Trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ngoài thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự nói chung thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình nóiriêng của Tòa án đư
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN THEO VỤ VIỆC VÀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP ĐỐI VỚI CÁC TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 7
1.1 Thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc 7
1.2 Thẩm quyền của Tòa án các cấp 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN THEO LÃNH THỔ, THEO SỰ LỰA CHỌN CỦA NGUYÊN ĐƠN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 30
2.1 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ 30
2.2 Thẩm quyền của Tòa án theo s l a chọn của n n đơn 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
KẾT LUẬN 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, do hội nhập kinh tế thế giới ngày càng diễn ra mạnh mẽ nên cáctranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội ngày càng gia tăng và phức tạp Để đảm bảoquyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì đòi hỏi Nhà nước ta phải xây dựng hệthống pháp luật vững mạnh, chặt chẽ và được áp dụng có hiệu quả trong đời sống xãhội nhất là phải kể tới vai trò quan trọng của hệ thống Tòa án với thẩm quyền xét xửchuyên biệt Trên cơ sở thực tiễn áp dụng thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã được ban hành và hoàn thiệnhơn để thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 Trong
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ngoài thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân
sự nói chung thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình nóiriêng của Tòa án được quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng
là một trong những cơ sở pháp lý rất quan trọng để xác định thẩm quyền xét xử củaTòa án nhân dân, và là tiền đề để tòa án Việt Nam thực hiện chức năng thụ lý, giảiquyết những vụ việc hôn nhân và gia đình
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
về hôn nhân và gia đình vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định như: chưa chú ýđến thẩm quyền xét xử đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cụ thể như trườnghợp bị đơn đã đi nước ngoài sinh sống nhưng Tòa án cấp huyện vẫn thụ lý xét xửtheo hộ khẩu thường trú của bị đơn là vi phạm nghiêm trọng về thẩm quyền vì đây
là vụ án có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh; haytrường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hônnhưng đã tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp trước đó mà chưa được Tòa ángiải quyết ly hôn, sau đó một bên chết dẫn đến người có quan hệ hôn nhân sau đứng
ra tranh chấp chia tài sản là bất động sản, địa chỉ của hai bên đương sự và nơi có bấtđộng sản thì khác nhau, có quan điểm cho rằng tranh chấp trên chỉ là tranh chấp dân
sự nên thẩm quyền giải quyết của Tòa nơi có bất động sản nhưng có quan điểm chorằng tranh chấp trên là tranh chấp hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền củaTòa nơi bị đơn cư trú; ngoài ra có trường hợp các bên đương sự thỏa thuận Tòa ánkhông đúng thẩm quyền để giải quyết ly hôn; hay trường hợp xác định cha, mẹ, conthì còn chưa thống nhất về thẩm quyền giữa Tòa án và Ủy ban nhân dân; mặt khácloại án hôn nhân và gia đình thực chất là một loại án dân sự, không có luật tố tụngđiều chỉnh riêng mà áp dụng thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự, loại án hôn
Trang 3nhân và gia đình tuy là một loại án dân sự nhưng nó vẫn có những đặc thù riêng ápdụng cái chung đương nhiên có những hạn chế bất cập nhất định… Từ những thựctrạng nêu trên nên việc áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đốivới các tranh chấp về hôn nhân và gia đình dẫn đến tình trạng người dân bức xứckhiếu nại nhiều, đương sự kháng cáo kéo dài vụ án Vì vậy, việc nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình là cần thiết.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thẩm quyền giải quyết
của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình” để làm luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự của mình với mongmuốn được đóng góp xây dựng, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụngpháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu của tác giả nhận thấy, liên quan đến đề tài “Thẩm quyền giải
quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình” đã được nhiều
tác giả khác quan tâm nghiên cứu, có thể kể ra một số công trình như sau:
- Trường Đại học Luật TPHCM (2018), “Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam”, NXB Hồng Đức Trong giáo trình này, các tác giả đã phân tích các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hôn nhân vàgia đinh Tuy nhiên, vì đây là giáo trình nên phần thực tiễn không được đề cập dotính chất của công trình không nghiên cứu về khía cạnh này
- Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2021), “Sách tình huống Luật Tố tụng dân sự (Bình luận bản án)”, Nhà xuất bản Hồng Đức Trong công trình này,
các tác giả đã phân tích quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa ánđối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình với các bản án, quyết định cụ thể cuảTòa án nhân dân Liên quan đến thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranhchấp về hôn nhân và gia đinh, các tác giả nhận thấy các bình luận tại các chủ đề:Chủ đề 8, Chủ đề 9, Chủ đề 10 Với công trình nghiên cứu này, các tác giả đãnghiên cứu những vấn đề cụ thể trong từng bản án, quyết định để so sánh giữa quyđịnh của pháp luật, thực tiễn thực hiện, pháp luật và đề xuất kiến nghị Tác giả dựavào các bình luận này để lấy ý tưởng triển khai đề tài của mình;
- Đặng Thanh Hoa (Chủ biên), Lưu Tiến Dũng (2020), “Lý giải một số vấn
đề của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử”, Nxb Hồng Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình này, các nội dung nghiên cứu liên quanđến
Trang 4thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình ởVấn đề 2 Với cách đặt vấn đề và nội dung lý giải trong công trình, tác giả học tập
và định hướng nghiên cứu, triển khai đề tài trong luận văn của mình;
- Nguyễn Văn Tiến, Bành Quốc Tuấn chủ biên (2011), “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại
cơ quan tư pháp Việt Nam”, NXB Lao Động Trong cuốn sách này các tác giả chỉ
dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình
về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng mà chưa đi sâu về thầmquyền giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình nói chung, nên việc đánh giá,tổng hợp những vướng mắc vào thực tiễn chưa nhiều
- Nguyễn Văn Cường, Trần Anh Tuấn, Đặng Thanh Hoa (chủ biên, 2012),
“Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi”, NXB Lao động - Xã hội, Hà
Nội Trong công trình này, các tác giả đã phân tích, so sánh các quy định mới được sửađổi, bổ sung tại luật sửa đổi, bổ sung năm 2011, đối chiếu với giải quyết các vụ việcdân sự, giải thích một cách khoa học về trình tự thủ tục tố tụng dân sự, trong đó cóthẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Tuynhiên, vì đây là sách bình luận nên các tác giả tập trng bình luận về khoa học Bộ luật
Tố tụng dân sự nên không nghiên cứu về tổng hợp những vướng mắc trên thực tiễn vềthẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Nguyễn Thị Lan (2002), “Xác định cha, mẹ, con theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ trường Đại học luật
Hà Nội Trong công trình này, tác giả đã nêu lên và phân tích những quy định củapháp luật Việt Nam hiện hành mà cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vềxác định cha, mẹ, con có đề cập vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc xác địnhthẩm quyền xác định cha, mẹ, con Tuy nhiên, công trình này được thực hiện vàonăm 2002 vào thời điểm Luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, đếnnay những quy định đã được sửa đổi không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.Ngoài ra, công trình chưa nghiên cứu toàn diện về vấn đề thẩm quyền giải quyết củaTòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Võ Văn Tuấn Khanh (2019), “Bàn về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con”, Tạp chí kiểm sát số 7 (4.2019) Bài viết này tác giả có nêu lên và phân tích những
quy định pháp luật về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con và có đưa ra tình huống cụthể để minh họa cho thực tiễn xét xử Đồng thời tác giả bài viết cũng đưa ra những
Trang 5kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thẩm quyền xác định cha, mẹ, con.Tuy nhiên, công trình chỉ mới dừng lại ở vấn đề thẩm quyền xác định cha, mẹ, conchỉ một khía cạnh của đề tài chưa đi sâu phân tích vấn đề thẩm quyền giải quyết củaTòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Do đó cần phải tiếp tụcnghiên cứu hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình.
- Đặng Thanh Hoa và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2016), “Sửa đổi về thẩm quyền
của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại BLTTDS năm 2015”, Tạp chí “Khoa học pháp lý” số 06(100)/2016 - 2016 Trong bài viết này các tác giả tập trung phân tích
thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộluật tố tụng dân sự năm 2015 Theo đó, đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ
có Tòa án nơi có bất động sản giải quyết quy định này có thể dẫn đến nhiều cáchhiểu khác nhau Trong công trình này các tác giả đã phân tích những bất cập và đưa
ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cách xác định Tòa án có thẩm quyền về lãnhthổ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình hoặc vụ án thừa kế có tranh chấp về bấtđộng sản Tuy nhiên, đây chỉ mới dừng lại là một bài báo khoa học phân tích chỉmột khía cạnh thẩm quyền theo lãnh thổ, chưa phân tích toàn diện vấn đề thẩmquyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Nhìn chung tất cả những công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứuvới nội dung rộng, hầu hết là nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi,
bổ sung năm 2011 Vì vậy, tác giả nghiên cứu đề tài “Thẩm quyền giải quyết của
Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình” là cần thiết Tác giả đi
sâu phân tích những quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranhchấp về hôn nhân và gia đình, đồng thời chỉ ra những bất cập và đề xuất những kiếnnghị nhằm hoàn thiện những quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối vớicác tranh chấp về hôn nhân và gia đình
3 Mục đíc , nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là làm rõ những quy định của pháp luật, thực tiễn ápdụng về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và giađình gồm thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, theo cấp, theo lãnh thổ, theo sự lựachọn của nguyên đơn, người yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Đánh giá quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình;
Trang 6- Đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
4 Đ i ƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về những quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa ánđối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thực trạng áp dụng pháp luật và chỉ ranhững bất cập đang tồn tại Trên cơ sở đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện những quy định
về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa ánđối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015 từ khi Bộ luật này có hiệu lực pháp luật cho đến nay
5 P ƣơn pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:
-Phương pháp phân tích: Phương pháp này sử dụng trong chương 1 và chương 2
để làm rõ thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và giađình Trong đó, chú trọng việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thẩm quyềngiải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
-Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp này sử dụng trong chương 1 vàchương 2 so sánh giữa quy định của pháp luật với thực tiễn về thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thực tiễn áp dụng
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này sử dụng trong chương 1 và chương
2 để so sánh quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình trước đây và hiện nay
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Phương pháp này sử dụngtrong chương 1 và chương 2 nhằm phân tích về thẩm quyền giải quyết đối với cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân, đồng thời đưa ra một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về thẩm quyềngiải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Mỗi phương pháp nghiên cứu đem lại những hiệu quả nhất định trong việclàm rõ đối tượng nghiên cứu, xác định mục đích của việc triển khai đề tài trong luậnvăn
Trang 76 Ý n ĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranhchấp về hôn nhân và gia đình góp phần làm rõ thực trạng áp dụng thẩm quyền giảiquyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong thực tiễn thihành pháp luật, chỉ ra bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập vềthẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong công tác mà tácgiả đang công tác
Những kiến nghị là cơ sở để hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
7 Kết cấu của lu n ăn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm có 02 chương:
C ƣơn 1 Thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc và thẩm quyền của Tòa án
các cấp đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
C ƣơn 2 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên
đơn, người yêu cầu đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Trang 8CHƯƠNG 1 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN THEO VỤ VIỆC VÀ THẨM QUYỀN
CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP ĐỐI VỚI CÁC TRANH CHẤP
VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.1 T ẩm q ền của Tòa án theo ụ iệc
Xác định cha, mẹ, con là việc xác nhận mối quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ vàcon Trong tất cả các mối quan hệ gia đình thì có thể nói đây là mối quan hệ cơ bản,quan trọng và thiêng liêng nhất Theo Từ điển Luật học, xác định cha, mẹ, con là việcxác nhận một người là cha, mẹ hoặc một người là con của người khác trên cơ sở cácquy định của pháp luật Theo khái niệm này, xác định cha, mẹ, con là quyền của côngdân theo quy định của pháp luật về công nhận hoặc không công nhận mối quan hệ cha,
mẹ, con, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trên1.Xác định cha, mẹ, con được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau về vấn đề này
Dưới góc độ sinh học - xã hội, xác định cha, mẹ, con là việc nhận diện mốiquan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ Giađình là một thiết chế xã hội cơ sở đóng vai trò quan trọng đối với xã hội Việc xácđịnh cha, mẹ, con là cơ sở để đảm bảo cho việc nâng cao ý thức trách nhiệm đối vớigia đình giữa các thế hệ và tạo điều kiện cho các quyền cơ bản của trẻ em được tôntrọng, thực hiện Những đứa trẻ sinh ra đương nhiên phải được trở thành thành viêncủa gia đình, được quan tâm, phát triển về cuộc sống vật chất, tinh thần, đáp ứngđược những nguyện vọng chính đáng từ đời sống xã hội
Việc xác định cha, mẹ, con là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích gia đình và xãhội, bởi không một tổ chức, môi trường nào có thể thay thế được gia đình, là tổ ấmmang lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, từ khi con lọt lòng mẹ cho đến suốt cuộc đời.Mỗi cá nhân sẽ tìm thấy ở gia đình sự đùm bọc về vật chất, tinh thần, tiếp thu sựgiáo dưỡng về mọi mặt, gia đình đảm bảo những điều kiện an toàn cho sự phát triểntoàn diện của trẻ em Việc xác định cha, mẹ, con dựa trên những nguyên tắc, tiêuchuẩn không chỉ góp phần ổn định quan hệ xã hội mà còn nâng cao hiệu quả côngtác quản lý nhà nước về dân số và hộ tịch2
Dưới góc độ pháp lý, xác định cha, mẹ, con là sự nhận diện cha, mẹ, con trên
cơ sở các quy phạm pháp luật, theo các thủ tục khác nhau nhằm xác định mối quan
hệ cha mẹ con
1 Nguyễn Thị Lan (2002), Luận văn thạc sĩ “Xác định cha, mẹ, con – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, tr.5
2 Nguyễn Thị Lan (2002), tlđd (1), tr.6.
Trang 9Xác định cha, mẹ, con được quy định trong pháp luật Việt Nam phù hợp vớiluật pháp quốc tế, đặc biệt là phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em Theo
Công ước này, “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”3 Xác định cha, mẹ,
con được quy định của Luật HN&GĐ, Hiến pháp và Pháp luật dân sự, thể hiện sựquan tâm của Nhà nước, xã hội, tầm quan trọng của hoạt động này trong thực tiễn4
Thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án đối với các tranh chấp về HNGĐ là giớihạn do pháp luật quy định để Tòa án nhân dân thụ lý và giải quyết các tranh chấp vềHNGĐ Thẩm quyền này được quy định tại Điều 28 BLTTDS Nội dung thẩmquyền theo vụ việc của Tòa án đối với các tranh chấp về HNGĐ được quy định tạiMục 2 LHNGĐ, Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31.12.2014 hướng dẫn LHNGĐ
2014, Luật Hộ tịch năm 2010, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
hộ tịch và Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28.5.2020 của Bộ Tư pháp về quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CPngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biệnpháp thi hành Luật hộ tịch
Theo Điều 28 BLTTDS, Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết các tranhchấp về hôn nhân và gia đình sau: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi lyhôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranhchấp về cấp dưỡng; tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo; tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chungsống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn tráipháp luật và các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộcthẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Thẩm quyền giải quyết về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con chocha, mẹ được quy định tại Điều 101 LHNGĐ và khoản 4 Điều 28 BLTTDS Quanghiên cứu về thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp về xác định cha, mẹ,con, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:
3Điều 7 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
4Nguyễn Thị Lan (2002), tlđd (1), tr.7.
Trang 10Thứ nhất, căn cứ xác định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án đối với cáctranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con là chưa cụ thể, rõ ràng.
Theo khoản 4 Điều 28 BLTTDS, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ Theo Điều 101LHNGĐ, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quyđịnh của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp Tòa án có thẩmquyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặcngười được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và xác định cha, mẹ, con trongtrường hợp người có yêu cầu chết
Theo khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP, trường hợp con do người
vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừanhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác địnhtheo quy định pháp luật Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quanđăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xácđịnh được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyếtcủa Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1Điều 14 của Thông tư này
Theo các quy định nêu trên, thẩm quyền giải quyết tranh chấp về xác địnhcha, mẹ, con giữa cơ quan đăng ký hộ tịch và Tòa án là chưa cụ thể, chưa phân biệtmột cách rành mạch về thẩm quyền giữa các cơ quan trên Căn cứ ”không có tranhchấp” theo khoản 1 Điều 101 LHNGĐ là chưa cụ thể Bởi, nói đến tranh chấp là nóiđến sự giành nhau, cãi nhau, đôi co nhau5 Bản chất của tranh chấp là sự xung đột
về lợi ích mà các bên không tự giải quyết được và yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩmquyền giải quyết Trong việc xác định cha, mẹ, con, có một số trường hợp, tuy cácbên không tranh chấp nhưng vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND
Ví dụ: Thẩm quyền xác định cha, mẹ, con6
Theo đơn khởi kiện ngày 10/02/2017, anh Lê trình bày: Anh Lê và chị Bùi cóquan hệ tình cảm (chị Bùi là vợ hợp pháp của anh Quảng) và sinh được 01 ngườicon chung tên là Hoàng (sinh ngày 07/10/2011) Tại thời điểm sinh con, vì chị Bùichưa ly hôn với anh Quảng (là chồng hợp pháp) nên chị Bùi phải làm thủ tục khaisinh cho con theo họ anh Quảng và khai tên bố là anh Quảng
5Viện Ngôn ngữ (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, trang 1075.
6 con -1643/, cập nhật lúc 15h ngày 19.11.2021.
Trang 11http://vienkiemsatquangbinh.gov.vn/index.php/vi/news/Kiem-sat-vien-viet/Tham-quyen-xac-dinh-cha-me-Tại Bản án số 09 ngày 23/9/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Q đã xử cho chị Bùi
và anh Quảng ly hôn, về quan hệ con chung chỉ xác định 01 người con chung làcháu An, không đưa cháu Hoàng vào để giải quyết về con chung
Tại kết quả giám định ADN của Công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật BIMECOViệt Nam kết luận: Anh Lê và cháu Hoàng có quan hệ huyết thống cha con
Tại bản tự khai ngày 06/3/2017, chị Bùi thừa nhận cháu Hoàng là con chunggiữa chị Bùi và anh Lê Cháu Hoàng do chị sinh ra khi anh Quảng đang ở nướcngoài Chị Bùi đề nghị Tòa án công nhận cháu Hoàng là con của anh Lê như đơnkhởi kiện và yêu cầu của anh Lê Anh Quảng đã được triệu tập và tống đạt các vănbản tố tụng nhưng không nhận và không có ý kiến về việc thụ lý vụ án
Tại Bản án số 05 ngày 20/6/2017, Tòa án nhân dân huyện H xác định đây là
vụ án tranh chấp xác định con cho cha Bản án quyết định chấp nhận yêu cầu củanguyên đơn, xác nhận cháu Hoàng là con đẻ của anh Lê7
Đối với vụ án nêu trên, có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền và thủtục giải quyết
Quan điểm thứ nhất, đây là vụ việc không có tranh chấp Trong vụ án này,nguyên đơn, bị đơn, người liên quan không ai có ý kiến phản đối yêu cầu xác địnhcon của nguyên đơn và chính mẹ cháu bé cũng thừa nhận cháu là con của anh Lê.Việc Tòa án thụ lý và chấp nhận yêu cầu của anh Lê, xác định chị Bùi mẹ cháu bé là
bị đơn trong vụ án là hoàn toàn không đúng quy định pháp luật Trong vụ án này,chị Bùi không hề ngăn cản việc anh Lê yêu cầu xác nhận con mà lại rất đồng tìnhvới yêu cầu của anh Lê
Quan điểm thứ hai, đây là vụ việc có tranh chấp Theo khoản 2 Điều 101LHNGĐ, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trườnghợp có tranh chấp Yếu tố tranh chấp ở đây là anh Lê đã làm đơn khởi kiện yêu cầuTòa án xác định cháu Hoàng là con đẻ nhưng khai sinh tên cha lại là anh Quảng (làchồng hợp pháp của chị Bùi tại thời điểm chị Bùi sinh cháu Hoàng) Tranh chấpkhông có nghĩa là phải có sự không đồng ý giữa anh Lê, chị Bùi và anh Quảng
Quan điểm thứ ba, đây là việc dân sự vì không có tranh chấp Điều 101LHNGĐ cần bổ sung thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục việc dân sự đốivới trường hợp xác định con không có tranh chấp để đương sự có sự lựa chọn cơquan giải quyết phù hợp (theo BLTTDS hoặc Luật Hộ tịch 2014), đồng thời có sựthống nhất giữa Luật hôn nhân gia đình với Bộ luật Tố tụng dân sự
7 con - 1643/, cập nhật lúc 20h ngày 5.10.2021.
Trang 12http://vienkiemsatquangbinh.gov.vn/index.php/vi/news/Kiem-sat-vien-viet/Tham-quyen-xac-dinh-cha-me-Quan điểm của tác giả: Trong vụ án này, tuy anh Lê, chị Bùi và anh Quảngkhông có sự phản đối, xung đột với nhau nhưng đây là vụ việc có tranh chấp Yếu tốtranh chấp xác định ở chỗ là anh Lê đã khởi kiện vụ án, yêu cầu Tòa án xác địnhcon cho mình Yếu tố thứ hai, đó là khai sinh của cháu Hoàng, tên người cha tronggiấy khai sinh là anh Quảng Nếu anh Lê yêu cầu cơ quan hộ tịch thay đổi tên cha(từ anh Quảng sang anh Lê) theo sự thừa nhận của anh Lê và chị Bùi thì cơ quan hộtịch không thể thụ lý giải quyết Bởi, cơ quan hộ tịch cấp giấy khai sinh cho cháuHoàng là đúng quy định của luật (con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chungcủa vợ chồng, Điều 88 LHNGĐ) Vấn đề còn lại là hiểu như thế nào là tranh chấptrong việc xác định con cần được xác định và thống nhất.
Hay một ví dụ khác cũng tương tự như trường hợp nêu trên được Tòa án xét
xử nhưng các bên cũng không có tranh chấp theo Bản án dân sự sơ thẩm số26/2017/HNGĐ-ST ngày 02/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phốHải Phòng8 Theo bản án này thì vào năm 2012 anh Trần Văn P và chị Trần ThịThanh H chung sống với nhau như vợ chồng trong khi chị H chưa ly hôn với anh
Vũ Huy C (anh C đang chấp hành án), năm 2013 chị H sinh cháu K nhưng do chị H
và anh C chưa ly hôn nên không làm giấy khai sinh cho cháu K được Năm 2016 chị
H và anh C ly hôn theo quyết định của Tòa án Năm 2017 anh P yêu cầu Tòa án xácđịnh anh P là cha đẻ của cháu K, chị H cũng thống nhất và anh C cũng không có ýkiến gì và xác nhận anh C và chị H không có con chung nào khác trong thời giananh chấp hành án TAND quận Kiến An xử chấp nhận yêu cầu của anh P và xácđịnh anh P là cha đẻ cháu K theo kết quả giám định ADN
Quan điểm của tác giả: Trong vụ án này, anh P, chị H và anh C không có sựphản đối, xung đột với nhau, giữa chị H và anh C cũng đã được Tòa án giải quyết lyhôn xong, nhưng đây vẫn là vụ việc có tranh chấp Yếu tố tranh chấp là cháu Kđược sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh P và chị H đang tồn tại theo Điều 88LHNGĐ nên nếu anh C yêu cầu cơ quan hộ tịch làm khai sinh cho cháu K theo sựthừa nhận của anh P và chị H thì cơ quan hộ tịch không thể thụ lý giải quyết
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, tranh chấp trong xác định con theo khoản 4Điều 28 BLTTDS và Điều 101 LHNGĐ, cần được hướng dẫn như sau về thẩmquyền và chủ thể khởi kiện:
Một, Điều 101 LHNGĐ sửa đổi theo hướng:
8Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2017/HNGĐ-ST ngày 02/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng (Phụ lục 1)
Trang 13Nam, nữ chung sống với nhau hoặc sinh con khi chưa kết hôn, sau đó mới kết hôn mà có yêu cầu nhận con thì thủ tục đăng ký nhận con theo quy định của pháp luật hộ tịch.
Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Nam, nữ chung sống với nhau mà có con hoặc nam, nữ có con với người đang có vợ, chồng và con đã đăng ký khai sinh với tên cha, mẹ là người khác, nếu
có yêu cầu nhận con thì phải do Tòa án giải quyết Người có yêu cầu xác định con phải có chứng cứ chứng minh Trong trường hợp này, áp dụng khoản 4 Điều 28 BLTTDS và khoản 2 Điều 102 LHNGĐ để giải quyết.
Hai, Nghị quyết hướng dẫn thi hành về thẩm quyền của TAND mà cụ thể làchủ thể khởi kiện đối với vụ án xác định cha, mẹ, con, cần được sửa đổi, bổ sung vàhướng dẫn theo hướng như sau:
Nam, nữ chung sống với nhau mà có con hoặc nam, nữ có con với người đang có vợ, chồng và con đã đăng ký khai sinh với tên cha, mẹ là người khác thì Tòa án giải quyết Căn cứ áp dụng để giải quyết là quy định tại khoản 4 Điều 28 BLTTDS và khoản 2 Điều 102 LHNGĐ.
Thứ hai, quy định về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con giữa pháp luật về hộtịch và TTDS chưa dứt khoát, triệt để
Theo khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP: Trường hợp con do người vợsinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận làcon chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quyđịnh pháp luật Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộtịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được chahoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án vàchứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định Cách quy định này là gây khókhăn cho đương sự trong việc yêu cầu xác định cha, mẹ cho con Thay vì quy địnhthẩm quyền rõ ràng thì Thông tư lại quy định thêm điều kiện là “Tòa án nhân dân từchối giải quyết” Quy định trên buộc đương sự phải yêu cầu Tòa án giải quyết trước,nếu Tòa án từ chối thì thuộc thẩm quyền của cơ quan hộ tịch Lẽ ra, đối với trường hợpnày nên quy định thẩm quyền là Tòa án thì phù hợp và cụ thể hơn
Trang 14Ví dụ: Đẻ con lúc ở với chồng cũ, chồng mới nhận cha9.
Vợ chồng ông Trần Văn A (Bến Tre) đăng ký kết hôn năm 2000, đến năm
2012 thì sinh bé Y (tên dự định đặt) Đến năm 2014, vợ chồng ông A ly hôn theobản án Tòa Từ khi sinh ra đến nay bé Y chưa được đăng ký khai sinh mà chỉ cógiấy chứng sinh do bệnh viện cấp
Năm 2018, mẹ bé Y kết hôn với ông Võ Văn B và được UBND phường 2,quận 10, TP.HCM cấp giấy chứng nhận kết hôn Sau đó, ông B yêu cầu UBNDphường đăng ký khai sinh cho bé Y Hồ sơ mà ông B cung cấp cho UBND phườnggồm có phiếu kết quả phân tích ADN thể hiện ông là cha ruột bé Y (có cùng huyếtthống cha con), giấy chứng nhận kết hôn của ông và mẹ bé Y Mẹ bé Y cũng có vănbản thỏa thuận thừa nhận bé Y là con của bà và ông B
Do bé Y được sinh ra năm 2012 (trong thời kỳ hôn nhân giữa mẹ bé Y vàchồng trước) nên UBND phường 2, quận 10, TP.HCM không giải quyết đăng kýkhai sinh cho bé và hướng dẫn ông B (chồng sau của mẹ bé Y) khởi kiện ra Tòa án
để xác định cha cho con
Vì bé Y sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của ông A và mẹ bé nên ông A và mẹ
bé là cha mẹ Tuy nhiên, ông A và người mẹ không đăng ký khai sinh nên họ khôngphải là cha mẹ về mặt pháp lý dù có giấy chứng sinh
Về phía ông B, tuy chứng cứ xác định ADN là cha ruột bé Y nhưng vì bé khôngsinh ra theo quy định tại Điều 88 LHNGĐ nên ông B cũng không phải cha bé Y
Về nguyên tắc, Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định consinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân làcon chung của vợ chồng Trường hợp bé Y phải là con của ông A và mẹ bé Y Tuynhiên, vì chưa đăng ký khai sinh và vì cha đích thực của bé Y là ông B nên mẹ bé Ykhông làm khai sinh cho bé Bộ Tư pháp có tập huấn nghiệp vụ công tác hộ tịch làtrong trường hợp người cha không thừa nhận con hoặc người mẹ khẳng định khôngphải là con của người chồng thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.Trường hợp Tòa án không thụ lý, giải quyết hoặc đình chỉ việc giải quyết do không
có tranh chấp thì để bảo đảm quyền lợi của trẻ em, tránh tình trạng trẻ không đượcđăng ký khai sinh, đề nghị UBND cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻtheo diện con chưa xác định được cha Hồ sơ phải có văn bản thể hiện việc từ chốigiải quyết của Tòa án có thẩm quyền; kết quả giám định ADN xác định người
9 https://plo.vn/phap-luat/de-con-luc-o-voi-chong-cu-chong-moi-nhan-cha-tinh-sao-810194.html, cập nhật lúc 22h ngày 12.11.2021.
Trang 15chồng không phải là cha ruột Nếu người cha thực tế có yêu cầu nhận con thì kết hợpgiải quyết đăng ký khai sinh và nhận con theo quy định tại Điều 12 Thông tư số15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015của Chính phủ Tuy nhiên, Điều 12 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015chưa quy định rõ về trường hợp này Theo Điều 12 của Thông tư này, khi đăng ký khaisinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộtịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con
và phải có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con10
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, TANDTC, Bộ Tư pháp, VKSNDTC cần cóvăn bản liên tịch (Thông tư) hướng dẫn khoản 4 Điều 28 BLTTDS, khoản 4 Điều 16Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28.5.2020 của Bộ Tư pháp về quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng
11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hànhLuật hộ tịch theo hướng như sau:
Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà thời điểm trẻ em sinh ra đang có cha mẹ thì giải quyết theo Điều 88 LHNGĐ Nếu trẻ em chưa đăng ký khai sinh mà cha, mẹ
đã ly hôn, kết hôn với người khác và có nhu cầu xác định cha, mẹ, con thì thẩm quyền thuộc về TAND.
Thứ ba, một số căn cứ xác định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án đối vớicác tranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con chưa được luật nội dung quy định
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 102 LHNGĐ, cha, mẹ, con, cóquyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình Cha, mẹ, con, người giámhộ; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hộiliên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thànhniên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưathành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự Theo khoản 2 Điều 89 LHNGĐ,người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đókhông phải là con mình
Theo quy định trên, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết việc xác địnhcha, mẹ, con khi việc xác định này không tự nguyện và có tranh chấp Thẩm
10 Nay là khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28.5.2020 của bộ Tư pháp về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.
Trang 16quyền này được quy định tại Khoản 4 Điều 28 BLTTDS Theo quy định trên, khiđương sự hoặc đại diện của họ yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải thụ lý giảiquyết Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật để xác định thẩm quyền củaTòa án đối với việc xác định cha, mẹ, con vẫn còn bất cập Đó là việc pháp luậtchưa ghi nhận quyền của đương sự trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợicủa họ và cần bổ sung.
Ví dụ: Việc xác định cha, mẹ, con có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan
tư pháp11
Năm 2000, chị HTN (18 tuổi) từ Huế vào TP.HCM để làm việc, sinh sống.Sau đó, chị quen và sống chung như vợ chồng với một người đàn ông Năm 2002,khi biết chị mang thai, người đàn ông này đã bỏ rơi chị
Trong lúc tuyệt vọng, chị N đã tìm đến cái chết nhưng được gia đình anhLĐT (ngụ huyện Củ Chi, TP.HCM) cứu giúp Anh T đã có vợ nhưng thương hoàncảnh tội nghiệp của chị N nên đưa chị về Huế làm đám cưới giả (không đăng ký kếthôn) để chị N không bị họ hàng, làng xóm đàm tiếu Tháng 9-2003, khi chị N sinh
em bé, anh T ra Huế, đến ủy ban phường nơi chị N sống làm thủ tục nhận con vàkhai sinh cho cháu bé
Nay cháu bé con chị N là Đ4 (14 tuổi), vì sợ sẽ ảnh hưởng đến gia đình anh
T Và muốn xóa tên cha trong giấy khai sinh, chị N đã bàn bạc với anh T, nhờ anh
đi xét nghiệm ADN để có chứng cứ nộp cho Tòa án yêu cầu xác nhận anh T khôngphải là cha ruột của cháu bé Anh T đồng ý Ngày 17-11-2015, chị N đã nộp đơnyêu cầu TAND huyện Củ Chi xác nhận anh T không phải là “cha sinh học” của congái mình TAND huyện Củ Chi thụ lý, xác định đây là “tranh chấp về xác định cha,
mẹ cho con”
Tháng 12-2015, TAND huyện Củ Chi đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án với lý do chị N không có quyền yêu cầu Theo Tòa án, Khoản 2 Điều 89 Luật
Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định “Người được nhận là cha, mẹ của một người
có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình” Theo Điều luật
này, chị N không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay cho anh T
VKSND huyện Củ Chi đã kháng nghị phúc thẩm, khẳng định chị N có quyềnyêu cầu Tòa giải quyết Theo VKS huyện Củ Chi, quy định này được ghi nhận tại
Khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Cá nhân, cơ quan,
11 http://plo.vn/phap-luat/me-xin-xac-nhan-khong-phai-cha-cua-con-toa-phai-xu-609891.html, cập nhật lúc 22h ngày 2.10.2021.
Trang 17tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành
vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:
a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ”.
Trong vụ án này, TAND huyện Củ Chi đã ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự với căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình
2014 là có căn cứ Bởi khoản 2 Điều 89 quy định chỉ có người được nhận là cha củamột người mới có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.Việc người mẹ khởi kiện là không đúng với quy định trên Theo điểm a khoản 1Điều 192 BLTTDS, thì người mẹ là người không có quyền khởi kiện
Từ bất cập trên, theo tác giả, khoản 2 Điều 89 LHNGĐ, Nghị quyết hướngdẫn Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án cần được sửa đổi, bổ sung vàhướng dẫn theo hướng như sau:
Một, khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 bổ sung, sửa đổi nhưsau:
Điều 89 Xác định con
1 Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình
2.Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định
người đó không phải là con mình Cha, mẹ của con có thể yêu cầu Tòa án xác định
người đó không phải là con mình
Hai, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, bổ sung, sửa đổi như sau:
Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
1 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha,
mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
Trang 18a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
Ba, Nghị quyết hướng dẫn thi hành về thẩm quyền của Tòa án đối với quyđịnh tại khoản 2 Điều 89, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khoản 4 Điều
28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chủ thể khởi kiện đối với vụ án xác địnhcha, mẹ, con, cần được hướng dẫn theo hướng như sau:
Người được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình Cha, mẹ, con, người giám hộ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án xác định một người không phải là con của người khác.
Quy định này đảm bảo việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án đối với cáctranh chấp về xác định cha, mẹ, con thuận lợi và dễ dàng hơn
Thứ tư, thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo Điều 101 LHNGĐ và khoản 4Điều 28 BLTTDS, chưa phân định rõ trong LHNGĐ và BLTTDS Đối với một sốtrường hợp, các quy định về thẩm quyền này có sự tùy nghi áp dụng và hậu quả cóthể là bản án, quyết định của Tòa án có thể bị hủy do có sự không thống nhất về xácđịnh thẩm quyền
Ví dụ: Bàn về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con12
Anh A và chị B cư trú tại xã ĐT, thị xã NB, tỉnh H, chung sống năm 2008,không đăng ký kết hôn Năm 2009, chị B sinh cháu C và do anh A, chị B khôngđăng ký kết hôn nên nhờ D (em trai anh A) E (vợ D) đứng tên cha mẹ trong giấykhai sinh của cháu C Năm 2015, C đến tuổi đi học nên anh A, chị B muốn thay đổiphần tên cha, mẹ trong giấy khai sinh của C Tuy nhiên, tại thời điểm này, D, E bỏ
đi đâu không rõ Anh A và chị B yêu cầu UBND xã ĐT, thị xã NB, tỉnh H cho thayđổi phần ghi cha, mẹ` của cháu C trong giấy khai sinh nhưng bị từ chối và đượchướng dẫn khởi kiện tại Tòa án thị xã NB, tỉnh H Tòa án thị xã NB, tỉnh H sau khinhận đơn đã trả lại đơn khởi kiện với lý do sự việc không thuộc thẩm quyền
Từ vụ việc này, vấn đề đặt ra là nếu trẻ em đã có giấy khai sinh nhưng cha,
mẹ ruột muốn xác định lại con cho mình thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án
12 Võ Văn Tuấn Khanh (2019), “Bàn về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con”, Tạp chí kiểm sát, số 7 (4.),
tr.55 – 58.
Trang 19hay Ủy ban nhân dân? Theo khoản 1 Điều 89 LHNGĐ, người không được nhận làcha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.Nhưng vấn đề đặt ra là theo Điều 101 LHNGĐ thì đối với việc xác định cha, mẹ,con mà không có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của cơ quan hộ tịch Vậy trongtrường hợp này, có hay không có sự tranh chấp? Nếu không có sự tranh chấp về xácđịnh cha, mẹ, con thì do Ủy ban nhân dân giải quyết Tuy nhiên, vì đứa trẻ đã cócha, mẹ (anh D, chị E) trong giấy khai sinh nên không thuộc trường hợp nhận cha,
mẹ, con theo Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 Ngược lại, Tòa án từ chối giải quyết
vì cho rằng trong vụ việc này không có tranh chấp do không xác định ý chí của anh
D, chị E nên từ chối thụ lý
Theo tác giả, trong trường hợp này, khoản 1 Điều 89 LHNGĐ, Điều 101LHNGĐ và khoản 4 Điều 28 BLTTDS cần thống nhất những nội dung sau:
Một, quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định một người là con mình
là quyền của cha, mẹ và phải được giải quyết Trong trường hợp này, không thể vìchưa có sự hướng dẫn thống nhất trong áp dụng pháp luật mà từ chối yêu cầu củaanh A, chị B là không thỏa đáng
Hai, việc xác định cha, mẹ, con phải có quy định thống nhất đồng bộ giữaLHNGĐ, Luật Hộ tịch và BLTTDS
Ba, đối với trẻ đã có giấy khai sinh thì thẩm quyền thuộc về UBND và Tòa
án Nếu trẻ em có nhiều giấy khai sinh do nhiều cơ quan hộ tịch cấp thì việc xácđịnh giấy khai sinh nào là đúng sẽ do Ủy ban nhân dân giải quyết13 Trường hợp trẻsinh ra đã được cấp giấy khai sinh nhưng họ tên cha, mẹ không đúng và có yêu cầuthì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Đối với vụ việc nêu trên, để đảm bảođúng thủ tục tố tụng thì Tòa án phải tuyên bố anh D, chị E mất tích theo Điều 68BLDS và tiến hành giải quyết theo yêu cầu của anh A, chị B
Từ thực tiễn trên, tác giả kiến nghị TANDTC, Bộ Tư pháp, VKSNDTC banhành văn bản liên tịch hướng dẫn về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo Điều
101 LHNGĐ và khoản 4 Điều 28 BLTTDS theo hướng như sau:
Việc nhận cha, mẹ, con mà con chưa có giấy khai sinh và việc nhận cha, mẹ, con tự nguyện, không có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của UBND có thẩm quyền theo quy định.
13 Cù Hiền, “Hy hữu: 1 bé gái được cấp 2 giấy khai sinh” gai-duoc- cap-2-giay-khai-sinh-902152.html, truy cập lúc 21h ngày 3.10.2021.
Trang 20https://plo.vn/phap-luat/hy-huu-1-be-Việc nhận cha, mẹ, con mà con có nhiều giấy khai sinh do nhiều cơ quan hộ tịch cấp và có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của UBND có thẩm quyền giải quyết.
Việc nhận cha, mẹ, con mà con đã có giấy khai sinh nhưng tên cha, mẹ trong giấy khai sinh không phải là cha, mẹ đích thực thì dù tự nguyện hay có tranh chấp, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân.
1.2 T ẩm q ền của Tòa án các cấp
Thẩm quyền của Tòa án các cấp là bộ phận của thẩm quyền xét xử, xác địnhcấp Tòa án được tiến hành thụ lý giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm.Thẩm quyền của Tòa án các cấp là giới hạn do pháp luật quy định để Tòa án các cấpthực hiện chức năng giải quyết các vụ việc dân sự
Thẩm quyền của Tòa án các cấp có thể được phân chia theo các tiêu chí: Giátrị tranh chấp, tính chất của vụ việc hoặc bản chất của tài sản Theo BLTTDS 2015,thẩm quyền của Tòa án các cấp được phân chia căn cứ vào tính chất của vụ việc.Thẩm quyền của Tòa án các cấp bao gồm thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao,thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và cấp huyện14
Mỗi cấp Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng có thẩm quyền giải quyếttrong phạm vi những vụ việc dân sự nhất định Cơ sở để cơ quan ban hành pháp luậtquy định thẩm quyền cho từng cấp Tòa án là dựa vào năng lực thực sự của các cấpTòa án và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật Sự phù hợp giữa quy định của phápluật thẩm quyền xét xử và năng lực của cấp Tòa án là điều kiện quan trọng thúc đẩyhoạt động thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn, giúp cho Tòa án giải quyết các vụviệc dân sự đúng đắn, chính xác15
Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh được quy định tại Điều
35 và Điều 37 BLTTDS Theo Điều 35 BLTTDS, Tòa án cấp huyện không được thụ
lý giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mà có đương sự hoặc tài sản ởnước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài trừ việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ vàcon, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú
ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biêngiới với Việt Nam và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
14 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB
Hồng Đức, tr.143.
15 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2018), tlđd (14), tr.144.
Trang 21Theo Điều 2 Dự thảo của Tòa án nhân dân tối cao16 vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Viêt Nam theo quy định tại Điều
469 của Bộ luật tố tụng dân sự được xác định như sau:
- Vụ án có bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam:
Vụ án giữa nguyên đơn là công dân Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài, cơquan, tổ chức nước ngoài và bị đơn là công dân Việt Nam ở trong nước; vụ án giữanguyên đơn quy định tại điểm a khoản này với bị đơn là người nước ngoài đang cưtrú, làm việc tại Việt Nam và được cấp thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc được cấpgiấy miễn thị thực có thời hạn không quá 5 năm, kể cả trường họp được xem xét cấplại thẻ hoặc giấy này theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh,
cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
- Vụ án mà bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam: Vụ án giữa nguyên đơn
là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài và bị đơn là công dân Việt Nam,
cơ quan, tổ chức Việt Nam có tài sản tại Việt Nam; vụ án giữa nguyên đơn là côngdân Việt Nam, cơ quan, tổ chức Việt Nam, người nước ngoài, cơ quan, tổ chứcnước ngoài với bị đơn là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài có tài sảntại Việt Nam
- Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc cácđương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam: Vụviệc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài mà nguyên đơn hoặc bịđơn ở nước ngoài hoặc các bên đương sự đều ở nước ngoài; vụ việc ly hôn giữa cácbên đương sự là người nước ngoài và người nước ngoài có tài sản tại Việt Nam
Theo Điều 3 Dự thảo của Tòa án nhân dân tối cao xác định vụ việc dân sự
thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Viêt Nam theo quy định tại Điều 470 của
Bộ luật tố tụng dân sự được xác định như sau:
- Vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trênlãnh thổ Việt Nam có một bên đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nướcngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế có thỏa thuận khác
- Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam ở trong nước và đương sự là ngườinước ngoài và các quy định khác liên quan đến vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 471 BLTTDS, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được mộtTòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền thì phải được Tòa
16 Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu nước ngoài tại Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thấm lần 1 năm 2019.
Trang 22án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch,nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đóthuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài.
Trước đây, đương sự ở nước ngoài quy định tại Điều 7 Nghị quyết
03/2012/NQ-HĐTP ngày 3.12.2012, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộluật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011
Với các quy định trên về vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, vụ
án về hôn nhân và gia đình nói riêng, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh, tác giảnhận thấy có một số bất cập, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, về xác định đương sự ở nước ngoài và thuộc thẩm quyền của Tòa
án cấp tỉnh
Hiện nay theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS, nếu các tranh chấp về HNGĐ mà cóđương sự ở nước ngoài thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Trước đây, Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP, quy định đương sự là người Việt
Nam ở nước ngoài là đương sự đang định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài cómặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự Quyđịnh này tuy có cụ thể nhưng chưa được chi tiết và thống nhất khi áp dụng pháp luật
Vì khái niệm đương sự là người Việt Nam đang định cư, làm ăn, học tập, công tác ởnước ngoài chưa xác định được về tính chất công việc, thời gian lưu trú một cách chitiết, cụ thể nên việc xác định thẩm quyền có sự lúng túng Chẳng hạn đương sự làngười Việt Nam sau thời gian làm ăn ở nước ngoài (sử dụng visa du lịch, thăm quan)17
về Việt Nam thì thẩm quyền thuộc Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh?
Ví dụ: Tháng 3-2009, TAND huyện B, tỉnh T ra quyết định công nhận sựthỏa thuận giữa anh VVT và chị VTP Theo đó, hai bên thống nhất thỏa thuận giaocho chị P được nuôi dưỡng cả hai con chung Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗitháng 550.000 đồng cho chị P nuôi con (nộp theo tháng) kể từ tháng 3-2009 cho đếnkhi hai con chung đủ 18 tuổi18
Sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Chi cục Thi hành án dân
sự huyện B đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của chị P Việc thi hành chỉmới được một tháng thì cơ quan thi hành án không thấy chị P đến yêu cầu thi hành
án tiếp Tháng 7-2009, Chi cục Thi hành án dân sự huyện B nhận được đơn của anh
17 Vỡ mộng vì bị lừa sang Hàn Quốc lao động bằng đường du lịch, mong- vi-bi-lua-sang-han-quoc-lao-dong-bang-duong-du-lich-3345412.html, cập nhật lúc 19h ngày 21.11.2021.
2.10.2021.
Trang 23T với nội dung: Sau khi nhận tiền cấp dưỡng nuôi con được một tháng thì chị B đã
bỏ hai con ở nhà với bà ngoại để đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài Vì vậy, anh đãđón hai con về trực tiếp nuôi dưỡng
Qua xác minh, cơ quan thi hành án xác định đúng là chị B đang đi lao độngtại Đài Loan Đại diện chính quyền địa phương cũng xác nhận việc anh T đang trựctiếp nuôi dưỡng hai con là có thật Đồng thời, chính quyền địa phương cũng có vănbản đề nghị cơ quan thi hành án xem xét đến việc anh T phải cấp dưỡng nuôi conchung theo quyết định của Tòa án Vì thực tế hiện nay chị P không trực tiếp nuôidưỡng nên không thể buộc anh T phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi con Chi cục Thihành án cho rằng anh T muốn không thi hành án nữa thì phải khởi kiện ra tòa để yêucầu thay đổi quyền nuôi con
Vậy trong trường hợp này, anh T sẽ phải nộp đơn khởi kiện đến TANDhuyện B hay TAND tỉnh T? Trong vụ án này, khả năng nếu anh T khởi kiện thì cóthể có sự tranh chấp về thẩm quyền giữa Tòa án huyện B, tỉnh T và Tòa án tỉnh T.Bởi, do không xác định được chính xác là chị P đi lao động tại Đài Loan thuộc diện
gì nên có sự tranh chấp về xác định thẩm quyền của Tòa án các cấp Trường hợp chị
B đi xuất khẩu lao động theo dạng hợp đồng dài hạn thì thuộc thẩm quyền của Tòa
án cấp tỉnh Nếu chị B đi xuất khẩu lao động theo diện visa du lịch, tham quan sẽthuộc thẩm quyền của Tòa án huyện B, tỉnh T
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, khoản 3 Điều 35 BLTTDS cần được hướng
dẫn như trước đây (nghị quyết) về phần “Những quy định chung” của Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015 Cụ thể:
Đương sự ở nước ngoài nói chung, đương sự trong các vụ án hôn nhân và giađình, nói riêng, bao gồm:
- Đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam, không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
- Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự Đương sự là người Việt Nam đang làm ăn ở nước ngoài là đương sự đang đầu tư dài hạn tại nước sở tại theo pháp luật đầu tư của Việt Nam và nước ngoài Đối với đương sự đang đi lao động, thực tập sinh ở nước ngoài thì thời hạn lao động, thực tập phải từ ba tháng trở lên theo hợp đồng ký kết giữa người lao động và người sử dụng lao động Đối với đương sự là người Việt Nam đang công tác ở nước ngoài thì thời hạn công tác theo yêu cầu của cơ quan cử đi công tác phải từ hai tháng trở lên Trương
Trang 24hợp đương sự là người Việt Nam đang công tác ở nước ngoài ngắn hạn thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
Thứ hai, về việc xác định các tranh chấp hôn nhân và gia đình cần phải ủythác tư pháp và thẩm quyền thực hiện việc ủy thác
Theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015 thì những tranh chấp về hôn nhân vàgia đình cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoàithuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Trước đây, theo Điều 7
Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3.12.2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao: Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành mộthoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thểthực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền củanước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viênhoặc theo nguyên tắc có đi có lại
Theo Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp 2007, phạm vi tương trợ tư pháp vềdân sự giữa Việt Nam và nước ngoài gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quanđến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thuthập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự19 Vậyvấn đề đặt ra là khi nào Tòa án cần phải ủy thác tư pháp khi giải quyết các tranhchấp về hôn nhân và gia đình?
Ở góc độ chung, việc ủy thác tư pháp khi giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, gồm:
Một là, khi Tòa án giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình cần phảitống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; triệu tập người làm chứng, người giám định; thuthập, cung cấp chứng cứ ở nước ngoài thì được hiểu là phải ủy thác tư pháp Theocách hiểu này, không cần biết thông tin thu thập từ hoạt động trên có cần thiết haykhông, phạm vi rộng hay hẹp, mức độ liên quan đến vụ việc nhiều hay ít, trực tiếphay gián tiếp đều thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh Điều này sẽ dẫn đến hậuquả là những tranh chấp hôn nhân và gia đình mà có liên quan đến hoạt động ủy
19 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19.10.2016, quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự và Công văn số 3378/BTP-PLQT ngày
10.9.2018 về việc ủy thác tư pháp về dân sự đi một số nước của Bộ Tư pháp.
Trang 25thác tư pháp (dù không cần thiết) thì thẩm quyền sẽ do Tòa án cấp tỉnh giải quyết.Như vậy, bản chất của ủy thác tư pháp sẽ không được hiểu đúng nghĩa và việc dồncác vụ việc dân sự cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết là không thỏa đáng Mục đích củaviệc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; triệu tập người làm chứng, người giám định;thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước ngoài là nhằm phục vụ cho việc giải quyết cáctranh chấp hôn nhân và gia đình một cách đúng luật, chính xác, đảm bảo quyền lợicho đương sự chứ không phải là gây khó khăn cho đương sự do xác định khôngđúng nhu cầu ủy thác tư pháp Hơn nữa, đối với một số vụ án dân sự nói chung, vụ
án hôn nhân và gia đình nói riêng, việc ủy thác không có kết quả20
Thực tiễn xét xử, có Tòa án xác định không đúng thẩm quyền theo cấp Tòa
án mà cụ thể là thẩm quyền giải quyết giữa Tòa cấp huyện và Tòa cấp tỉnh Lỗi này
do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định đầy đủ thông tin dẫn đến việc thụ lý sai vềthẩm quyền xét xử
Ví dụ: Bản án sơ thẩm HNGĐ số 28/2018/ HNGĐ - PT ngày 21/9/2018 củaTòa án nhân dân tỉnh Hải Dương21
Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn anh Đoàn Văn Vạn trútại: Hữu Chung, Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương và bị đơn chị Trần Thị Bích
trú tại: Hữu Chung, Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương Theo Bản án đã xét xử
hủy Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân huyệnNinh Giang do Viện KSND huyện Ninh Giang kháng nghị và đề nghị Tòa án nhândân tỉnh Hải Dương theo hướng áp dụng khoản 3 điều 308 BLTTDS Với lý do căn
cứ theo các tài liệu chứng cứ đã được Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án Tòa ánnhân dân huyện Ninh Giang vi phạm về thẩm quyền giải quyết vụ án cụ thể chịTrần Thị Bích hiện không có mặt ở địa phương, đang sinh sống và lao động tại ĐàiLoan từ năm 2005 đến nay Như vậy vụ án được xác định có yếu tố nước ngoài,thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Hải Dương Việc Tòa án nhân dânhuyện Ninh Giang thụ l giải quyết vụ án đã vi phạm về thẩm quyền giải quyết, quyđịnh tại điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi íchhợp pháp của đương sự
Theo bản án phúc thẩm thì việc ông Vạn không khai rõ tình tiết bà Bích đinước ngoài từ năm 2003 và bà Bích thay đổi tên đệm, năm sinh để làm chứng minh
20https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-thong-bao?dDocName=TAND048162, truy cấp lúc 20h ngày 22.9.2021.
21 Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 28/2018/HNGĐ-PT ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (Phụ lục 2).
Trang 26nhđn dđn đi nước ngoăi lă lỗi do ông Vạn không khai hết câc tình tiết của vụ ân mẵng phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa ân Mặt khâc, Tòa ân cấp sơ thẩm xâc minhtại Ủy ban nhđn dđn xê Tđn Phong, lấy lời khai của bă Nh (mẹ bă Bích) nhưng đềuđược cung cấp thông tin lă không biết bă Bích hiện đang ở đđu nín Tòa ân cấp sơthẩm tiến hănh niím yết câc văn bản tố tung vă xĩt xử vụ ân theo thủ tục quy định.
Trong vụ ân năy, ở cấp sơ thẩm nguyín đơn lă ông Vạn cố tình không cungcấp thông tin bă Bích đang sinh sống tại Đăi Loan cho Tòa ân biết, Tòa ân cấp sơthẩm cũng không xâc minh, thu thập đầy đủ tăi liệu chứng cứ dẫn đến Tòa ân đêgiải quyết sai thẩm quyền vă lăm kĩo dăi vụ ân hơn Theo tâc giả, vụ ân năy phảithuộc thẩm quyền của Tòa ân cấp tỉnh như VKS đê khâng nghị
Hai lă, chỉ phải ủy thâc tư phâp trong những trường hợp thật cần thiết, chủyếu lă phục vụ cho việc giải quyết vụ ân đúng phâp luật vă bảo vệ quyền của đương
sự Nghĩa lă, chỉ ủy thâc tư phâp mă việc ủy thâc tư phâp không thể không thực hiệnnhằm giải quyết câc tranh chấp hôn nhđn vă gia đình Tâc giả đồng tình với quanniệm năy
Ví dụ: Bản ân số 03/2018/HNPT ngăy 09/03/2018 của Tòa ân nhđn dđn tỉnh
Vĩnh Long về “ Tranh chấp ly hôn”22
Anh Đ vă chị P đều thừa nhận vợ chồng có 10 căn nhă trọ có giâ trị khoảng600.000.000 đồng Chị P trình băy chị có vay tiền của chị T 600.000.000đ để xđynhă trọ Anh Đ không thừa nhận Trong vụ ân năy, bă Lưu Mỹ T lă người có quyềnlợi vă nghĩa vụ liín quan vă có quốc tịch nước ngoăi (Hoa Kỳ), ngăy 23/4/2016 bă
T lăm giấy ủy quyền vă có đơn yíu cầu độc lập Ngăy 26/4/2016 được hợp phâp hóaTổng Lênh sự quân nước Cộng hòa xê hội chủ nghĩa Việt Nam tại San FranciscoHoa Kỳ Ngăy 19/5/2016 Tòa ân nhđn dđn thănh phố V nhận câc văn bản năy Ngăy07/6/2016 nộp tạm ứng ân phí Theo quy định tại Điều 37 vă Điều 464 Bộ luật Tốtụng dđn sự, vụ ân trín thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ân nhđn dđn tỉnh VĩnhLong nhưng Tòa ân nhđn dđn thănh phố V giải quyết lă vi phạm nghiím trọng thủtục tố tụng về thẩm quyền giải quyết Lẽ ra, phải hủy toăn bộ bản ân sơ thẩm nhưngđối với quan hệ hôn nhđn vă con chung không có khâng câo, khâng nghị vă câcđương sự đồng ý với quyết định của cấp sơ thẩm nín chỉ hủy một phần bản ân sơthẩm về tăi sản chung, nợ chung lă đủ Do hủy ân sơ thẩm nín không xem xĩt câcyíu cầu khâng câo của bă P vă bă Q
22 Bản ân Hôn nhđn vă gia đình phúc thẩm số 03/2018/HNPT ngăy 09/3/2018 của Tòa ân nhđn dđn tỉnh Vĩnh Long (Phụ lục 3).
Trang 27Về tính cần thiết của việc ủy thác tư pháp, trong Thông báo số211/TANDTC-HTQT ngày 21.9.2017 về công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhândân năm 2017 của Tòa án nhân tối cao gửi Bộ Tư pháp, nhận định: Khoản 3 Điều
68 của Luật tương trợ tư pháp 2008 quy định chỉ có Tòa án cấp tỉnh mới được ủythác tư pháp ra nước ngoài trong khi đó, Điều 35, Điều 471, điểm c khoản 1 Điều
37, Điều 474, Điều 475 và Điều 480 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thì ủy thác tưpháp ra nước ngoài là hoạt động tố tụng mà Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh vàTòa án cấp cao bắt buộc phải thực hiện khi giải quyết vụ việc dân sự có đương sự ởnước ngoài hoặc phải thu thập chứng cứ ở nước ngoài
Theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thì Tòa án cấphuyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ những vụviệc dân sự có đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc phải ủy thác
tư pháp ra nước ngoài, thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh Mặc dù vậy, đểhạn chế việc kéo dài thời hạn tố tụng do phải chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án cấptỉnh giải quyết nếu một trong các bên đương sự không còn cư trú tại Việt Nam, Điều
471 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cho phép Tòa án cấp huyện tiếp tục giải quyếtcác vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã thụ lý đúng thẩm quyền kể cả trườnghợp một trong các bên đương sự có sự thay đổi nơi cư trú (ra nước ngoài để cư trú,học tập, làm việc…) Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án cấp huyện bắt buộcphải yêu cầu ủy thác tư pháp để tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ởnước ngoài và thu thập chứng cứ ở nước ngoài để giải quyết vụ việc Trong khi đó,quy định tại khoản 3 Điều 68 của Luật tương trợ tư pháp 2008 lại giới hạn phạm
vi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là Tòa án cấp tỉnh;dẫn đến việc Tòa án cấp huyện phải thông qua Tòa án cấp tỉnh để thực hiện yêu cầunày Từ đó, quy trình thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa áncấp huyện phải qua các khâu trung gian không cần thiết; ảnh hưởng trực tiếp đếnthời hạn giải quyết vụ việc dân sự cũng như việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụngdân sự của đương sự ở trong nước và nước ngoài Trong khi đó, Việt Nam chỉ mớigia nhập Công ước tống đạt giấy tờ; chưa gia nhập Công ước thu thập chứng cứ.Tòa án nhân dân tối cao cũng kiến nghị nên cho phép Thừa phát lại, Luật sư thựchiện việc tống đạt giấy tờ; Luật sư được quyền thu thập chứng cứ (lấy lời khai củađương sự tại Việt Nam) theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoàinhằm giảm tải công việc cho Tòa án và không làm phát sinh các chi phí mà ngânsách nhà nước phải chi trả Hiện nay, Dự thảo Luật tương trợ tư pháp chỉ quy định
Trang 28cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là các cơ quan tiếnhành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát)23.
Về sự cần thiết của việc ủy thác tư pháp theo tác giả cần phải xác định cụ thể,chi tiết hơn so với quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 4
Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3.12.2012 trước đây Tính cần thiết của
uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là buộc phải tiếnhành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Namkhông thể thực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án, Cơ quan có thẩmquyền của nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại và kết quả của việc ủy thác tư pháp là
cơ sở để Tòa án giải quyết những tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài Đối với những những tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
mà chứng cứ đã đầy đủ, kết quả của ủy thác tư pháp không làm thay đổi nội dungtranh chấp, căn cứ để Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài thì không cần phải ủy thác tư pháp
Ví dụ: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát quyết địnhtạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự24
Ngày 20/6/2017, anh Trịnh Văn H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chịĐào Thị K (cùng địa chỉ: Số nhà 406 đường B, quận TH, thành phố H) Ngày26/6/2017, Toà án nhân dân quận TH, thành phố H thụ lý vụ án Ngày 25/12/2017,chị K có đơn xin tạm đình chỉ vụ án để đi công tác xa một thời gian Cùng ngày,Toà án nhân dân quận TH, thành phố H áp dụng điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS
để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình với lý do: Bị đơn
có đơn xin tạm đình chỉ
Trong vụ án này việc chị K yêu cầu Tòa án sơ thẩm tạm đình chỉ việc giảiquyết vụ án với lý do đi công tác xa một thời gian (đi nước ngoài) có khả năng vụ
án này sẽ liên quan đến việc ủy thác tư pháp về một số nội dung trong vụ án ly hôn
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, Nghị quyết hướng dẫn thi hành ề p ần “Những
quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (phần thẩm quyền của Tòa
án các cấp) nên hướng dẫn như sau:
23 Điều 5 Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp.
24 Lê Thị Hồng Hạnh (2018), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 09, tr.25 - 28.
Trang 29Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tòa án phải tiến hành tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho đương sự ở nước ngoài; phải triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ mà không có các chứng cứ
đó Tòa án không thể giải quyết vụ việc về dân sự nói chung, vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng Tính chất cần thiết được xác định là phải thực hiện hoạt động ủy thác tư pháp vì nội dung các hoạt động trên liên quan trực tiếp đến việc giải quyết
vụ việc về dân sự tại Tòa án.
Tác giả đồng ý với quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao là phải mở rộngchủ thể thực hiện tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự tại Điều 5 của Dự thảo LuậtTương trợ tư pháp Cụ thể là Văn phòng Thừa phát lại, Văn phòng Luật sư Có nhưvậy, mới có thể đẩy mạnh việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, tranh chấp
về hôn nhân và gia đình nói riêng tại TAND
Trang 30KẾT UẬN CHƯƠNG 1
Thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc và thẩm quyền của Tòa án các cấp đốivới các tranh chấp về hôn nhân và gia đình là căn cứ xác định nhiệm vụ, quyền hạncủa Tòa án nhân dân Thẩm quyền này xác định trách nhiệm của Tòa án và các cơquan chuyên môn khác trong hệ thống cơ quan Nhà nước
Về thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, thẩm quyền của Tòa án các cấp đốivới các tranh chấp về hôn nhân và gia đình BLTTDS 2015 đã có nhiều thay đổi sovới BLTTDS 2004 Như: Bổ sung về thẩm quyền đối với tranh chấp về sinh conbằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ về mục đích nhân đạo, thẩm quyền đốivới các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Những bổ sung trên thểhiện sự tiến bộ của pháp luật, phù hợp xu hướng phát triển chung của xã hội
Qua nghiên cứu về thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc và thẩm quyền củaTòa án các cấp đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, tác giả nhận thấy cónhững bất cập như:
Thứ nhất, căn cứ xác định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án đối với cáctranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con là chưa cụ thể, rõ ràng
Thứ hai, thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo Điều 101 LHNGĐ và khoản
4 Điều 28 BLTTDS, chưa phân định rõ trong LHNGĐ và BLTTDS
Thứ ba, khái niệm đương sự là người Việt Nam đang định cư, làm ăn, họctập, công tác ở nước ngoài chưa xác định được về tính chất công việc, thời gian lưutrú một cách chi tiết, cụ thể; tranh chấp hôn nhân và gia đình cần phải ủy thác tưpháp ra nước ngoài và thẩm quyền thực hiện việc ủy thác của Tòa án còn hạn chế,bất cập
Từ thực trạng nêu trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiệnĐiều 101 LHNGĐ; khoản 4 Điều 28 BLTTDS và khoản 2 Điều 102 LHNGĐ đểgiải quyết và Điều 88 LHNGĐ
Trang 31CHƯƠNG 2
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN THEO LÃNH THỔ, THEO SỰ LỰA CHỌN CỦA NGUYÊN ĐƠN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
2.1 T ẩm q ền của Tòa án theo lãnh ổ
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ là giới hạn do pháp luật quy định xácđịnh chức năng giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án theo đơn vị hành chính cụthể Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ được quy định dựa vào các yếu tố: Nơi
cư trú của đương sự, người yêu cầu; nơi có tài sản tranh chấp; theo thỏa thuận củacác chủ thể hoặc nơi xảy ra sự kiện pháp lý25 Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổxác định trách nhiệm của Tòa án trong việc thụ lý, giải quyết các tranh chấp về hônnhân và gia đình
Theo khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án có trách nhiệm thụ lý, giải quyết cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn
là cá nhân Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầuTòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân Đối tượngtranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
Theo Điều 40 BLDS, nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyênsinh sống Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân thì nơi cư trúcủa cá nhân là nơi người đó đang sinh sống
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Cư trú năm 2020, cư trú là việc công dân sinhsống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấphuyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã Theo Điều 11 Luật Cư trú, nơi cưtrú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú Trường hợp không xác địnhđược nơi thường trú, nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi ở hiện tại Theokhoản 1 Điều 19 Luật Cư trú, nơi cư trú của người không có cả nơi thường trú vànơi tạm trú do không đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú là nơi ở hiệntại của người đó; trường hợp không có địa điểm chỗ ở cụ thể thì nơi ở hiện tại đượcxác định là đơn vị hành chính cấp xã nơi người đó đang thực tế sinh sống Ngườikhông có nơi thường trú, nơi tạm trú phải khai báo thông tin về cư trú với cơ quanđăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại
Theo Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5.5.2017 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định về trả lại
25 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2018), tlđd (14), 162.
Trang 32đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án, địa chỉ nơi cư trú của người bịkiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là địa chỉ chỗ ở hợp pháp, thường trúhoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú.
Nếu người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bịkiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo quy định trên thì đượccoi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc mà người khởi kiện biết được gần nhất tínhđến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhậnhoặc có căn cứ khác chứng minh
Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉcủa người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải nhận đơnkhởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung Trường hợp sau khi thụ lý vụ án,Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc mà nguyên đơn cung cấp nếu người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc gắn vớiviệc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo chongười khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa
án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý
do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú,làm việc mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc mànguyên đơn không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xácminh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định củapháp luật Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Theo các quy định trên, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ đối với cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình, trước hết là thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú,làm việc trừ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 BLTTDS
Theo nội dung Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao thông qua ngày 23/02/2021 và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-
CA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Xét bà Tô Thị T2 chung sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu
Trang 33lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là đúng Xét sau khi bà T2 không còn sống chung với ông T1 thì năm 1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ.
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnhthổ đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, tác giả nhận thấy có một số bấtcập, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, về xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hôn nhân
và gia đình theo lãnh thổ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án có trách nhiệm thụ lý,giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làmviệc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giảiquyết nếu tranh chấp về bất động sản Tuy nhiên, trong một số tranh chấp về hônnhân và gia đình, một vụ án lại có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau về quan hệpháp luật và về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Đó là trường hợp một vụ án
mà việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ có thể là nơi cư trú của bịđơn hoặc nơi có bất động sản
Ví dụ: Tranh chấp hôn nhân và gia đình hay dân sự? Xác định thẩm quyềngiải quyết của Tòa án26
Ông A và bà B chung sống với nhau từ năm 1982 tại huyện T, tỉnh X đượchai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn; ông A và
bà B có hai con chung là C (sinh năm 1984) và D (sinh năm 1985) Năm 1997, ông
A bỏ nhà lên thành phố L, tỉnh X làm việc Bà B và các con vẫn sống tại huyện T
Năm 2000, ông A chung sống với bà E tại thành phố L, tỉnh X và nhập hộkhẩu về nhà bà E Bà B và các con không có ý kiến gì Ông A và bà E có 2 conchung là G (sinh năm 2000) và H (sinh tháng 1/2001)
Quá trình chung sống ông A, bà B tạo lập được khối tài sản chung là diện tích200m2 liền kề với diện tích đất 500m2 mà bà E có trước khi chung sống với ông Atại phường K thành phố L Cả hai diện tích đất này được cấp chung một Giấy chứng
26 vu-an-hon- nhan-thuc-te-va-tranh-chap-tai-san, truy cập lúc 15h ngày 17.11.2021.
Trang 34https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/xac-dinh-quan-he-phap-luat-va-tham-quyen-giai-quyet-nhận quyền sử dụng đất văo năm 2009 cho hộ gia đình bă E Năm 2015, ông A chết,không có di chúc.
Do cần tiền để lăm ăn, bă E rao bân nhă, đất nhưng vì Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất đứng tín hộ gia đình mă trong hộ khẩu gia đình có cả tín ông Anín bă E không thể bân được Vì vậy, bă E khởi kiện bă B vă câc con của bă B vẵng A lă C, D ra Tòa ân yíu cầu chia tăi sản chung của bă vă ông A
Trong vụ ân năy, theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngăy 09/6/2000 củaQuốc hội về việc thi hănh Luật Hôn nhđn vă gia đình thì quan hệ hôn nhđn giữa ông
A vă bă B lă quan hệ hôn nhđn thực tế được Nhă nước thừa nhận lă vợ chồng tạithời điểm chung sống Đối với việc chung sống của ông A vă bă E lă việc nam, nữchung sống mă không đăng ký kết hôn
Trong vụ ân trín, vấn đề đặt ra đđy lă tranh chấp hôn nhđn vă gia đình hay tranhchấp dđn sự vă thuộc thẩm quyền của Tòa ân năo? Quan điểm thứ nhất cho rằng việcchung sống của ông A vă bă E lă việc nam, nữ chung sống với nhau vă khi có tranhchấp xảy ra được giải quyết theo Điều 16 Luật HNGĐ 2014 Tranh chấp năy lă tranhchấp về hôn nhđn vă gia đình (chia tăi sản chung) nín thẩm quyền thuộc về Tòa ân nơi
bị đơn cư trú lă Tòa ân huyện H, tỉnh X Tuy nhiín, tại thời điểm bă E khởi kiện thì ông
A đê chết Quan điểm thứ hai cho rằng bă E vă ông A không phải lă vợ chồng nín đđy
lă tranh chấp về tăi sản mă đối tượng tranh chấp lă bất động sản (mảnh đất) nín thuộcthẩm quyền của Tòa ân nơi có bất động sản giải quyết lă Tòa ân thănh phố L, tỉnh X.Tuy nhiín, sở dĩ bă E khởi kiện bă B vă câc con của bă B vă ông A lă C, D ra Tòa ân lă
vì mảnh đất năy đứng tín hộ gia đình mă trong hộ khẩu gia đình có cả tín ông A văcũng lă sở hữu chung của ông A vă câc chủ thể trín
Quan điểm của tâc giả: Trong vụ ân trín, với câc tình tiết khâc nhau có sựđan xen nín việc xâc định quan hệ tranh chấp vă thẩm quyền có sự vướng mắc Nếu
vụ ân năy giải quyết theo Điều 16 LHNGĐ thì đđy lă tranh chấp về HNGĐ (khôngcông nhận quan hệ vợ chồng) Sở dĩ xâc định vă giải quyết theo Điều 16 LHNGĐ
vă Điều 28 BLTTDS lă căn cứ văo Điều 3 Thông tư liín tịch số TANDTC-VKSNDTC-BTP ngăy 6.1.2016 về hướng dẫn thi hănh một số quy địnhcủa Luật hôn nhđn vă gia đình Giải quyết theo hướng năy thì thẩm quyền thuộc vềTòa ân nơi bị đơn cư trú lă Tòa ân huyện H, tỉnh X (nơi bị đơn cư trú)
01/2016/TTLT-Nếu vụ ân năy giải quyết theo Điều 26 BLTTDS thì đđy lă tranh chấp về dđn
sự mă nội dung lă tranh chấp về quyền sử dụng đất (tăi sản) vă thuộc thẩm quyềncủa Tòa ân thănh phố L, tỉnh X (nơi có bất động sản) Sở dĩ vụ ân năy có thể giải
Trang 35quyết theo hướng này vì đây là tranh chấp về tài sản chung giữa ông A và cácđương sự còn lại xuất phát từ nguồn gốc đất và mối quan hệ giữa các chủ thể cũngnhư việc ông A chết phát sinh về thừa kế.
Theo Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao thông qua ngày 23/02/2021 và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA ngày12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì ông A chung sống với bà B từnăm 1982 tại huyện T, tỉnh X được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cướinhưng không đăng ký kết hôn nhưng năm 2000 thì mối quan hệ này đã chấm dứt.Điều đó khẳng định ông A và bà B đã chấm dứt quan hệ vợ chồng
Từ sự phân tích này, theo tác giả, đây là tranh chấp về tài sản chung thì hợp
lý hơn và thẩm quyền thuộc về Tòa án thành phố L, tỉnh X Lý do:
Một, mục đích của bà E trong vụ án này là cần tiền để làm ăn, nên phải bánnhà, đất nhưng muốn bán được thì phải giải quyết quyền sở hữu chung về quyền sửdụng đất giữa ông A, bà E và những người còn lại Nói cách khác, bà E không cónhu cầu giải quyết về quan hệ nhân thân, con chung giữa bà và ông A
Hai, nguồn gốc tạo lập tài sản cũng như mối quan hệ giữa ông A, bà B, bà E
có sự đan xen giữa quy định của luật HNGĐ, BLDS và Luật Đất đai Trong đó,quan hệ pháp luật chính phát sinh trong vụ án này là xác định quyền sử dụng đất củangười tạo lập và người thừa kế của ông A Do đó, trong vụ án này, nếu áp dụngĐiều 16 LHNGĐ không rõ bằng việc áp dụng khoản 2 Điều 26 BLTTDS
Đối với trường hợp này, tác giả đồng ý theo quan điểm của TS Đặng ThanhHoa và TS Nguyễn Hồ Bích Hằng về xác định thẩm quyền đối với tranh chấp bấtđộng sản27 Theo đó, nếu trong vụ án chỉ có tranh chấp về bất động sản thì phải doTòa án nơi có bất động sản giải quyết Trường hợp vợ chồng ly hôn mà có tranhchấp về bất động sản thì thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải xác định căn cứvào quan hệ pháp luật chính là ly hôn chứ không tách riêng tranh chấp bất động sản
27 Đặng Thanh Hoa và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2016), “Sửa đổi về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh
thổ quy định tại BLTTDS năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06(100), tr.41-45.
Trang 36nhưng khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đìnhvẫn gặp vướng mắc, bất cập và có sự không thống nhất trong việc xác định thẩmquyền của Toà án theo lãnh thổ Cụ thể là xác định nơi cư trú của bị đơn trong cáctranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Ví dụ: Thống nhất nhận thức về xác định nơi cư trú của cá nhân trong giảiquyết vụ án dân sự, hình sự28
Nguyễn Văn A sinh năm 1975, có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện Y Năm
2000, A kết hôn với chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1978 và sinh sống tại xã X, huyện Y.Đến năm 2010 do mâu thuẫn với chị B nên A đã chuyển đến xã C, huyện D sống chungnhư vợ chồng với chị Trần Thị H nhưng không đăng ký thường trú, tạm trú theo quyđịnh của pháp luật và không quay về xã X, huyện Y kể từ năm 2010
Ngày 15/8/2019, chị B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Y đềnghị giải quyết ly hôn với anh A Ngày 20/8/2019 trong quá trình gặp gỡ, bàn bạcthống nhất về ly hôn tại nhà chị B tại xã X, huyện Y, anh A đã có hành vi cố ý gâythương tích cho chị B bằng gậy sắt với tỷ lệ tổn thương tích cơ thể theo kết luậngiám định là 1% (một phần trăm) Quá trình xác minh tại xã X, huyện Y, Công an
xã xác nhận anh A có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện Y nhưng từ năm 2010 đãkhông sinh sống tại xã X; xác minh tại xã C, huyện D, Công an xã xác nhận Athường xuyên sinh sống tại xã C huyện D từ năm 2010 nhưng không đăng kýthường trú hoặc tạm trú Ngày 30/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Y khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A về hành vi Cố ý gây thương tích theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 134 BLHS
Với vụ án trên, thẩm quyền thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin ly hôn giữaanh A chị B thuộc Tòa án nhân dân huyện Y hay Tòa án nhân dân huyện D?
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thẩm quyền thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin
ly hôn của chị B thuộc Tòa án nhân dân huyện Y vì anh A có hộ khẩu thường trú tại
xã X, huyện Y theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Cư trú
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thẩm quyền thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin
ly hôn của chị B thuộc Tòa án nhân dân huyện D theo quy định tại Điều 40 Bộ luậtDân sự 2015 (nơi cá nhân đang sinh sống)
Điểm chưa rõ trong BLDS, BLTTDS và Luật Cư trú năm 2020 là chưa có sựhướng dẫn cụ thể về thứ tự xác định nơi cư trú của bị đơn trong các tranh chấp về hôn
28 http://vkstuyenquang.gov.vn/pHome/news/Nghien-cuu-Trao-doi-nghiep-vu/Thong-nhat-nhan-thuc-ve-xac-dinh -noi-cu-tru-cua-ca-nhan-trong-giai-quyet-cac-vu-an-dan-su-hinh-su-760/, truy cập lúc 22h ngày 18.9.2021.
Trang 37nhân và gia đình Chẳng hạn, Điều 11 Luật Cư trú chỉ quy định: Nơi cư trú của côngdân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú Vậy nếu đương sự cùng lúc có nơi thườngtrú, nơi tạm trú thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi thường trú, nơi tạm trú? Trườnghợp đương sự cùng lúc có nơi thường trú, nơi tạm trú nhưng đương sự lại sinh sống
ở nơi khác thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi đang sinh sống hay nơi thường trú?Trường hợp đương sự có nơi thường trú nhưng đương sự lại sinh sống ở nhiều nơikhác nhau và mỗi nơi trong thời gian ngắn (ở trọ) thì thẩm quyền thuộc về Tòa ánnơi nào? Điều 14 Luật Cư trú quy định: Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồngthường xuyên chung sống Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau theo thỏa thuậnhoặc theo quy định của pháp luật có liên quan Trong trường hợp này, nơi cư trútheo quy định của pháp luật có liên quan là nơi nào? Hiện nay văn bản hướng dẫnLuật Cư trú năm 2020 chưa có nên đây là khó khăn cho Tòa án trong việc xác địnhthẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp về hôn nhân và giađình Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5.5.2017 của Hội đồngThẩm phán TATC về hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyềnnộp đơn khởi kiện lại vụ án tuy có quy định rõ hơn nhưng chưa chi tiết, cụ thể
Đối với vụ án ly hôn của chị B nêu trên, theo tác giả, thẩm quyền phải thuộc
về Tòa án nhân dân huyện D mới chính xác và đúng theo Nghị quyết HĐTP ngày 5.5.2017 Việc Toà án vẫn căn cứ vào yếu tố quản lý hành chính là nơiđăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú của bị đơn để xác định thẩm quyền giải quyết
04/2017/NQ-vụ án hôn nhân và gia đình là chưa hợp lý và không bảo đảm quyền lợi cho cácđương sự trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Một khía cạnh khác của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đìnhchỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan trong hôn nhân và gia đình là việc bị đơn đang bị truy nã
Ví dụ: Có thụ lý giải quyết ly hôn với người đang bị truy nã không29?
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai Biên bản lấy lời khai của chị A thì chị A
và anh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luậtvào năm 2007 Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thìxảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm Tháng năm 2010, anh B viphạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân quận C xử phạt 36 tháng tù Từ ngày
29 quyet-ly-hon -voi-nguoi-dang-bi-truy-na-khong-.aspx, truy cập lúc 22h ngày 20.10.2021.
Trang 38http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/vks/132/3105/4272/16165/Kiem-sat-vien-viet/Co-thu-ly-giai-18/5/2010, anh B đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị truy nã theo Quyết định truy nã
số 30/QĐTN ngày 08/7/2010 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D Naytình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, chị A làm đơn xin Tòa
án xử cho chị và anh B được ly hôn Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sảnchung, chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ án hôn nhân gia đình Tuy nhiên, đối với vụ ánnày có nhiều quan điểm về việc thụ lý giải quyết vụ án của Tòa án
Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án theo quyđịnh tại điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS (Các trường hợp khác theo quy định củapháp luật) Quan điểm này dựa vào việc nguyên đơn không cung cấp được địa chỉmới của bị đơn, Tòa án đã xác minh nhưng không xác định được và áp dụng điểm hkhoản 1 Điều 217 BLTTDS, điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP
để ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án vẫn tiến hành thụ lý và giải quyết vụ ántheo thủ tục chung Quan điểm này dựa vào đơn khởi kiện của chị A đúng với quyđịnh tại Điều 189 BLTTDS và việc anh B bỏ trốn, không thông báo cho chị A vềnơi cư trú là hành vi cố ý giấu địa chỉ nên phải giải quyết theo thủ tục chung Khigiải quyết, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng
Theo tác giả, trong vụ án này, Tòa án phải thụ lý giải quyết mà không đìnhchỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ
và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện Việc anh B bỏ trốn là bất hợppháp, cố ý giấu địa chỉ nên Tòa án phải thụ lý giải quyết ly hôn cho chị A là đảmbảo quyền lợi cho nguyên đơn Thực tiễn xét xử Tòa án các cấp cũng có quan điểmkhác nhau về việc nguyên đơn ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc củangười bị kiện30
Tuy nhiên, một số trường hợp bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú nhưng khôngthuộc trường hợp giấu địa chỉ thì Tòa án vẫn còn lúng túng trong việc xác định thẩmquyền của Tòa án theo lãnh thổ Đó là những trường hợp bị đơn vắng mặt tại địaphương trước thời điểm nguyên đơn là vợ hoặc chồng khởi kiện yêu cầu ly hôn.Đây là trường hợp bị đơn không có mặt địa phương, không có địa chỉ cư trú mới vàthời gian đi khỏi địa phương là trước ngày nguyên đơn khởi kiện nhưng chưa đủthời gian tuyên bố công dân mất tích
22.10.2021.
Trang 39Ví dụ: Bàn về giải quyết án hôn nhân và gia đình khi bị đơn vắng mặt tại nơi
cư trú31
Bản án số 11/HNGĐ-ST ngày 20/4/2017 xét xử vắng mặt bà TTHT, Quyếtđịnh cho ông VT được ly hôn với bà TTHT Theo xác minh của Tòa án thì bà TTHTcòn hộ khẩu tại địa phương nhưng bỏ địa phương đi đầu năm 2016, ngày19/12/2016 Tòa án thụ lý vụ án, Thẩm phán đã tiến hành niêm yết các văn bản tốtụng nơi bà TTHT cư trú nhưng bà TTHT không tham gia tố tụng Sau khi Bản án
có hiệu lực bà TTHT có đến phản ánh tại Viện kiểm sát do có mâu thuẫn với ông
VT nên bỏ đi làm ăn ở TP Hồ Chí Minh và có liên lạc thường xuyên với ông VT,nhưng ông VT không thông báo về việc xin ly hôn cho bà nên bà không biết việcTòa án thụ lý vụ án ly hôn giữa bà và ông VT nên không tham gia Tương tự, một
số trường hợp khác, bị đơn đến Tòa án trích lục bản án do không biết việc ly hôn vìkhông có mặt tại địa phương
Một ví dụ khác theo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
43/2019/HNGĐ-ST ngày 14/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang32, vụ ánnày Tòa án xét xử vắng mặt chị Võ Thị Vũ Liên, quyết định cho anh Bùi Ngọc Tuấnđược ly hôn với chị Võ Thị Vũ Liên Theo xác minh thì chị Võ Thị Vũ Liên đã bỏ địaphương đi từ năm 2016 và dắt theo đứa con chung tên Bùi Vũ Liên Phương, hiệnkhông biết chị Liên và cháu Phương đang ở đâu, Thẩm phán đã tiến hành niêm yết cácvăn bản tố tụng nơi chị Liên và cháu Phương cư trú cuối cùng, Tòa án quyết định tuyên
bố chị Liên, cháu Phương mất tích, căn cứ vào quyết định này Tòa án đã cho anh Tuấnđược ly hôn với chị Liên Theo quan điểm của tác giả thì vụ án này thuộc thẩm quyềncủa Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết là phù hợp vì nơi cư trú cuối cùngcủa chị Liên, cháu Phương là huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang căn cứ theo Điều 11,
19 Luật cư trú, do chị Liên đang sống ở đâu thì anh Tuấn không biết nên không xácđịnh được nơi chị Liên đang thườn xuyên sinh sống
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ tạiĐiều 39 BLTTDS đối với trường hợp xác định nơi bị đơn cư trú, làm việc cần đượchướng dẫn như sau:
Nơi cư trú của công dân là nơi công dân có đăng ký thường trú Nếu công dân có đăng ký thường trú đồng thời có đăng ký tạm trú thì nơi cư trú của công dân
31 http://vienkiemsatbrvt.gov.vn/portal/p/2001, truy cập lúc 20h ngày 12.9.2021.
32 Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 43/2019/HNGĐ-ST ngày 14/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (phụ lục 4)
Trang 40là nơi công dân đang thường xuyên sinh sống (thường trú hoặc tạm trú) Trường hợp công dân có đăng ký thường trú đồng thời có đăng ký tạm trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú mà thường xuyên sinh sống tại địa chỉ khác thì nơi cư trú của công dân là nơi đang thường xuyên sinh sống Nếu công dân có đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại nơi đăng ký thường trú, tạm trú mà thường xuyên sinh sống tại nhiều địa chỉ khác nhau thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi có một trong các nơi người bị kiện thường xuyên sinh sống.
Khi Tòa án không xác định được nơi cư trú của công dân như trên thì giảiquyết theo điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5.5.2017của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định vềtrả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
2.2 T ẩm q ền của Tòa án theo s l a c ọn của nguyên đơn
Theo điểm a, điểm c khoản 1 Điều 40 BLTTDS, nguyên đơn có quyền lựachọn Tòa án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong các trường hợp:Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầuTòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sảngiải quyết và vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết
Theo Điều 40 BLDS, nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyênsinh sống Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân thì đó là nơingười đó đang sinh sống Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cưtrú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi
cư trú mới Theo Điều 43 BLDS, nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thườngxuyên chung sống Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thoả thuận
Theo Điều 11 và Điều 14 Luật Cư trú năm 2020, nơi cư trú của công dân baogồm nơi thường trú, nơi tạm trú Trường hợp không xác định được nơi thường trú,nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi ở hiện tại Nơi cư trú của vợ, chồng lànơi vợ, chồng thường xuyên chung sống Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhautheo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan
Theo khoản 2 Điều 19 LHNGĐ, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, côngtác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chínhđáng khác