạy và học chính khóa
+ Khi nào thấy cần thiết thì tiến hành dạy phụ đạo Bên cạnh đó, hoạt động phụ đạo HS yếu được áp dụng trong một tiết/ buổi dạy dưới các hình thức như:
+ Dạy cả lớp
+ Dạy theo nhóm đối tượng HS xếp loại học lực yếu kém
+ Dạy cá thể cho một vài HS tiếp thu chậm, mất căn bản
Việc lựa chọn và quyết định các hình thức dạy phụ đạo HS yếu kém cần phải căn cứ trên cơ sở đảm bảo phù hợp với đặc điểm hoàn cảnh của đối tượng HS tham gia phụ đạo, điều kiện tổ chức của nhà trường và nội dung cần phải phụ đạo
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
1.4.1 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém trong trường trung học cơ sở
Hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém trong trường trung học cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý chất lượng GD ở trường THCS Trong số những tiêu chí quan trọng của nhà trường chất lượng GD như: thành tích học tập, môi trường hợp tác và tham gia, tính thẩm mỹ của cảnh quan sư phạm và những quan hệ ứng
xử, hiệu lực quản lý, kết quả thực hiện chương trình giáo dục, hiệu suất đào tạo, nhất là tổ chức hoạt động dạy phụ đạo cho HS yếu kém trong trường trung học cơ
sở
Quản lý hoạt động dạy phụ đạo HS yếu kém trong trường trung học cơ sở là hoạt động phức tạp và các nhà quản lý GD cần phải quan tâm thực hiện thì mới đạt được hiệu quả cao Vì vậy việc quản lý hoạt động dạy phụ đạo cho HS yếu kém trong trường trung học cơ sở mang lại có ý nghĩa quan trọng
Trang 401.4.2 Nội dung của quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
1.4.2.1 Lập kế hoạch hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở
Công tác quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở đạt hiệu quả cao cũng chính là việc nhà quản lý thực hiện tốt các chức năng quản lý của mình Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong quản lý, tiêu biểu bởi tính chất tương đối độc lập của những bộ phận quản lý Trong quản lý, chức năng quản lý là một phạm trù quan trọng mang tính khách quan và có tính độc lập tương đối Chức năng quản lý nảy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng, có tính chất chuyên môn hoá Bởi vậy, việc chủ thể quản lý thực hiện chức năng quản lý đồng nghĩa với việc chủ thể đó thực hiện nội dung của hoạt động quản lý Đó là các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức (nhân sự, tổ chức bộ máy), lãnh đạo (chỉ đạo thực hiện)
và kiểm tra
Để thực hiện một chủ trương, chương trình, dự án kế hoạch hóa là hành động đầu tiên của nhà quản lý, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch, là việc đưa toàn bộ hoạt động vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, các biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra
Để giúp cho các thành viên trong nhà trường cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu, cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức
Nhằm biến những yêu cầu giảm tối đa học sinh yếu kém của nhà trường thành nhu cầu, hoạt động của từng người, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác tham gia và đem hết khả năng của mình để làm việc Quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trường trung học cơ sở nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục được xây dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn Quản lí hoạt động dạy phụ