1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

47 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 348,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm thực hiện yêucầu của Bộ chính trị về cải cách tư pháp, các bộ luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là Bộluật Tố tụng hình sự được ban hành năm 2015 đã có những nội dung mới về chủ thể cóq

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6 1.1 Quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 6 1.2 Thực tiễn áp dụng quy định về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 15 1.3 Nguyên nhân của những hạn chế và giải pháp hoàn thiện quy định Pháp luật về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 20

1.3.1 Nguyên nhân 20

1.3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Tố tụng hình sự về chủ

thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 21

Kết luận chương 1 23 CHƯƠNG 2 TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 25 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 25 2.2 Thực tiễn áp dụng quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 30 2.3 Nguyên nhân của những hạn chế và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 33

2.3.1 Nguyên nhân 33

2.3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Tố tụng hình sự về trình

tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 34

Kết luận chương 2 39 KẾT LUẬN 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xét hỏi là thủ tục quan trọng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Đây là một

“phiên điều tra công khai” nhằm kiểm tra cũng như thu thập chứng cứ, làm cơ sởcho hoạt động tranh luận liền ngay sau đó cũng như làm căn cứ cho việc kết án củaTòa án có thẩm quyền

Ngày 02 tháng 01 năm 2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/

TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, trong đó

có đoạn nói: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định ”1 Tiếp đến, ngày 02 tháng 6 năm 2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết

số 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đề ra những nhiệm

vụ và phương hướng mới trong công tác cải cách tư pháp với mục tiêu đề ra là “xây

dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”2 Bên cạnh đó Nghị quyết cũng đề cập “đổi mới việc tổ chức

phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành

tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”3

Pháp luật tố tụng hình sự đã trải qua 3 lần pháp điển hóa, 3 bộ luật ở 3 thời kỳ đãquy định khá rõ những nội dung có liên quan đến thủ tục xét hỏi Nhằm thực hiện yêucầu của Bộ chính trị về cải cách tư pháp, các bộ luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là Bộluật Tố tụng hình sự được ban hành năm 2015 đã có những nội dung mới về chủ thể cóquyền hỏi cũng như trình tự xét hỏi tại phiên tòa, đáp ứng phần nào yêu cầu của tìnhhình xã hội mới cũng như yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp mà Bộ chính trị đãxác định từ năm 2005 Tuy nhiên, từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có

1Bộ Chính trị, Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp

2 Bộ Chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

3 Bộ Chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 3

hiệu lực cho đến nay, bằng kiểm nghiệm thực tiễn cho thấy rằng, có một số nội dungliên quan đến hai vấn đề trên đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý Hội đồng xét xử trởthành người xét hỏi chính, người “bảo vệ” bản cáo trạng thay cho Kiểm sát viên trongkhi vai trò của Hội đồng xét xử phải là “trọng tài” lắng nghe, điều khiển và kết án;ngược lại, Kiểm sát viên lẽ ra phải thật sự tích cực, chủ động xét hỏi thì lại “ỷ lại” vàthành viên Hội đồng xét xử; bị cáo có quyền đặt câu hỏi nhưng phải có sự đồng ý củaChủ tọa phiên tòa; ngược lại, bị hại, đương sự lại không được quyền đặt câu hỏi trongmọi trường hợp Những hạn chế trong thực tiễn này một phần xuất phát từ chính nhữngquy định của pháp luật hiện hành Vì vậy, để tăng cường và phát huy triệt để chứcnăng, vai trò của các chủ thể khi thực hiện hoạt động xét hỏi cũng như để tăng cườnghơn nữa tính tranh tụng trong xét xử, một số nội dung trong quy định của pháp luật Tốtụng về hai vấn đề trên cần phải được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp.

Để có thể hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật cũng như khảo sát thựctiễn áp dụng các quy định về chủ thể xét hỏi và trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự

sơ thẩm, từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luậtcũng như đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét hỏi tại

phiên tòa, tác giả đã chọn đề tài “Chủ thể và trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo nghiên cứu của học viên, liên quan đến đề tài xét hỏi tại phiên tòa sơthẩm hình sự, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các phạm vi,góc độ khác nhau như:

Luận án tiến sỹ luật học: “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện năm 2016; Tác giả

Nguyễn Ngọc Kiện đã nghiên cứu thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơthẩm là vai trò trọng tâm trong quá trình tranh tụng Những kiến thức lý luận và thựctiễn về xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa được cung cấp đầy đủ Tuy nhiên, vì phạm

vi nghiên cứu rộng nên có một số nội dung tác giả phân tích chưa sâu: ví dụ như vaitrò của Hội thẩm trong hoạt động xét hỏi, hay nội dung liên quan đến phần xét hỏichưa được tập trung nhiều như nội dung liên quan đến phần tranh luận

Luận văn thạc sỹ có:

“Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Đỗ Văn Thinh

năm 2006, tác giả Đỗ Văn Thinh nghiên cứu tổng hợp tất cả những vấn đề liên quan

Trang 4

đến thủ tục xét hỏi nhưng đề tài được thực hiện năm 2006 nên hiện nay có nhiều nộidung không còn phù hợp.

“Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”

của tác giả Trần Đặng Anh Việt năm 2017 Vì đề tài theo định hướng ứng dụng nêntác giả chỉ giải quyết 2 vấn đề chính là trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử; và trình

tự xét hỏi của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng mà cụ thể là người bào chữa vàngười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

“Xét hỏi của Kiển sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hà

Ngọc Châu, năm 2018 Tác giả Trần Hà Ngọc Châu tập trung nghiên cứu nhữngquy định về hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đồng thời khảo sátviệc áp dụng các quy định này tại chính Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Tp

Hồ Chí Minh Tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng xét hỏicủa Kiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự sơ thẩm

“Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”

của tác giả Nguyễn Quốc Hùng năm 2020 Tác giả nghiên cứu một cách chuyên sâucác vấn đề lý luận có liên quan đến trình xét hỏi tại phiên tòa; việc khảo sát, đánhgiá thực tiễn áp dụng cũng được tiến hành một cách khá toàn diện trên phạm vi cảnước

“Xét hỏi của Thẩm phán tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo Luật tố tụng hình

sự Việt Nam” của Phạm Tiểu Thơ năm 2020 Tác giả tập trung nghiên cứu các quy

định của pháp luật và thực tiễn áp dụng về hoạt động xét hỏi của Thẩm phán tạiphiên tòa sơ thẩm Nội dung luận văn phù hợp với phạm vi nghiên cứu, thực tiễn tácgiả khảo sát trong phạm vi 2 tỉnh là Tiền Giang và Đồng Nai

“Xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” (2019) của tác giả Trương Thị Thu Hải Tác giả tập trung phân tích

những vấn đề pháp lý cũng như thực tiễn hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tạiphiên tòa sơ thẩm Luận văn tập trung vào trình tự và nội dung xét hỏi của Kiểm sátviên tại phiên tòa sơ thẩm

Khóa luận tốt nghiệp có: “Hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa theo tinh

thần cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Dung năm 2013; “Hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả

Chu Thị Hảo năm 2012; “Xét hỏi và nâng cao tính tranh tụng trong trong xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự của Tòa án” của tác giả Cao Thị Mi Sa, năm 2009 Những khóa

Trang 5

luận này đều được thực hiện trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được ban hànhnên ít nhiều nội dung có những chỗ không còn phù hợp với hiện nay.

Bài viết chuyên ngành có: “Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”

của tác giả Lê Thị Thúy Nga, đăng trên Tạp chí Luật học số 07 năm 2008; Bài viết

“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của TS Nguyễn Chí Dũng; “Những vấn đề Kiểm sát viên cần lưu ý trong xét hỏi, công bố tài liệu chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa hình sự” của tác giả Lê Xuân Quang, đăng trên Tạp chí Kiểm sát năm 2021 “Bảo đảm quyền của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở thủ tục xét hỏi” của tác giả Võ Quốc Tuấn trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22 (326)

T11/2016; “Một số ý kiến đối với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục xét

hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Hồ Nguyễn Quân-Tòa án quân sự Khu

vực 1 Quân khu 4 trên trang thông tin điện tử của trường Đại học kiểm sát Hà Nội4.Những bài viết này phân tích các quy định của pháp luật về một khía cạnh nào đó củathủ tục xét hỏi, đồng thời có đề cập đến thực tiễn xét hỏi; một số bài viết tập trung vào

kỹ năng xét hỏi của từng chủ thể như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Người bào chữa đểnâng cao chất lượng xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa

Quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã kế thừa những kiến thức, kinh nghiệmcủa một số Luận án, Luận văn và các bài viết nêu trên Bên cạnh đó, tác giả còn đưa

ra và giải quyết những vấn đề còn chưa phù hợp trong quy định của pháp luật màcác công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất đểđóng góp một phần trong công tác hoàn thiện pháp luật nói chung và quy định vềchủ thể có quyền xét hỏi và trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: tác giả mong muốn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các

quy định của pháp luật TTHS về chủ thể và trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơthẩm Đồng thời đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động xét hỏi của các chủ thể tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Nhiệm vụ: để đạt được mục đích đã nêu trên thì luận văn có nhiệm vụ phân

tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chủ thể và trình tự xéthỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện hoạt độngxét hỏi của của các chủ thể trong thời gian qua, chỉ ra những vướng mắc, bất cập,

4 Hồ Nguyễn Quân, “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/742, truy cập ngày 01/6/2021;

Trang 6

trong đó xác định rõ các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó; từ đó, đề xuất, kiếnnghị các giải pháp để hoàn thiện pháp luật cũng như những giải pháp nhằm nângcao hiệu quả hoạt động xét hỏi.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động chủ thể có quyền

xét hỏi và trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo luật Tố tụng hình sựViệt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: học viên nghiên cứu các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về

2 vấn đề là chủ thể có quyền xét hỏi và trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Phạm vi không gian: Luận văn khảo sát kết quả thực hiện hoạt động xét hỏitại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong phạm vi cả nước

Phạm vi thời gian: Luận văn khảo sát kết quả thực hiện hoạt động xét hỏi tạiphiên tòa hình sự sơ thẩm trong vòng 5 năm (2016 – 2021)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên áp dụng phương pháp phân tíchluật để phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS; Ngoài ra trong luận văn họcviên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông thường như phương pháp so sánh,nghiên cứu vụ án điển hình, thống kê, tổng hợp để hoàn thành luận văn của mình

6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả

nghiên cứu của đề tài

Dự kiến kết quả nghiên cứu: Đề tài góp phần hoàn thiện nội dung Điều 307,

Điều 309, Điều 310, Điều 311 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Địa chỉ ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của tác giả đóng góp cho quá trình xây

dựng pháp luật Tố tụng hình sự về vấn đề chủ thể và trình tự xét hỏi tại phiên tòahình sự sơ thẩm Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảotrong các trường đại học, các cơ sở đào tạo pháp luật

Trang 7

CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM

THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Xét hỏi là một khâu quan trọng của quá trình xét xử tại phiên tòa, đây đượcxem như là một cuộc điều tra công khai được thực hiện qua việc xét hỏi bị cáo vànhững người tham gia tố tụng khác Hệ thống chứng cứ đã được các cơ quan cóthẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập từ trước sẽ được kiểm tra, đánh giá một cáchcông khai, toàn diện thông qua việc đặt câu hỏi và trả lời của các chủ thể có liênquan, đồng thời có thể thu thập thêm những chứng cứ mới thông qua hoạt động này.Cùng với hoạt động tranh luận, kết quả của hoạt động xét hỏi sẽ giúp Hội đồng xét

xử xác định được căn cứ để có thể tuyên một bản án đúng người đúng tội đúng phápluật

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “xét” là tìm hiểu, cân nhắc để nhận biết, đánh giá, kết luận về cái gì đó; còn “hỏi” là nói ra

những điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu trả lời5

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt thì “xét hỏi” là “nhà chức trách hỏi kĩ để phát

hiện hành vi phạm pháp hoặc tìm hiểu sự thật về một vụ án”6 Với nghĩa của Từ

điển cho thấy hoạt động xét hỏi được thực hiện bởi “nhà chức trách” tức chủ thể có thẩm quyền, việc hỏi lúc này không đơn thuần là hỏi mà là “hỏi kỹ”, hỏi tường tận

để phát hiện và xác định sự thật.

Dưới góc độ pháp lý, hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây gọi làBLTTHS) hay văn bản hướng dẫn không nêu rõ khái niệm này, tuy nhiên từ nhữngquy định của BLTTHS về thủ tục xét hỏi từ Điều 306 đến Điều 318, tác giả xin đưa

ra 1 khái niệm như sau:

“Xét hỏi là hoạt động được thực hiện trong quá trình xét xử vụ án hình sự Trong đó các chủ thể mà pháp luật cho phép, theo đúng trình tự sẽ đặt câu hỏi và bị cáo, những người tham gia tố tụng khác sẽ trả lời về những vấn đề có liên quan đến

vụ án nhằm xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho việc tuyên án của Tòa án có thẩm quyền”.

5Viện Ngôn ngữ học (2002), “Từ điển Tiếng Việt phổ thông”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1058;

6Trung tâm Từ điển học (2009), “Từ điển Tiếng Việt”, Nxb Đà Nẵng, tr 1462;

Trang 8

Như vậy, có thể thấy rằng, thủ tục xét hỏi là một thủ tục mang đầy đủ những đặc điểm sau:

- Xét hỏi là một hoạt động được tiến hành tại phiên toà xét xử vụ án hình sự.Phiên tòa này có thể là phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí Giám đốc thẩm, Táithẩm tùy vào trường hợp hội đồng Giám đốc thẩm, Tái thẩm có triệu tập nhữngngười tham gia tố tụng có liên quan hay không

- Xét hỏi là một hoạt động được thực hiện theo trình tự thủ tục do BLTTHSquy định Đây được xem như là một “phiên điều tra công khai”, là cách thức để cóthể thu thập cũng như đánh giá chứng cứ, do đó, sự chặt chẽ trong trình tự là điềuphải đảm bảo Hiện nay, BLTTHS 2015 đã quy định rất cụ thể trình tự cũng như cáchoạt động cần làm khi tiến hành hoạt động xét hỏi tại tòa cũng như trách nhiệm củanhững chủ thể tham gia hoạt động xét hỏi phải tuân thủ theo

- Xét hỏi là một hoạt động được thực hiện bởi những chủ thể mà pháp luật đãghi nhận Đây có thể là người tiến hành tố tụng - những chủ thể có trách nhiệm làmsáng tỏ những tính tiết có liên quan đến vụ án hình sự như Thẩm phán, Hội thẩm,Kiểm sát viên, hoặc cũng có thể là người tham gia tố tụng - những chủ thể góp phầnvào việc xác định sự thật vụ án hoặc người tham gia để bảo vệ quyền lợi ích chonhững người tham gia tố tụng khác như Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợicho đương sự, người giám định, người định giá tài sản, bị cáo Hoạt động xét hỏiđược điều hành bởi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các chủ thể còn lại sẽ tuân thủtheo sự điều hành thống nhất đó

- Xét hỏi là hoạt động được thực hiện dưới phương thức chủ thể có thẩmquyền sẽ đặt câu hỏi, chủ thể được hỏi sẽ trả lời một cách trực tiếp, công khai.Thông qua đó hệ thống chứng cứ sẽ được kiểm tra, đánh giá một cách trực tiếp,công khai, toàn diện, đồng thời có thể phát hiện thêm những tình tiết mới liên quanđến vụ án hình sự, giúp Tòa án có căn cứ để thực hiện hoạt động xét xử cũng nhưtuyên án

Như vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của thủ tục xét hỏi đó chính làđược thực hiện bởi những chủ thể được pháp luật TTHS ghi nhận, đây có thể làngười tiến hành tố tụng cũng có thể là người tham gia tố tụng Vậy chủ thể có quyềnthực hiện hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là chủ thể nào

Trước khi có BLTTHS 1988, thủ tục xét hỏi nói chung và chủ thể tiến hànhhoạt động xét hỏi nói riêng được ghi nhận một cách rải rác ở nhiều văn bản tùy vàothời kỳ

Trang 9

Sau khi có BLTTHS đầu tiên ra đời năm 1988, vấn đề chủ thể có quyền xéthỏi được quy định cụ thể và thống nhất trong bộ luật BLTTHS 1988 đã dànhchương XIX, từ Điều 180 đến Điều 190 để quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.Theo đó, tại Điều 181 quy định

1 Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý.

2 Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên, Người bào chữa Những người tham gia phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng

tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định7.

Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, người hỏi bao gồm Thẩm phán chủ tọa phiêntòa, Hội thẩm nhân dân, Kiểm Sát viên, Người bào chữa, Người giám định Ngườitham gia phiên tòa không có quyền hỏi nhưng có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòahỏi thêm về những vấn đề cần làm sáng tỏ

So với việc quy định rải rác như trước đây, sự cụ thể, rõ ràng này đã là bước tiếnmới Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc có bịcáo bị đưa ra xét xử mà khung hình phạt lên đến tử hình, Hội đồng xét xử gồm 3 Thẩmphán và 2 Hội thẩm thì Thẩm phán không phải chủ tọa phiên tòa có được hỏi không?Thêm nữa, quyền hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự cũng chưa đượcghi nhận bởi tư cách tố tụng này thời điểm đó chưa được ghi nhận

Đến BLTTHS 2003 được ban hành, các quy định về hoạt động xét hỏi, trong

đó có quy định về chủ thể xét hỏi được quy định rõ ràng hơn Theo quy định Khoản

2 Điều 207 BLTTHS 2003 thì chủ thể xét hỏi bao gồm hai nhóm: người tiến hành tốtụng là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm, Kiểm sát viên; người tham gia tốtụng là Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,người giám định, những người tham gia phiên tòa khác cũng có quyền đề nghị chủtọa phiên tòa hỏi những vấn đề, tình tiết cần làm sáng tỏ Việc bổ sung thêm một sốchủ thể như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hay thay đổi từHội thẩm nhân dân thành Hội thẩm là những thay đổi phù hợp Tuy nhiên, vớinhững quy định như trên, một số hạn chế đã từng tồn tại ở BLTTHS 1988 nay vẫnchưa được khắc phục: đó chính là vai trò của những Thẩm phán không phải là chủtọa phiên tòa thì có quyền hỏi hay không Thực tế cho thấy, bên cạnh Thẩm phán

7BLTTHS (1988), Điều 181

Trang 10

chủ tọa phiên tòa thì các Thẩm phán còn lại (Đối với hội đồng xét xử gồm 5 thànhviên) vẫn tiến hành xét hỏi bình thường, tuy nhiên, sự thiếu sót trong kỷ thuật lậppháp là điều phải thừa nhận.

Sau 12 năm thi hành, BLTTHS 2015 được ban hành vào ngày 27/11/2015 đãthay thế cho BLTTHS năm 2003 Bộ luật đã có những sửa đổi căn bản, toàn diệngồm 510 Điều, trong đó, bổ sung mới 176 Điều, sửa đổi 317 Điều, bãi bỏ 26 Điều

Bộ luật ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam và thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu thựctiễn của công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền con người

Thủ tục xét hỏi cũng có những thay đổi đáng kể: thủ tục xét hỏi đã trở thànhmột phần trong thủ tục tranh tụng thay cho thủ tục thẩm vấn và tranh luận tách bạchtrước đây; chủ thể tiến hành hỏi và trình tự hỏi cũng đã có những thay đổi để khắcphục một số hạn chế trước đây đã vướng phải Về chủ thể có quyền xét hỏi, Điều

307 BLTTHS 2015 đã quy định

“1 Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.

2 Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.

Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.

Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.”

Như vậy, có thể hiểu chủ thể có quyền xét hỏi cũng bao gồm 2 nhóm giốngnhư trước đây: người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên;người tham gia tố tụng là Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự, người giám định, người định giá tài sản Và những người tham gia tốtụng khác cũng có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cầnlàm sáng tỏ

Như vậy, quy định về chủ thể đã hoàn thiện hơn về kỹ thuật lập pháp, đó là

đã xác định rõ thẩm quyền xét hỏi của chủ thể là Thẩm phán không phải là chủ tọaphiên tòa, đồng thời đã bổ sung chủ thể mới là người định giá tài sản Điều nàyđược giải thích là vì tư cách tố tụng này chỉ mới được chính thức ghi nhận trong

Trang 11

BLTTHS năm 2015 Các chủ thể này trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

sẽ phải thực hiện hoạt động xét hỏi để có thể làm sáng tỏ nội dung vụ án Vai tròcủa từng chủ thể được thể hiện như sau:

* Thành viên Hội đồng xét xử

Điều 254 BLTTHS 2015 quy định

1 Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

Và Điều 463 BLTTHS quy định “Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút

gọn do một Thẩm phán tiến hành.”

Như vậy, tùy vào từng trường hợp mà số lượng cũng như thành phần của Hộiđồng xét xử sẽ khác nhau nhưng tất cả các thành viên của hội đồng xét xử đều cóquyền và nghĩa vụ thực hiện hoạt động xét hỏi

Khoản 1 Điều 307 BLTTHS quy định “Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ

những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người”

Với quy định như trên cho thấy vai trò của Hội đồng xét xử là rất lớn trong việcthực hiện hoạt động này, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng

sự việc, từng tội và từng người liên quan đến hành vi phạm tội Điều này có vẻ hợp lývới một nước có mô hình tố tụng thẩm vấn (mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm) hoặcmột nước có mô hình tố tụng pha trộn nhưng nghiên về tính thẩm vấn bởi trong hai môhình tố tụng trên, hoạt động xét hỏi là hoạt động đặc trưng, xuyên suốt trong quá trình

tố tụng và nó được biểu hiện tập trung nhất tại phiên tòa xét xử Với Việt Nam hiệnnay, mô hình tố tụng của chúng ta vẫn còn mang dấu ấn của mô hình tố tụng thẩm vấnnhưng các hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, đặc biệt là tính “đối đầu” giữa bênbuộc tội và bên bào chữa trong việc bảo vệ hệ thống chứng cứ do các bên tự thu thậpcũng như vai trò trọng tài của Hội đồng xét xử ngày càng được ghi nhận và tăng cườngthì theo tác giả quy định tại khoản 1 Điều 307 về trách nhiệm làm rõ các nội dung khixét hỏi của Hội đồng xét xử ít nhiều không còn phù hợp

Không thể phủ nhận hoàn toàn hiệu quả hoạt động xét hỏi của Tòa án hay cụthể hơn là của Hội đồng xét xử, bởi nó đạt được mục đích kiểm soát tội phạm tuynhiên cần phải nhìn nhận đúng vị trí của Tòa án dựa trên mối quan hệ với các chức

Trang 12

năng tố tụng Chức năng của tòa án là chức năng xét xử, chức năng này được thựchiện thông qua Hội đồng xét xử tại phiên tòa và với quy định như trên thì tác giảcho rằng dường như Hội đồng xét xử đang làm thay chức năng buộc tội của Việnkiểm sát Bất cập này kéo dài từ khi có BLTTHS đầu tiên cho đến nay, tuy nhiên, ở

2 lần ban hành trước, có thể bối cảnh xã hội khác, tư duy cũng như nhận thức về môhình tố tụng, sự tách bạch giữa các chức năng tố tụng chưa rõ ràng, quy định đó cóthể phù hợp ở một chừng mực nào đó Còn hiện nay, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư

pháp, để có thể “đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền

hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”8 thì nội dungnày cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp

*Kiểm sát viên

Là chủ thể đại diện cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội tại phiêntòa, vì vậy Kiểm sát viên tham gia vào hoạt động xét hỏi là điều đương nhiên, mặckhác để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, vai trò của Kiểm sát viên

trong hoạt động xét hỏi ngày càng được chú trọng hơn, “Tại phiên tòa, Kiểm sát

viên chủ động xét hỏi, tranh luận làm rõ các tình tiết của vụ án ” 9

Chứng minh tội phạm và người phạm tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên tạiphiên tòa.Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải làm rõ những nội dung đã nêu trongbảng cáo trạng Việc xét hỏi sẽ giúp Kiểm sát viên củng cố được chứng cứ để chứngminh cho những luận điểm, luận cứ của mình đồng thời thuyết phục Hội đồng xét

xử cũng như những người tham gia phiên tòa

Để những đề xuất của mình có cơ sở, về nguyên tắc Kiểm sát viên sẽ hỏi toàn

bộ những vấn đề liên quan đến vụ án, cả những tình tiết liên quan đến việc buộc tội,những tình tiết liên quan đến việc gỡ tội của bị cáo Có quan điểm cho rằng việc hỏi

về những tình tiết có tính chất gỡ tội là mâu thuẫn vì “Viện kiểm sát thực hành

quyền công tố thì không thể vừa buộc tội vừa bào chữa cho bị cáo”10 Dưới góc độchức năng tố tụng thì có thể quan điểm này hợp lý, tuy nhiên, vì trách nhiệm chứngminh, xác định sự thật vụ án là của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

8Bộ chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

9VKSNDTC, Chỉ thị số 09/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016 về Tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

10 Nguyễn Quốc Hùng (2020), “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt

Nam” Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP.HCM, tr 41.

Trang 13

tụng (Điều 15 BLTTHS 2015) mà sự thật các cơ quan này xác định phải “khách

quan, toàn diện và đầy đủ”, do đó, việc tiến hành xét hỏi về những vấn đề có liên

quan đến những tình tiết gỡ tội cũng như những tình tiết khác không phải là tình tiếtbuộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, theo quan điểm của tác giả là hợp lý

* Người bào chữa

Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa

Người bào chữa có thể là Luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, Bàochữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộcđối tượng trợ giúp pháp lý

Sự có mặt của Người bào chữa tại phiên tòa là cách thức để thực hiện triệt để

nguyên tắc “đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội” đồng thời, cũng là cơ chế để thực hiện nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” Như vậy, có

thể thấy rằng với yêu cầu ngày càng cao về việc đảm bảo tính tranh tụng trong xét

xử thì vai trò của Người bào chữa ngày càng trở nên quan trọng Tại phiên tòa,Người bào chữa tham gia vào hoạt động xét hỏi và tranh tụng để bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp cho bị cáo

Tại phiên tòa, “sứ mệnh” của Người bào chữa là đưa ra những luận chứng,luận cứ để có thể bác bỏ sự buộc tội từ phía cơ quan buộc tội hoặc giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho bị cáo, vì vậy, trong thủ tục xét hỏi, Người bào chữa sẽ hỏinhững người tham gia tố tụng (bị cáo, bị hại, người làm chứng, người giám định )

về những vấn đề liên quan đến việc gỡ tội Những câu hỏi của Người bào chữa sẽđặt tiền đề tốt cho hoạt động tranh tụng ngay sau đó Mặc khác, Để bảo vệ quyền lợicho bị cáo, Người bào chữa phải quan sát toàn bộ quá trình xét hỏi và thái độ củangười hỏi đối với bị cáo để kịp thời ngăn chặn những câu hỏi không đúng trọng tâm,thiếu khách quan, ảnh hưởng đến đời tư, kịp thời đề nghị Hội đồng xét xử chấnchỉnh những chủ thể có thái độ không phù hợp với văn hóa pháp đình khi đặt câuhỏi cho thân chủ của mình Ngoài ra, Người bào chữa có quyền xem xét tài liệu, vậtchứng tại phiên tòa hoặc cùng Hội đồng xét xử xem xét tại chỗ nếu cần thiết và cóquyền đưa ra nhận xét về tất cả các chứng cứ đó để làm sáng tỏ sự thật khách quancủa vụ án và gỡ tội cho bị cáo, có quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu của cơ quan,

tổ chức (Điều 315), quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi người giámđịnh về những vấn đề chưa rõ (Điều 316)

Trang 14

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bị hại

BLTTHS 1988 khi quy định về chủ thể có quyền xét hỏi không bao gồm ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, bị hại vì thời điểm đó, tư cách nàychưa được pháp luật thừa nhận Đến BLTTHS 2003 và sau đó là BLTTHS 2015, tưcách này đã được ghi nhận một cách chính thức, vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sẽ

có sự tham gia của chủ thể trên nhằm hướng đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của nhữngngười có liên quan cũng như góp phần vào việc xác định sự thật vụ án

Đương sự bao gồm “nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền, lợi

ích liên quan” (Điều 4) Đương sự, bị hại khi tham gia tố tụng có quyền nhờ Luật

sư; người đại diện hoặc bào chữa viên nhân dân tham gia để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho mình (Điều 84) Tại phiên tòa sơ thẩm, các chủ thể này sẽ được thamgia vào hoạt động xét hỏi dưới sự điều hành của chủ tọa phiên tòa để làm rõ nhữngtình tiết liên quan đến những đối tượng mà họ đứng ra bảo vệ Tùy vào đối tượng

mà họ bảo vệ, các câu hỏi sẽ tập trung các vấn đề khác nhau Bên cạnh việc trực tiếpđặt ra những câu hỏi, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bị hạicũng có quyền được xem xét tại chỗ hoặc quyền được nhận xét những báo cáo, kếtluận của các cơ quan, tổ chức khác hay kết luận giám định như Người bào chữa tuyrằng không được quy định trực tiếp quyền này như Người bào chữa, tuy nhiên,thông qua vài trò của “người khác tham gia phiên tòa” như quy định tại Điều 314,Điều 315, Điều 316, họ vẫn có quyền thực hiện những hoạt động trên khi tham giavào thủ tục xét hỏi

* Người giám định, người định giá tài sản.

Người giám định là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giámđịnh, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu hoặc người tham gia

tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật (Điều 68 BLTTHS)

Người định giá tài sản là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giá,được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng yêu cầu địnhgiá tài sản theo quy định của pháp luật (Điều 69 BLTTHS)

Người giám định và người định giá tài sản là những người tham gia tố tụngđưa ra những kết luận về những vấn đề mang tính chuyên môn Các kết luận giámđịnh, định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng Việc tham giaphiên tòa của người giám định và người định giá tài sản không phải là quy định bắtbuộc trong mọi trường hợp, Tòa án sẽ triệu tập họ trong những trường hợp cần thiết.Tại phiên tòa, Người giám định, người định giá tài sản có quyền tham gia hoạt động

Trang 15

xét hỏi với cả 2 tư cách: người có quyền xét hỏi và là đối tượng bị xét hỏi Dưới góc

độ là người xét hỏi, Người giám định, người định giá tài sản sẽ được quyền hỏi

“những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản”, việc này giúp chokết luận giám định, định giá tài sản được làm rõ, tạo cơ sở vững chắc cho việc đánhgiá chứng cứ của những người có thẩm quyền có mặt tại phiên tòa.(Khoản 2 Điều

307 BLTTHS) Tuy nhiên, thẩm quyền xét hỏi của người giám định, người định giátài sản chỉ được quy định tại Điều 307 BLTTHS nhưng tại các Điều 309, Điều 310,Điều 311 quy định về nội dung hỏi các đối tượng bị hỏi lại không đề cập đến ngườigiám định, đây là một hạn chế về kỹ thuật lập pháp cần phải khắc phục

* Bị cáo

Xét hỏi là một hoạt động mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xácđịnh sự thật vụ án cũng như để các chủ thể có thể thực hiện tốt các chức năng nhiệm

vụ của mình Hiện nay, bên cạnh những chủ thể có quyền đặt câu hỏi trực tiếp như

đã trình bày, Pháp luật còn ghi quyền xét hỏi của bị cáo và quyền “xét hỏi” gián tiếpcủa người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa Đối với những người tham gia

tố tụng khác không phải là bị cáo, trong trường hợp có “những tình tiết cần làmsáng tỏ” thì những người này có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm Đối với

bị cáo thì được quyền đặt câu hỏi cho bị cáo khác, người làm chứng, bị hại, đương

sự hoặc người đại diện của họ khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý So với BLTTHS

2003, việc ghi nhận quyền được đặt câu hỏi của Bị cáo tại phiên tòa có thể xem làmột bước tiến mới11, sự thay đổi này đã kịp thời đảm bảo được quyền lợi ích hợppháp của bị cáo, đồng thời đáp ứng yêu cầu cái cách tư pháp, đặc biệt là nâng caotính tranh tụng trong xét xử Quyền được hỏi của bị cáo chính là cơ chế để bị cáo cóthể thực hiện tốt quyền tự bào chữa tại phiên tòa, tham gia hiệu quả vào hoạt độngtranh luận, đặc biệt trong trường hợp bị cáo không có Người bào chữa Tuy nhiên,điểm mới này theo tác giả là chưa thật sự triệt để bởi vì bị cáo chỉ được đặt câu hỏikhi có sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa12, như vậy, thì vô hình trung, quyền này cóthể sẽ bị hạn chế trong thực tế thi hành nếu Chủ tọa phiên tòa “không hợp tác” đểcho bị cáo được hỏi Đồng thời, tại Điều 307, điều luật chung quy định về chủ thể

và thứ tự đặt câu hỏi thì lại không ghi nhận quyền này của bị cáo, mặc dù các điềuluật chi tiết sau đó như Điều 309,

11 BLTTHS 2003 không quy định quyền được xét hỏi của bị cáo nên có tòa án cho phép bị cáo được quyền xét hỏi nhưng cũng có tòa không cho phép gây nên sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật Xem

thêm bài viết “Bị cáo có được hỏi tại phiên tòa? https://plo.vn/plo/bi-cao-co-duoc-hoi-tai-phien-toa-134418.html

12 Điều 310, Điều 310 BLTTHS 2015

Trang 16

Điều 310, Điều 311 thì lại quy định Mặc khác, việc bổ sung quyền được hỏi của bịcáo khi được chủ tọa phiên toà đồng ý mà không bổ sung quyền này cho bị hại,đương sự thì liệu có hợp lý khi mà các chủ thể này cũng có nhu cầu tự bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của chính mình.

1.2 Thực tiễn áp dụng quy định về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Hoạt động xét hỏi là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc xácđịnh sự thật vụ án, Pháp luật đã từng bước hoàn thiện để đảm bảo ngày càng tốt hơnhoạt động của các chủ thể có liên quan tại phiên tòa Hoạt động xét xử nói chung vàxét hỏi nói riêng tại phiên tòa sơ thẩm trong những năm qua đã đạt được một số kếtquả đáng ghi nhận:

* Đối với hoạt động của Thẩm phán – Hội thẩm

Trong khoảng thời gian từ 2016 – 2021, Ngành tòa án đã xét xử các vụ án hình

sự đạt tỷ lệ 99,5%; Chất lượng xét xử tiếp tục được bảo đảm và có nhiều tiến bộ Tỷ lệbản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan hàng năm đều dưới 1,5%,Việc xét xử các vụ án hình sự bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, trongnhiệm kỳ không để xảy ra trường hợp nào kết án oan người không có tội 13

Đội ngũ Thẩm phán luôn được đảm bảo về số lượng và chất lượng Lãnh đạongành Tòa án thường xuyên đổi mới, đa dạng phương thức đào tạo, bồi dưỡngnghiệp vụ, kinh nghiệm xét xử cho các chức danh tư pháp

Đội ngũ Hội thẩm nhân dân không chỉ đủ về số lượng mà còn đảm bảo vềchất lượng, đáp ứng yêu cầu của hoạt động xét xử Tòa án nhân dân hiện đã thànhlập đủ các Đoàn Hội thẩm và hiện đang có 16.913 Hội thẩm nhân dân phục vụ côngtác xét xử 14 Hội thẩm thường xuyên được bồi dưỡng nghiệp vụ, về cơ bản đã đảmbảo cơ chế Nhân dân tham gia hoạt động xét xử, hỗ trợ Tòa án hoàn thành tốt nhiệm

vụ chính trị được giao, hoạt động ngày càng nề nếp, hiệu quả

Phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp được chỉ đạo đổi mới theo hướngcông tác xét xử phải tuân thủ pháp luật, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng Hội đồngxét xử thực hiện đầy đủ các quyền năng pháp lý Trong hoạt động xét hỏi tại phiêntòa, thành viên hội đồng xét xử đã chủ động và tích cực thực hiện giúp cho việc xác

13 Báo cáo tóm tắt của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về công tác của các Toà án trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV https://vietnamnet.vn/vn/tu-lieu/toan-van/bao-cao-tom-tat-cua-chanh-an-tandtc-nguyen- hoa-binh- ve- cong-tac-nhiem-ky-722234.html

14 Báo cáo tóm tắt của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về công tác của các Toà án trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV https://vietnamnet.vn/vn/tu-lieu/toan-van/bao-cao-tom-tat-cua-chanh-an-tandtc-nguyen-hoa-binh- ve- cong-tac- nhiem-ky-722234.html

Trang 17

định sự thật vụ án được thực hiện một cách khá hiệu quả Việc chuẩn bị cho hoạtđộng xét xử được thực hiện chu đáo, hầu hết các Thẩm phán, Hội thẩm đều nghiêncứu vụ án và có đề cương xét hỏi, tạo được thế chủ động tại phiên tòa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xét hỏi của Hội đồng xét xử tạiphiên tòa còn tồn tại một số bất cập:

- Điều 307 quy định “Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi.” nhưng không cónghĩa Chủ tọa không thực hiện việc xét hỏi mà chỉ điều hành Thực tế có trường hợpbản án của Tòa án bị kháng nghị giám đốc thẩm, chỉ vì chủ tọa phiên tòa khôngtham gia xét hỏi mà chỉ điều khiển để người khác xét hỏi, rồi kết luận việc xét hỏitại phiên tòa Việc chủ tọa không tham gia xét hỏi được coi là vi phạm nghiêm trọngthủ tục tố tụng.15

- Tại một số phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử máy móc dựa vào kế hoạchxét hỏi đã chuẩn bị sẵn mà không đặt câu hỏi phù hợp với diễn biến tại phiên tòa.Chủ tọa có xu hướng lệ thuộc vào kết quả điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát,chính vì vậy mà việc xét hỏi không sôi nổi, dân chủ vì phán quyết đã được định sẵn,xét hỏi chỉ là hợp thức hóa những gì đã được thu thập tại giai đoạn điều tra, khôngchú ý đến việc tìm các mâu thuẫn nên xét hỏi không cặn kẽ, chưa thẩm tra hết các tình tiết của vụ án đã chuyển sang phần tranh luận16

- Một số trường hợp, câu hỏi của chủ tọa phiên tòa thể hiện ngay định kiếnbuộc tội; hoặc trong khi xét hỏi những câu hỏi của Thẩm phán theo hướng làm sao

để cho bị cáo phải khuất phục tại phiên tòa, vô hình trung Thẩm phán đã thực hiệnthay chức năng buộc tội của Viện kiểm sát; Có những trường hợp Thẩm phán, Hộithẩm lại giáo dục bị cáo theo kiểu dụ cung nếu thành khẩn nhận tội thì sẽ giảm nhẹhình phạt, tạo cảm giác như Hội đồng xét xử đã có một kết luận sẵn cho việc xét xử

vụ án đó

- Hoạt động xét hỏi của Hội thẩm trên thực tế vẫn chưa đạt được hiệu quả.Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án trước của Hội thẩm không phải lúc nào cũng đượcđảm bảo, do đó câu hỏi của Hội thẩm đôi khi không có tác dụng làm rõ được cáctình tiết của vụ án mà chỉ là những câu hỏi rất chung chung, vô thưởng vô phạt,hoặc có trường hợp, Hội thẩm có những phát ngôn không phù hợp tại phiên tòa khithực hiện hoạt động xét hỏi, ví dụ như: Vụ án xảy ra ở Kon Tum, theo cáo

15 Đinh Văn Quế “Xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

-https:// thuc-tien.

tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/xet-hoi-tai-phien-toa-hinh-su-so-tham-nhung-van-de-ly-luan-va-16 Nguyễn Quốc Hùng (2020), tlđd (10), tr 45.

Trang 18

trạng, đầu năm 2018 Bùi Xuân Lợi nhờ Phạm Thanh Toàn (nhà ở huyện Đắk Hà,Kon Tum) vận chuyển pháo đến huyện Đức Cơ, Gia Lai và hứa trả công cho Toàn 5triệu đồng Toàn đồng ý và mượn ô tô của một người khác rồi chạy về nhà Lợi đểchở nhiều thùng carton và ba bao tải đựng hàng Lợi đi trước dẫn đường còn Toànchở pháo theo sau Khi đến huyện Đức Cơ (Gia Lai), CSGT ra tín hiệu dừng xekiểm tra Toàn không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga bỏ chạy đến lô cao su thìdừng xe, bỏ trốn Vài ngày sau Toàn ra đầu thú Theo kết quả giám định số hàngToàn chở trên xe là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khíđốt có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng màu) với khối lượng hơn 200 kg pháo Từ đóToàn bị khởi tố, truy tố về tội vận chuyển hàng cấm theo điểm c khoản 3 Điều 191BLHS Ngày 10-5, TAND huyện Đức Cơ (Gia Lai) đã đưa bị cáo Phạm ThanhToàn ra xét xử sơ thẩm về tội danh trên Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán chủtọa và hai Hội thẩm nhân dân (HTND) Trong phần xét hỏi, vị HTND tên LĐH đãđặt câu hỏi với Toàn: “Có ai bắt bị cáo ký vào đấy không?” Bị cáo đáp: “Không”.HTND tiếp: “Mình biết cái tội của mình rồi thì cứ nhận mẹ Sao bị cáo cứ chốiquanh co làm gì?”.17

* Đối với hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa

Trong khoảng thời gian 2016 – 2021, toàn ngành Viện kiểm sát đã thực hành

quyền công tố, kiểm sát xét xử 376.935 vụ/626.610 bị cáo theo thủ tục sơ thẩm,

phúc thẩm và giám đốc thẩm Thông qua công tác kiểm sát hoạt động xét xử của

Tòa án, đã phát hiện nhiều vi phạm và ban hành gần 6.000 kháng nghị phúc thẩm, tăng 50%; trong đó, số kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận đạt tỷ lệ 78,9%, tăng 8,5% và vượt 8,9% so với chỉ tiêu Nghị quyết 96 của Quốc hội; ban hành gần 700 kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, tăng 40% và số kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận đạt tỷ lệ 84,8%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết 96 của Quốc

hội Đặc biệt, các trường hợp Viện kiểm sát quyết định truy tố nhưng Tòa án tuyên

bị cáo không phạm tội chiếm tỷ lệ rất nhỏ và giảm nhiều theo từng năm (năm 2017,giảm 14,3%; năm 2018, giảm 50%; năm 2020, giảm 50% so với năm trước).18 Điềunày cho thấy hoạt động của ngành kiểm sát nói chung và hoạt động xét xử nói riêng

đã có đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận

17 Ngân Nga “Luật sư „chỉnh‟ Hội thẩm nhân dân hỏi truy vấn” chinh-hoi- tham -nhan-dan-hoi-truy-van-834773.html

https://plo.vn/phap-luat/luat-su-18 Báo cáo tóm tắt báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIV của Viện Trưởng VKSND Tối cao (2021), đường dẫn https://www.vksndtc.gov.vn/tin-hoat-dong-vksnd-toi-cao/bao-cao-tong- ket-cong-tac- nhiem-ky-quoc-hoi-khoa-x-d2-t9125.html

Trang 19

Bên cạnh đó, Ngành kiểm sát đã đẩy mạnh phối hợp với Tòa án và đã tổ chức

gần 26.000 phiên tòa rút kinh nghiệm 19 Từ những phiên tòa này, ngành kiểm sát

đã có những đánh giá kịp thời chất lượng thực hiện thủ tục xét hỏi cũng như tranhluận tại phiên tòa, từ đó có những giải pháp đổi mới toàn diện về mọi mặt nhằmthực hiện tốt chức năng của mình

Có được những kết quả như trên một phần là nhờ vào đội ngũ cán bộ, Kiểmsát viên ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dântrong hệ thống chính trị cũng như vai trò của Kiểm sát viên trong phiên tòa hình sự

Các Kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị đề cương xét hỏi, có chiến thuật xét hỏi tốt, dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa; hỏi có trọng tâm, trọng điểm và đã làm rõ thêm được căn cứ, cơ sở để khẳng định quan điểm truy tố đã được nêu trong bản Cáo trạng là đúng pháp luật Kiểm sát viên cũng đã chủ động tích cực tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; đã chú trọng xét hỏi những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa hỏi hoặc xét hỏi chưa kỹ; Các câu hỏi cơ bản là rõ ràng, dễ hiểu, logic, không trùng lắp, bám sát nội dung vụ án, làm rõ hành vi khách quan, ý thức chủ quan, vai trò đồng phạm của từng bị cáo và mức bồi thường dân sự mà đại diện người bị hại yêu cầu; Giữa các Kiểm sát viên có sự phối hợp nhịp nhàng trong việc phân công xét hỏi các bị cáo.20

Tuy nhiên, theo đánh giá, hiện nay, vấn đề xét hỏi của Kiểm sát viên vẫn cònmột số hạn chế : Kiểm sát viên không tích cực tham gia vào hoạt động xét hỏi, câuhỏi còn sơ sài, lan man hoặc ỷ lại vào Hội đồng xét xử do Hội đồng xét xử đã hỏihết các vấn đề cần hỏi nên Kiểm sát viên không còn gì để hỏi; cũng có nhữngtrường hợp Kiểm sát viên đặt những câu hỏi trùng lặp với Hội đồng xét xử; hayKiểm sát viên hỏi chỉ một vài câu hỏi cho có hình thức, chủ yếu hỏi bị cáo có cảmthấy oan sai không, thủ tục nhận cáo trạng có đảm bảo không chứ không hỏi gì vềnội dung vụ án.21 Một số trường hợp Kiểm sát viên chưa có câu hỏi dự phòng khicác bị cáo thay đổi lời khai; Kiểm sát viên đặt nhiều câu hỏi buộc tội, thiếu câu hỏi

gỡ tội; Khi các bị cáo chối tội, Kiểm sát viên có đấu tranh nhưng chỉ tập trung công

19 Báo cáo tóm tắt báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIV của Viện Trưởng VKSND tối cao (2021); đường dẫn https://www.vksndtc.gov.vn/tin-hoat-dong-vksnd-toi-cao/bao-cao-tong- ket-cong-tac- nhiem-ky-quoc-hoi-khoa-x-d2-t9125.html

20 Thông báo tổng hợp ý kiến nhận xét về phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm trực tuyến toàn quốc năm 2017; đường dẫn https://kiemsat.vn/thong-bao-tong-hop-y-kien-nhan-xet-ve-phien-toa-hinh-su-rut-kinh- nghiem-truc - tuyen-toan-quoc-nam-2017-48642.html

21 Phạm Tiểu Thơ (2020) “Xét hỏi của Thẩm phán tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật Tp HCM, tr 29

Trang 20

bố các lời khai của bị cáo về việc không bị mớm cung, ép cung mà chưa đưa rađược các tài liệu, chứng cứ trực tiếp để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo;Kiểm sát viên còn đặt câu hỏi thể hiện sự gợi ý, mớm cung, chứa hàm ý trả lời, đôilúc vội vã kết luận đúng sai, đưa ra một số lập luận mang tính quy chụp, áp đặt;Kiểm sát viên chưa đấu tranh làm rõ lý do các bị cáo khai khác với lời khai tại Cơquan điều tra, chưa xét hỏi đến cùng để làm rõ lời khai nào là đúng, chưa hỏi các bịcáo có tài liệu, chứng cứ chứng minh các bị cáo bị ép cung, mớm cung; Thẩm phánChủ tọa phiên tòa xét hỏi có tính chất mớm cung, ép cung nhưng Kiểm sát viênkhông phát hiện và đề nghị chấn chỉnh Khi Luật sư đề nghị, Kiểm sát viên vẫnkhông có ý kiến; Một số người làm chứng vắng mặt nhưng Kiểm sát viên không đềnghị Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra;Kiểm sát viên xét đôi lúc làm thay quyền điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, khôngthông qua Chủ tọa để hỏi các bị cáo và người làm chứng.22

* Đối với hoạt động của Người bào chữa; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Trong những năm gần đây, khi vấn đề tranh tụng đã được coi trọng trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, vai trò của Người bào chữa ngày càng được nângcao, chất lượng cũng như số lượng Người bào chữa cũng vì thế mà tăng lên rất

nhiều Tính đến cuối năm 2020 Luật sư thành viên có số lượng 15.107 So với năm

2019 có 13.859 luật sư, số lượng luật sư đã tăng 1.248 luật sư 23 Riêng đoàn luật sư

Tp Hồ Chí minh tính đến tháng 11/2020 là 6293 luật sư; tổng số vụ Đoàn luật sư

tham gia bao chữa là 2612 vụ án, trong đó có 672 vụ án là bào chữa chỉ định.24 Tham

gia vào hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, người bào chữa

đã có những câu hỏi có chất lượng, đi vào trọng tâm, không chỉ bảo vệ được thân chủcủa mình mà còn góp phần vào việc xác định sự thật vụ án, giúp cho Hội đồng xét xử

ra bản án mang tính khách quan, chính xác Những trường hợp “vẽ đường” cho bị cáotrả lời sai hoặc “dựng lên màn kịch” sao cho có lợi cho thân chủ mình đã được giải

22 Thông báo tổng hợp ý kiến nhận xét về phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm trực tuyến toàn quốc năm 2017; đường dẫn https://kiemsat.vn/thong-bao-tong-hop-y-kien-nhan-xet-ve-phien-toa-hinh-su-rut-kinh- nghiem-truc- tuyen-toan-quoc-nam-2017-48642.html

23 Hội nghị Tổng kết tổ chức hoạt động năm 2020 và phương hướng hoạt động Năm 2021 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam; đường dẫn https://www.liendoanluatsu.org.vn/post/h%E1%BB%99i-ngh%E1%BB

Trang 21

quyết Kỹ năng xét hỏi cũng như những kỹ năng cần thiết khác của Người bào chữaluôn được liên đoàn luật sư cũng như các Đoàn luật sư các tỉnh thành quan tâm, cácchương trình tập huấn, hướng dẫn được tổ chức thường xuyên hơn.

Tuy đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, nhưng hoạt động xét hỏi củaNgười bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục như: câuhỏi còn vong vo, không đúng trọng tâm Trong những vụ án có Người bào chữa chỉđịnh, đặc biệt là những vụ án có bị cáo bị đưa ra xét xử với khung hình phạt tử hình,chung thân hoạt động của Người bào chữa đôi khi chỉ mang tính hình thức, Ngườibào chữa không hỏi nhiều hoặc hỏi nhưng không đảm bảo hiệu quả gỡ tội cho bịcáo; hoặc những trường hợp mà Người bào chữa là bào chữa viên nhân dân thamgia thì chất lượng hoạt động xét hỏi và tranh luận cũng chưa thật sự hiệu quả;Không ít trường hợp, Người bào chữa đã không nắm được tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ TNHS và phản biện thiếu cơ sở hoặc không đúng cơ sở pháp lý, không thuyếtphục được Hội đồng xét xử và người tham dự phiên tòa

Điều này cũng tương tự đối với người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại,đương sự Phần lớn chủ thể này khá là thụ động khi tham gia vào hoạt động xét hỏi Cóthể do là chủ thể được hỏi gần như cuối cùng nên những câu hỏi chủ thể này muốn hỏi

đã được hỏi trước đó, họ không lặp lại hoặc có hỏi thì cũng trùng lắp nội dung

1.3 Nguyên nhân của những hạn chế và giải pháp hoàn thiện quy định Pháp luật về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

1.3.1 Nguyên nhân

Những tồn tại mà tác giả đã phân tích ở trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân,

để có những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt độngxét hỏi, tác giả xin đưa ra một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, pháp luật TTHS hiện hành quy định về nội dung xét hỏi của Hội

đồng xét xử là chưa phù hợp Điều 307 BLTTHS 2015 quy định “Hội đồng xét xử

phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người” đã làm cho Tòa án hay cụ thể hơn là Hội đồng xét xử chưa thực sự trở thành

trọng tài để giải quyết sự “đối đầu” giữa bên buộc tội và gỡ tội Cũng chính điềunày đã khiến cho Kiểm sát viên tại phiên tòa không biết phải hỏi gì, hoặc phải hỏinhững vấn đề “phụ” “lòng vòng” thay vì hỏi đúng trọng tâm để bảo vệ cáo trạng vìcác vấn đề cần hỏi đã được Hội đồng xét xử làm rõ

Thứ hai, pháp luật TTHS hiện hành quy định quyền được đặt câu hỏi của bị

cáo cho bị hại, đương sự, người làm chứng nhưng lại cần phải được sự “đồng ý” của

Trang 22

Chủ tọa phiên tòa là chưa đảm bảo quyền của bị cáo một cách triệt để Thiết nghĩquyền được đặt câu hỏi của bị cáo chính là một cách thức để bị cáo có thể thực hiệntốt quyền bào chữa của mình, mặc khác, với điều kiện phải có sự “đồng ý” của Chủtọa phiên tòa thì quyền này liệu rằng lúc nào cũng được đảm bảo không.

Thứ ba, pháp luật TTHS hiện hành chưa quy định bị hại, đương sự có quyền

được đặt câu hỏi cho bị cáo hoặc người có liên quan Kết quả phiên tòa không chỉảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bị cáo mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi ích của bịhại, của đương sự, do đó, để những chủ thể này có thể đảm bảo được quyền lợi củamình, pháp luật TTHS nên ghi nhận quyền được đặt câu hỏi cho bị hại, đương sự

Thứ tư, nhận thức của một số Thẩm phán còn hạn chế, việc thực hiện một số

nguyên tắc chưa được triệt để như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc đảm bảoquyền bào chữa của bị cáo; việc xét hỏi còn cứng nhắc theo đề cương có sẵn mà

không căn cứ vào diễn biến của phiên tòa Chính điều này làm cho hiệu quả xét hỏi

tại phiên tòa trong một số trường hợp chưa được đảm bảo một cách triệt để

Thứ năm, đa phần Hội thẩm hiện nay vẫn còn kiêm nhiệm, tiêu chuẩn bầu

Hội thẩm còn dễ dàng; trình độ am hiểu pháp luật còn hạn chế; yêu cầu cần phảinghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên tòa còn chưa được thực hiệnnghiêm túc; Hội thẩm vẫn chưa thật sự độc lập với Thẩm phán khi xét xử Nhữngnguyên nhân này đã góp phần dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong hoạt động xét hỏi củaHội thẩm

Thứ sáu, nhận thức của Kiểm sát viên còn chưa đúng đắn, đầy đủ về chức

năng nhiệm vụ của mình cũng như tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiêntòa Chính điều này đã tạo cho Kiểm sát viên một tâm lý ỉ lại vào Hội đồng xét xử,

họ không thật sự tích cực khi tham gia vào hoạt động xét hỏi cũng như tranh luận

Thứ bảy, trình độ, kỹ năng của Người bào chữa vẫn còn hạn chế; thái độ

thiếu tích cực trong những vụ án bào chữa chỉ định; cũng như những “rào cản”trong những quy định của pháp luật trong hoạt động thu thập chứng cứ của Ngườibào chữa là những nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động xét hỏicủa Người bào chữa tai phiên tòa

1.3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Tố tụng hình sự về chủ thể có quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Thứ nhất, Cần xác định lại vai trò, chức năng của Hội đồng xét xử cho phù

hợp với mô hình tố tụng và định hướng cải cách tư pháp hiện nay Hội đồng xét xửmuốn trở thành trọng tài thì không thể là “người hỏi chính” như pháp luật hiện

Trang 23

hành Do đó, khi thực hiện hoạt động xét hỏi, Hội đồng xét xử không thể hỏi “đầy

đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người” mà chỉ hỏinhững vấn đề mà Kiểm sát viên, Người bào chữa chưa hỏi để có thể làm sáng tỏthêm những tình tiết chưa rõ hoặc còn mâu thuẩn Ngược lại, cần nhìn nhận Kiểmsát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội, Kiểm sátviên cần phải bảo vệ nội dung bảng cáo trạng chính vì vậy, Kiểm sát viên phải làlực lượng nòng cốt, là người hỏi chủ yếu tại phiên tòa

Thứ hai, thay đổi quy định về quyền được đặt câu hỏi của bị cáo theo hướng

bị cáo có thể hỏi mà không cần sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa, chỉ cần đảm bảotheo đúng trình tự và sự điều hành của chủ tọa phiên tòa Đồng thời, bổ sung nộidung này vào Điều 307 khi quy định về trình tự xét hỏi

Thứ ba, bổ sung quyền xét hỏi của bị hại, đương sự cho phù hợp với tinh

thần cải cách tư pháp hiện nay cũng như đảm bảo nhu cầu bảo vệ quyền con ngườicủa những chủ thể đó

Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ quá trình bầu Hội thẩm, bổ sung tiêu chí bầu – cử

Hội thẩm cũng như chế tài đối với những trường hợp vi phạm hoặc không thực hiệnhết nhiệm vụ của mình Cần đảm bảo thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩmxét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” một cách triệt để

Thứ năm, lực lượng Kiểm sát viên đóng vai trò quan trọng trong hoạt động

xét hỏi, do đó, Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động này.Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị kế hoạch xét hỏi là điều cần thiết Đồngthời không có tâm lý ỉ lại Hội đồng xét xử, thực hiện tốt chức năng của mình tạiphiên tòa

Thứ sáu, tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho lực lượng

Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên Tiếp tục tổ chức các phiên tòa mẫu nhằm rútkinh nghiệm, qua đó mỗi cá nhân sẽ tự trang bị, rèn luyện thêm kỹ năng khi thamgia phiên tòa

Thứ bảy, lực lượng Người bào chữa phải không ngừng được nâng cao về số

lượng lẫn chất lượng Người bào chữa tự mình phải trang bị những kỹ năng cầnthiết để có thể đưa ra những câu hỏi đúng trọng tâm, đảm bảo hiệu quả của hoạtđộng bào chữa, đồng thời cần phối hợp với người tiến hành tố tụng để xác địnhđược sự thật khách quan

Ngày đăng: 21/04/2022, 21:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w