SỰ CẦN THIẾT TRIỆU TẬP ĐIỀU TRA VIÊN ĐẾN PHIÊN TOÀ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Vấn đề nhận thức và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa
1.1.1 Mục đích, ý nghĩa của quy định về triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa
Quy định pháp uật tố tụng hình sự về sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa nhằm hướng đến các mục đích sau:
Luật tố tụng hình sự năm 2015 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là quy định về sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa Quy định này tác động sâu sắc đến hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của tố tụng hình sự, trong đó nổi bật là nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, một nguyên tắc mới được luật hóa.
- hứ hai, tháo gỡ, kh c phục khó khăn, v ng m c mà thực ti n tố tụng hình sự đang đặt ra.
Khó khăn trong việc thi hành pháp luật tố tụng hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thể hiện rõ ở việc các bị cáo thường khai rằng họ bị bức cung hoặc ép cung trong quá trình điều tra Điều này dẫn đến việc họ cho rằng các chứng cứ buộc tội không chính xác Khi bị cáo chỉ có lời khai mà không có tài liệu khác để chứng minh, và do Điều tra viên không có mặt tại phiên tòa để đối chất, Tòa án thường phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, kéo dài thời gian tố tụng và ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa, giúp Hội đồng xét xử có thể tạm dừng phiên tòa để triệu tập Điều tra viên làm rõ nội dung vụ án.
-Thứ ba, bảo đảm phán quyết của Tòa án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Yêu cầu và nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là đảm bảo phát hiện và xử lý công minh các hành vi phạm tội, ngăn chặn tội phạm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án cần phân tích tính hợp pháp của các hành vi và quyết định của Điều tra viên trước khi đưa ra bản án Do đó, việc triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan là rất cần thiết.
Tòa án nhân dân đóng vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước và quy trình tố tụng hình sự, đảm bảo thực hiện quyền tư pháp và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp Việc triệu tập Điều tra viên và các cơ quan có thẩm quyền khác đến phiên tòa thể hiện vai trò trọng tài của Tòa án, duy trì sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng hình sự.
Việc triệu tập Điều tra viên và người có thẩm quyền trong quá trình tố tụng đến phiên tòa là rất quan trọng, giúp làm rõ các chứng cứ và vấn đề liên quan đến vụ án Điều này không chỉ tăng tính thuyết phục của các chứng cứ mà còn hỗ trợ Hội đồng xét xử trong việc đánh giá toàn diện và nhận định đúng bản chất vụ án Nhờ đó, phán quyết của tòa án sẽ phù hợp với sự thật khách quan và tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Để thực hiện chức năng bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người cũng như quyền công dân, Tòa án cần tuân thủ các quy định của Hiến pháp năm 2013.
1.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa Điều 296 ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “ rong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, ng i có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và nh ng ng i khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ n”. Điều 317 ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi xét thấy cần thiết,
Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người có thẩm quyền khác, cũng như các cá nhân tham gia tố tụng, trình bày ý kiến nhằm làm rõ các quyết định và hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Luật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định rõ ràng về khái niệm “khi xét thấy cần thiết”, và từ khi ban hành đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Điều 296 Cụ thể, việc xác định khi nào cần triệu tập điều tra viên hoặc người có thẩm quyền trong quá trình xét xử vẫn chưa được làm rõ Điều này dẫn đến khó khăn cho Tòa án trong việc xử lý vụ án và có thể gây ra sự không nhất quán giữa các Tòa án khác nhau trong việc giải quyết yêu cầu của luật sư và những người tham gia tố tụng khác liên quan đến việc triệu tập điều tra viên.
Việc thiếu quy định rõ ràng về khái niệm “khi xét thấy cần thiết” dễ dẫn đến sự chủ quan trong đánh giá của Tòa án Cùng một vụ việc, có Tòa án chấp nhận yêu cầu triệu tập Điều tra viên, trong khi Tòa án khác lại từ chối Điều này không chỉ gây khó khăn cho các luật sư và những người tham gia tố tụng khi đưa ra yêu cầu, mà còn có thể dẫn đến việc triệu tập không cần thiết, không đúng quy định, nhưng vẫn được cho là cần thiết bởi các bên liên quan.
Theo quy định của Điều luật này, Hội đồng xét xử có quyền triệu tập Điều tra viên đã thụ lý vụ án khi cần thiết Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu Thẩm phán cần ý kiến từ Điều tra viên, họ phải đợi đến phiên tòa để thảo luận trong Hội đồng xét xử trước khi triệu tập Điều này gây ra bất cập, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, trái với mục tiêu của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy định của pháp luật về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên toà
1.2.1 hực ti n thực hiện quy định của luật tố tụng hình sự về c c tr ng h p triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa
Kể từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực, việc theo dõi các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã cho thấy nhiều vụ án đáng chú ý.
Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa và thường xảy ra trong các trường hợp sau:
Bộ luật tố tụng hình sự có nhiệm vụ đảm bảo phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội Nó nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Đồng thời, bộ luật cũng góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, nó còn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật và đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm.
Bị cáo đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo về việc trong quá trình điều tra, Điều tra viên đã sử dụng các biện pháp bức cung, mớm cung và nhục hình Bức cung là hành vi trái pháp luật nhằm ép buộc người bị hỏi cung phải khai báo thông tin liên quan đến vụ án, theo quy định tại Điều 374 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Các thủ đoạn trái pháp luật này có thể bao gồm việc đe dọa gây thiệt hại về vật chất, thể chất hoặc tinh thần cho người bị hỏi cung, như việc đe dọa sử dụng nhục hình hoặc bắt giam.
Mớm cung là hành vi mà Điều tra viên sử dụng câu hỏi hoặc gợi ý để hướng dẫn người được hỏi, như bị can hoặc những người tham gia tố tụng khác, trả lời theo ý muốn của mình, dẫn đến việc lời khai không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án Hình thức mớm cung rất đa dạng, bao gồm việc cho người bị hỏi xem vật chứng hoặc tài liệu chưa được xác định rõ ràng để họ trả lời theo gợi ý của Điều tra viên.
Ngày 06/10/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã mở phiên xử sơ thẩm vụ án của Ngô Minh Hiến, sinh năm 1976 tại Thái Bình, bị truy tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh Hiến đã tố cáo rằng điều tra viên đã ép cung và mớm cung trong thời gian cô mang thai và nằm viện Cụ thể, điều tra viên đã đọc nội dung và yêu cầu bị cáo viết bản tự khai theo ý mình, điều này trở thành chứng cứ duy nhất để xác định hành vi gian dối của bị can Do đó, Hội đồng xét xử đã triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ vụ việc.
Nhục hình là hành vi đánh đập và tra tấn, gây đau đớn về thể xác, có thể do điều tra viên thực hiện trực tiếp hoặc thông qua người khác, như bị can hoặc bị cáo cùng giam Theo Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhục hình còn bao gồm các hành vi đối xử tàn bạo và hạ nhục nhân phẩm của người khác, chẳng hạn như không cho ăn uống hoặc bắt họ ở tư thế khó chịu.
Qua các vụ án oan gần đây, một điểm chung rõ ràng là sự tồn tại của các vi phạm tố tụng nghiêm trọng Kết luận của các vụ án thường bị ảnh hưởng bởi sự áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, đồng thời có dấu hiệu của việc mớm cung, bức cung và nhục hình.
Tòa án thường triệu tập điều tra viên khi có yêu cầu từ bị cáo hoặc luật sư về việc điều tra viên bức cung, nhục hình Một số vụ án nổi bật như Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, và Ngô Thanh Kiều đã cho thấy sự cần thiết phải làm rõ quá trình điều tra Nếu yêu cầu được đưa ra trước phiên tòa, điều tra viên sẽ được triệu tập; nếu yêu cầu được đưa ra trong phiên tòa, phiên tòa sẽ bị hoãn để triệu tập điều tra viên.
Trong các tình huống pháp lý, việc triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ những cáo buộc của bị cáo về việc bị bức cung, mớm cung và nhục hình trong quá trình điều tra là trường hợp phổ biến nhất.
Trong quá trình điều tra, các tài liệu thu thập được đã bị tẩy xóa và chỉnh sửa mà không có sự xác nhận từ những người tham gia tố tụng, điều này gây ra dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, biên bản hoạt động tố tụng phải được lập theo mẫu thống nhất và có chữ ký của các cá nhân theo quy định Mọi sửa chữa, bổ sung hoặc tẩy xóa trong biên bản cần được xác nhận bằng chữ ký của những người liên quan Trong trường hợp vụ án được đưa ra xét xử, nếu Tòa án nhận được đơn tố cáo về việc Điều tra viên chậm giao nộp hoặc bổ sung tài liệu chứng cứ, điều này có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Trong trường hợp hồ sơ vụ án có tài liệu bị sửa chữa hoặc có dấu hiệu làm sai lệch, Viện kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ Ví dụ, trong vụ án của bị cáo Nguyễn Văn Sơn, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã triệu tập Điều tra viên khi phát hiện biên bản khám nghiệm hiện trường bị tẩy xóa mà không có xác nhận của người tham gia tố tụng Tương tự, trong vụ án gây thương tích xảy ra ngày 10/3/2018 tại phường Long Hưng, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, việc triệu tập Điều tra viên cũng nhằm làm rõ các thông tin trong hồ sơ vụ án.
5 Tất Dũng, “Làm thế n o để hạn chế án oan sai?”, https://www.bienphong.com.vn/lam-the-nao-de-han- che-an-oan-sai-post155972.html Truy cập ng y 20/8/2021.
Hồ sơ bị tẩy xóa đã gây ra nhiều lo ngại trong quá trình điều tra, và Tòa án cần triệu tập Điều tra viên để làm rõ tình hình Việc triệu tập này sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến hồ sơ và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình pháp lý **Nguồn**Tuyến Phan, “Hồ sơ bị tẩy xóa, Tòa cần triệu tập Điều tra viên”, http://plo.vn/phap-luat/ho-so-bi-tay-xoa-toa-can-trieu-tap-dieu-tra-vien-740107.html Truy cập ngày 27/01/2021.
Bị cáo Nguyễn Văn Hận đã tố cáo Điều tra viên vì cho rằng hồ sơ vụ án của chồng mình bị sai lệch do chậm giao nộp và thiếu dữ liệu điện tử Ngày 28/11/2019, Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã xét xử sơ thẩm lần thứ ba và triệu tập Điều tra viên để làm rõ các cáo buộc này.
- r ng h p 3: Bị cáo cho rằng tình tiết nêu trong Kết luận điều tra là không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Trong quá trình điều tra, bị cáo khẳng định đã khai báo đúng sự thật, nhưng kết luận điều tra lại cho rằng bị cáo quanh co chối tội và không thành khẩn, do đó không được hưởng tình tiết giảm nhẹ Vụ án nổi bật là của Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội làm trái quy định của Nhà nước và tham ô tài sản vào ngày 10/01/2018 Theo đề nghị của luật sư, Hội đồng xét xử đã triệu tập Điều tra viên để làm rõ lý do tại sao bị cáo Trịnh Xuân Thanh bị xác định là không thành khẩn trong quá trình điều tra, đã bỏ trốn sau khi phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra và đề nghị áp dụng hình phạt nghiêm khắc.
Kiến nghị đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên toà
về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên toà
1.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định cụ thể các tr ng h p đ c xem là cần thiết để triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa Để nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp uật tố tụng h nh sự về sự cần thiết có mặt Điều tra viên tại phiên t a Trên cơ sở theo dõi thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trong thời gian qua cho thấy một số trường hợp sau đây được xem là cần thiết triệu tập Điều tra viên, người tiến hành tố tụng đã thụ lý điều tra vụ án đến phiên toà để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án, cụ thể như sau:
1) Trong hồ sơ vụ án có nh ng nội dung không thống nhất trong việc đ nh giá tài liệu, chứng cứ gi a Điều tra viên và Kiểm sát viên.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát các hoạt động điều tra từ khi tiếp nhận vụ án cho đến khi kết thúc điều tra Trước khi kết thúc điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên cần phối hợp để đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và thủ tục tố tụng Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng hoặc phức tạp, nếu không thống nhất được quan điểm, Điều tra viên sẽ báo cáo Thủ trưởng cơ quan điều tra và Viện trưởng Viện kiểm sát để tổ chức họp nhằm đánh giá kết quả điều tra, giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, đảm bảo việc kết thúc điều tra đúng quy định của pháp luật.
Nhiều vụ án hình sự hiện nay gặp phải tình trạng không thống nhất trong việc đánh giá tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên, cũng như giữa Viện kiểm sát và cơ quan điều tra Để làm rõ những vấn đề này, Hội đồng xét xử cần triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa.
2) Khi cần làm rõ nh ng vấn đề trong yêu cầu điều tra, yêu cầu điều tra bổ sung của Kiểm sát viên mà Điều tra viên thực hiện không đúng yêu cầu hoặc không thực hiện, thấy cần phải triệu tập Điều tra viên đến phiên toà để làm rõ. Điều tra viên được phân công điều tra vụ án hình sự phải thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, tuy nhiên có trường hợp Kiểm sát viên ra văn bản yêu cầu điều tra mà có nội dung Điều tra viên không nhất trí, không thực hiện Trường hợp ơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát thì ơ quan điều tra phải nêu rõ lý do trong bản kết uận điều tra.
Hội đồng xét xử cần triệu tập Điều tra viên hoặc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra đến phiên tòa để làm rõ lý do không thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xét xử.
3) Trong giai đo n chuẩn bị xét xử vụ án, bị cáo có đơn khiếu n i, tố cáo, phản ánh trong quá trình điều tra vụ án, mà nh ng nội dung khiếu n i, tố cáo, phản ánh này ch a đ c cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo luật định.
Trong trường hợp có khiếu nại hoặc tố cáo đối với điều tra viên về các hành vi như bức cung, ép cung, dụ cung, dùng nhục hình, hoặc việc bắt bị can ký khống các biên bản, nếu những nội dung này chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc chưa làm rõ trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử cần triệu tập điều tra viên để làm rõ Tuy nhiên, nếu khiếu nại đã được thụ lý và giải quyết đúng pháp luật, thì không cần triệu tập điều tra viên.
4) Trong th i h n chuẩn bị xét xử, có căn cứ xác định Điều tra viên, Cơ quan điều tra không cung cấp đầy đủ, kịp th i chứng cứ, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật.
Khi chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phát hiện một số tài liệu và chứng cứ chưa được Điều tra viên cung cấp đầy đủ, gây khó khăn cho Kiểm sát viên trong việc nắm bắt nội dung vụ án và đề ra yêu cầu điều tra kịp thời Cụ thể, Điều tra viên không chuyển các biên bản hoạt động tố tụng theo quy định tại khoản 5, Điều 88, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cho Kiểm sát viên Do đó, người tiến hành tố tụng đã đề nghị triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ vấn đề này.
5) Trong quá trình chuẩn bị xét xử hoặc xét xử, nh ng ng i tham gia tố tụng khác cho rằng quá trình điều tra, Điều tra viên không đảm bảo quyền của họ khi tham gia tố tụng.
Trong quá trình tố tụng, những người tham gia như nhân chứng và người có quyền lợi liên quan cho rằng Điều tra viên chưa đảm bảo quyền lợi của họ, bao gồm việc từ chối yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và không thông báo về quyền và nghĩa vụ khi được triệu tập Họ cũng không nhận được thông tin về kết quả điều tra vụ án Do đó, họ đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ những vấn đề này.
6) Trong quá trình chuẩn bị xét xử hoặc xét xử, cần làm rõ nh ng đề nghị, yêu cầu của nh ng ng i tham gia tố tụng nh ng Cơ quan điều tra quyết và ảnh h ởng đến quyền, l i ích h p pháp của họ. không giải
Theo quy định của pháp luật, các đề nghị và yêu cầu như giám định tài sản của bị can, bị cáo, kiểm tra tài liệu chứng cứ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại, và tiến hành các hoạt động tố tụng cần được xem xét Nếu những yêu cầu này phù hợp, Hội đồng xét xử sẽ triệu tập Điều tra viên để làm rõ các vấn đề liên quan.
7) Trong th i h n chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có một trong các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nh ng hẩm phán đ c phân công chủ tọa phiên tòa đã có biện pháp kh c phục hoặc có thể bổ sung đ c t i phiên tòa mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, như: Có vi phạm thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, ợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng… Vì vậy cần triệu tập Điều tra viên đến tòa để làm rõ, tránh trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung làm cho quá trình giải quyết vụ án chậm, kéo dài.
8) Trong giai đo n xét xử đối v i vụ án, Hội đồng xét xử có nghi ng về tính khách quan của các tài liệu, chứng cứ chứng minh do Điều tra viên đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc xác định tƣ cách pháp lý của Điều tra viên khi tham gia tố tụng tại phiên toà và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
2.2.1 hực ti n áp dụng pháp luật xác định t cách tố tụng của Điều tra viên t i phiên tòa
Việc xác định tư cách tố tụng của Điều tra viên tại phiên tòa là rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động xét xử của Tòa án Nếu tư cách tố tụng được xác định sai, quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa sẽ không chính xác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ.
Kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của Điều tra viên tại các phiên tòa đã diễn ra không đồng nhất giữa các Tòa án Nghiên cứu tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội năm 2018 cho thấy trong 12 vụ án có triệu tập Điều tra viên, có 6 bản án công nhận tư cách của họ là Điều tra viên, 3 bản án xác định họ là người tham gia tố tụng khác, 2 bản án coi họ là những người khác được triệu tập, và 1 bản án khẳng định họ là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Tư cách pháp lý của Điều tra viên khi tham gia phiên tòa chủ yếu được xác định theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vụ án Nguyễn Hữu Kiển đã được Tòa án nhân dân ấp Cao, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm với cáo buộc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản.
Bài viết "Sự tham gia của Điều tra viên trong Công an nhân dân t i phiên tòa từ góc độ thực ti n" của Tiến sỹ Phí Thành Chung, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, trình bày những khía cạnh quan trọng về vai trò của Điều tra viên trong phiên tòa Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Điều tra viên, được in trong tập “T i iệu tập huấn lớp bồi dưỡng kỹ năng tham gia phiên tòa của Điều tra viên trong Công an nhân dân-2020”.
Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Hữu Kiển, luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre, đã được ủy quyền bởi bà Trương Thị Thu Thủy và các bên liên quan để thi hành bản án dân sự liên quan đến tranh chấp quyền sở hữu nhà Tuy nhiên, bị cáo Kiển đã thực hiện hành vi gian dối, chiếm đoạt số tiền của bà Thủy.
950 triệu đồng Ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân ấp cao thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Hữu Kiển 12 năm tù.
Trước khi vụ án được xét xử, bị cáo đã gửi đơn kêu oan, cho rằng quy trình điều tra và xét xử sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng, không cho phép bị cáo tiếp cận hồ sơ vụ án, đồng thời chỉ ra rằng hồ sơ có nhiều mâu thuẫn và nhiều lời khai của người liên quan chưa được đối chất làm rõ Do đó, Hội đồng xét xử đã triệu tập hai điều tra viên tham gia phiên tòa với tư cách người tham gia tố tụng khác, theo quy định của pháp luật về các đối tượng như bị hại, đương sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Theo tác giả, việc Tòa án xác định Điều tra viên là người tham gia tố tụng khác chưa rõ ràng và không phù hợp Điều này do chưa cá thể hóa vai trò của Điều tra viên tại phiên tòa, liệu họ là người chứng kiến, người làm chứng, hay có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Do đó, quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa không được xác định rõ ràng, dẫn đến sự thiếu sót trong việc đảm bảo quyền lợi của từng chủ thể tham gia tố tụng.
Vụ án được Tòa án nhân dân ấp Cao, thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử phúc thẩm đã có sai sót khi triệu tập người có thẩm quyền tố tụng, bao gồm Điều tra viên, không đúng quy định của pháp luật Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có quyền triệu tập người tiến hành tố tụng Việc viện dẫn Điều 317 để biện minh cho quyền triệu tập này là không hợp lý, vì điều này chỉ có giá trị khi Điều 296 đã xác nhận quyền triệu tập của Hội đồng xét xử sơ thẩm đối với Điều tra viên và các cá nhân khác.
Bản án số 750/2020/HS-PT ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân Cấp cao thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử đã tạo điều kiện cho các bên tham gia tố tụng khác được quyền xét hỏi.
Vụ án Bác sĩ Hoàng Công Lương đã được Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm vào ngày 12-19/6/2019, trong đó bác sĩ này bị tuyên phạt 30 tháng tù giam với tội danh Vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 2, điều 98 Bộ Luật Hình sự.
1999 nay là Điều 128 ộ uật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vào ngày 29/5/2017, tại Khoa Thận nhân tạo của Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình, một sự cố nghiêm trọng đã xảy ra khiến 08 bệnh nhân tử vong và 10 người khác nguy hiểm đến tính mạng trong quá trình lọc máu chu kỳ Qua điều tra, Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an đã phát hiện tồn dư hóa chất khử khuẩn trong hệ thống nước RO, với các mẫu nước cấp vào máy lọc thận số 10 và 13 cho thấy pH rất thấp, độ dẫn điện cao, và hàm lượng Fluoride vượt mức cho phép gấp 245 và 260 lần Mức Fluoride cao này chính là nguyên nhân dẫn đến thảm họa Ngày 22/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ban hành Cáo trạng truy tố liên quan đến vụ án.
Bác sĩ Hoàng Công Lương, cùng với hai bị can khác, đã bị truy tố về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999 Tuy nhiên, sau đó, tội danh đã được thay đổi thành Vô ý làm chết người theo Khoản 2 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào ngày 18/5/2018, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã cho phép luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Công Lương thực hiện việc xét hỏi Điều tra viên có mặt tại phiên tòa Điều này nhằm làm rõ quy trình triển khai hồ sơ và thủ tục khai báo liên quan đến bị cáo Hoàng Công Lương cùng các nhân chứng trong quá trình điều tra.
Việc Hội đồng xét xử cho phép luật sư bào chữa cho bị cáo xét hỏi Điều tra viên là không đúng quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Theo quy định này, Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu Điều tra viên trình bày ý kiến, và Điều tra viên không phải là đối tượng được xét hỏi Quy định này hoàn toàn hợp lý, vì trong quá trình điều tra, Điều tra viên là người tiến hành tố tụng và xét hỏi đối với những người tham gia tố tụng, do đó không thể trở thành đối tượng được xét hỏi tại phiên tòa.
Cuộc đối chất giữa luật sư, điều tra viên và bác sĩ Lương về lời khai "sinh đôi" đã diễn ra một cách kịch tính, thu hút sự chú ý của dư luận Các bên liên quan đã trình bày quan điểm và bằng chứng để làm rõ sự thật trong vụ án Sự kiện này không chỉ phản ánh tính chất phức tạp của quá trình điều tra mà còn cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên trong vụ việc.
Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Điều tra viên khi tham gia phiên toà
sự về địa vị pháp lý của Điều tra viên khi tham gia phiên toà
Để khắc phục những hạn chế và bất cập trong việc thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với hoạt động của Điều tra viên tại phiên tòa, tác giả đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật.
2.3.1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- hứ nhất, sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 37 ộ uật tố tụng hình sự năm
Năm 2015, pháp luật đã xác định rõ vị trí và vai trò của Điều tra viên khi tham gia phiên tòa, nhấn mạnh rằng Điều tra viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn điều tra mà còn phải chịu trách nhiệm về các quyết định và hành vi tố tụng của mình cho đến khi vụ án được giải quyết Điều này đảm bảo tính toàn diện và trách nhiệm trong quá trình tố tụng theo quy định pháp luật.
- hứ hai, bổ sung thêm 01 khoản tại Điều 317 ộ uật tố tụng hình sự năm
Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng của Điều tra viên trong quá trình tham gia phiên tòa Cụ thể, các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 37 sẽ được xem xét để nâng cao tính minh bạch và công bằng trong hoạt động tố tụng.
2 Điều tra viên phải chịu trách nhiệm 2 Điều tra viên phải chịu trách nhiệm tr c pháp luật và tr c hủ tr ởng, tr c pháp luật và tr c hủ tr ởng, Phó hủ tr ởng Cơ quan điều tra về Phó hủ tr ởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình hành vi, quyết định của mình đến khi vụ án đ c giải quyết theo quy định của pháp luật. Điều 317 Điều tra viên, Kiểm sát viên, Điều 317 Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có th m quyền tiến hành người khác có th m quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến bày ý kiến
Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và các cá nhân có thẩm quyền khác tham gia tố tụng để trình bày ý kiến nhằm làm rõ các quyết định và hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử khi thấy cần thiết.
Trong trường hợp được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa, Điều tra viên có quyền trình bày ý kiến và lập luận của mình để phản biện với người bào chữa và các bên tham gia tố tụng khác, nhằm làm rõ các quyết định và hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra.
Vào thứ Ba, đã có đề xuất sửa đổi, bổ sung thêm một điều luật trong Mục II, hương XXII về xét xử phúc thẩm (ký hiệu Điều 351ê), nhằm đảm bảo sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa xét xử phúc thẩm Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định việc triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa này, nhưng thực tế đã cho thấy sự cần thiết của việc này Đề xuất bổ sung Điều 351ê vào Điểm a Khoản 1 Điều 352 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sẽ là căn cứ để hoãn phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp Điều tra viên được triệu tập nhưng vắng mặt.
Không quy định Điều 351 a Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác
Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền triệu tập Điều tra viên và những người có thẩm quyền liên quan đến vụ án để trình bày tại phiên tòa Nếu những người này vắng mặt, Hội đồng xét xử có thể quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp cụ thể Điều 352 quy định về việc hoãn phiên tòa phúc thẩm.
1 Tòa án cấp phúc thẩm chỉ đ c hoãn 1 Tòa án cấp phúc thẩm chỉ đ c hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các phiên tòa khi thuộc một trong các tr ng h p: tr ng h p: a) Có một trong nh ng căn cứ quy định a) Có một trong nh ng căn cứ quy định t i c c điều 52, 53, 349, 350 và 351 của t i c c điều 52, 53, 349, 350, 351 và
Bộ luật này quy định rằng cần phải xác minh và thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật không thể thực hiện ngay tại phiên tòa Nếu phiên tòa bị hoãn, vụ án sẽ phải được xét xử lại từ đầu.
2 Th i h n hoãn phiên tòa và quyết 2 h i h n hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm đ c định hoãn phiên tòa phúc thẩm đ c thực hiện theo quy định t i Điều 297 của thực hiện theo quy định t i Điều 297 của
Bộ luật này Bộ luật này.
2.3.2 Ban hành thông t liên tịch h ng dẫn ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định chưa rõ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên khi được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự Mặt khác, do Điều 296 ộ uật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến việc triệu tập các đối tượng thuộc nhiều ngành khác nhau nên tác giả đề xuất ban hành thêm Thông tư liên tịch để hướng dẫn thi hành, về các nội dung sau:
- hứ nhất, về địa vị pháp lý (tư cách) tố tụng của Điều tra viên tại phiên tòa.
Khi triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Điều tra viên được xác định là Người đã thụ lý, giải quyết vụ án Công văn số 5024/VKSTC-V14, ngày 19/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ nội bộ và không phải là văn bản quy phạm pháp luật, do đó chưa đảm bảo tính pháp lý thống nhất chung.
- hứ hai, về quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên tại phiên tòa.
Dựa trên địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên tại phiên tòa chỉ được xác định khi họ được triệu tập tham gia phiên tòa.
+Điều tra viên phải có mặt theo quyết định (giấy) triệu tập của Hội đồng xét xử vụ án.
+ Trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án.
Vào thứ ba, cần hướng dẫn cụ thể về "Các vấn đề liên quan đến vụ án", cũng như làm rõ "Những quyết định và hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra" Những nội dung này sẽ được trình bày tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ phạm vi trình bày của Điều tra viên trong phiên tòa.