Theo đó, người có thẩm quyền khámnghiệm là những người thuộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc làngười có chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu v
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7 1.1 Vấn đề nhận thức và pháp luật tố tụng hình sự về chủ thể khám nghiệm hiện trường 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chủ thể khám nghiệm hiện trường 7
1.1.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ thể khám nghiệm
nghiệm hiện trường và nguyên nhân 21
1.3 Các biện pháp đối với chủ thể khám nghiệm hiện trường 28
1.3.1 Biện pháp hoàn thiện và hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với chủ thể
khám nghiệm hiện trường 28 1.3.2 Các biện pháp khác liên quan đến các chủ thể khám nghiệm hiện trường
2.1.1 Vấn đề nhận thức về các hoạt động cụ thể của khám nghiệm hiện trường
Trang 22.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả tiến hành các hoạt động cụ thể của khám nghiệm hiện trường 52
2.3.1 Biện pháp hoàn thiện pháp luật về các hoạt động cụ thể của khám nghiệm
hiện trường 52 2.3.2 Một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động cụ thể
của khám nghiệm hiện trường 53
Kết luận Chương 2 55
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khám nghiệm hiện trường (KNHT) là một hoạt động điều tra trong TTHSnhằm xem xét, phát hiện, ghi nhận dấu vết của tội phạm để lại hiện trường vụ án.KNHT được coi là một trong những biện pháp điều tra ban đầu và có thể được tiếnhành từ rất sớm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Với vai trò là một trong số
ít các biện pháp điều tra có thể thực hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án,KNHT giúp cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm, thu thập những chứng cứ ban đầu của
vụ án, phục vụ cho việc điều tra, làm rõ vụ việc sau đó Thông qua hiện trường, cơquan tiến hành tố tụng có thể đưa ra những nhận định, đánh giá ban đầu về tínhchất, phương pháp, cách thức, thời điểm thực hiện tội phạm, những công cụ,phương tiện được sử dụng cũng như nhiều thông tin cần thiết khác cho việc giảiquyết vụ án Dựa trên kết quả KNHT ban đầu, CQĐT xem xét, nghiên cứu và raquyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự cũng như lập ra kế hoạch điềutra phù hợp trong giai đoạn tiếp theo của vụ án Có thể nói, hiệu quả của hoạt độngđiều tra bị chi phối ở mức độ đáng kể bởi kết quả KNHT, thậm chí trong nhiềutrường hợp kết quả KNHT mang tính chất quyết định đối với hiệu quả của hoạtđộng điều tra Trong nhiều vụ án, nếu không khám nghiệm hoặc KNHT không đúngyêu cầu hoặc sai sót sẽ làm cho quá trình điều tra vụ án gặp khó khăn, thậm chí bếtắc, hoặc cũng có thể để lọt tội phạm hoặc dẫn đến những nhận định sai lầm, làmoan người vô tội, trong khi nếu việc KNHT được thực hiện một cách có hiệu quả sẽgiúp cho việc xác định phương hướng điều tra chính xác
Để hoạt động KNHT đạt hiệu quả cao, giúp thu thập các tài liệu, dấu vết, đồvật có liên quan đến tội phạm một cách chính xác, đầy đủ, khách quan, cần phải cócác quy định pháp luật hoàn thiện về vấn đề này, từ đó tạo cơ sở pháp lí vững chắccho các chủ thể có thẩm quyền trong việc thực hiện khám nghiệm trên thực tế Sovới BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã có sự hoàn thiện hơn trong quyđịnh về biện pháp KNHT Các chủ thể tham gia vào quá trình KNHT đã được bổsung và quy định một cách rõ ràng hơn Các hoạt động hay chức năng, nhiệm vụcủa các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình khám nghiệm cũng được quy định cụthể hơn và được hướng dẫn chi tiết hơn trong các văn bản hướng dẫn thi hành Điềunày đã tạo nên cơ sở pháp lí vững chắc để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện mộtcách có hiệu quả hoạt động KNHT trên thực tế, từ đó góp phần vào kết quả của hoạtđộng điều tra, giải quyết vụ án
Trang 4Thực tiễn cho thấy hoạt động KNHT của các cơ quan có thẩm quyền trongthời gian qua đã phát huy hiệu quả, giúp thu thập các chứng cứ một cách chính xácđầy đủ, góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất của vụ án Kết quảKNHT góp phần làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở để nhận định tínhchất, diễn biến vụ việc, giúp các cơ quan có thẩm quyền nhận định phương thức, thủđoạn gây án của người phạm tội và xây dựng nhiều giả thuyết hình sự khác Tuynhiên, bên cạnh những điểm đạt được, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động triển khaicủa các lực lượng làm nhiệm vụ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và vẫn cònnhững lỗ hổng, những điểm hạn chế cần khắc phục Chẳng hạn, việc khám nghiệmkhông theo đúng thủ tục, trình tự pháp luật quy định, biên bản khám nghiệm ghikhông đầy đủ, bỏ sót các dấu vết quan trọng, tang vật chứng không được bảo quảnchặt chẽ dẫn đến xác định phương hướng điều tra và đường lối giải quyết vụ ánkhông đúng Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia KNHT còn chưachặt chẽ dẫn đến hiệu quả chưa cao… Nguyên nhân của thực trạng này đến từ nhiềukhía cạnh, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ quy định của pháp luậtđến thực tiễn áp dụng pháp luật, năng lực của người tiến hành tố tụng, hay cácphương tiện, công cụ kỹ thuật được trang bị…
Như vậy, để phát huy hiệu quả của hoạt động KNHT đòi hỏi phải có một cơ
sở pháp lí vững chắc làm nền tảng, đi cùng với đó là cơ chế đảm bảo việc áp dụngpháp luật, một lực lượng người có thẩm quyền có chuyên môn, năng lực, được đàotạo bài bản, hệ thống trang thiết bị đầy đủ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu và nhiều yếu tốkhác Trong đó, pháp luật TTHS hiện hành đã quy định tương đối rõ về các chủ thểtham gia KNHT cũng như trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành khám nghiệm Cóthể thấy mặc dù so với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có sự hoànthiện đáng kể nhưng vẫn tồn tại những điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung để có thểđiều chỉnh một cách tốt hơn đối với hoạt động KNHT Chẳng hạn một số quy địnhcủa pháp luật còn quá chung chung, thiếu cụ thể dẫn đến sự lúng túng, không hiệuquả trong áp dụng; một số chủ thể có vai trò quan trọng trong hoạt động KNHT trênthực tế nhưng lại không được điều chỉnh bởi pháp luật…
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật vàthực tiễn về KNHT để thấy được những thành tựu cũng như tồn tại thiếu sót, trên cơ
sở đó đưa ra những đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảhoạt động KNHT trên thực tế là cần thiết Do đó, tác giả chọn thực hiện đề tài
Trang 5“Khám nghiệm hiện trường theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” làm Luận
văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Qua khảo sát cho thấy, đến thời điểm hiện nay, vấn đề liên quan đến KNHT
đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả, người nghiên cứu khoahọc Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến KNHT và giải quyết đượcnhững vấn đề lí luận có liên quan Đây là nội dung mà Luận văn này sẽ kế thừa làmnền tảng để tìm hiểu những vấn đề cụ thể liên quan đến KNHT
Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu này dừng lại ở mức độ bài báo đăngtải trên các tạp chí chuyên ngành nên do sự giới hạn về mặt dung lượng, các các tácgiả thường chọn lọc một hoặc một số vấn đề đơn lẻ để trình bày Có thể thấy, cácnghiên cứu thường đề cập đến KNHT ở một số khía cạnh cụ thể, chẳng hạn sự thamgia của người có chuyên môn trong hoạt động KNHT, KNHT trong những vụ án tainạn giao thông, KNHT trong vụ án cháy nổ… Bên cạnh đó, cũng có một số đề tàinghiên cứu trực tiếp hoạt động KNHT trong TTHS ở quy mô lớn hơn như các luậnvăn thạc sĩ Tuy nhiên, việc nghiên cứu này vẫn chưa toàn diện và vẫn còn nhiều nộidung liên quan chưa được giải quyết một cách thỏa đáng Vì vậy, việc tiếp tục đàosâu nghiên cứu nội dung liên quan đến KNHT trong TTHS vẫn còn cần thiết
Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Hoàng Văn Trường (2021), Trao đổi về vị trí pháp lí của cán bộ kỹ thuật
hình sự trong hoạt động KNHT, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 1/2021 Trong bài
viết này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu vai trò, vị trí, tầm quan trọng củacán bộ kỹ thuật hình sự trong quá trình KNHT Bài viết cung cấp nhiều thông tin vàgóc nhìn thực tế về vấn đề có liên quan, từ đó đánh giá quy định của pháp luật liênquan đến tư cách, vị trí pháp lí của cán bộ kỹ thuật hình sự trong KNHT Do giớihạn về dung lượng của bài viết nên tác giả chưa thể nghiên cứu một cách tổng quan
về hoạt động KNHT nói chung
- Nguyễn Minh Tuấn (2017), Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành KNHT các
vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào ban đêm, Tạp chí Kiểm sát, số 16/2017.
Bài viết đi sâu vào phân tích hoạt động KNHT đối với một dạng vụ án cụ thể trongtrường hợp cụ thể, đó là các vụ tai nạn giao thông xảy ra vào ban đêm Tác giả nhìn
từ thực tiễn KNHT tai nạn giao thông vào ban đêm, chỉ ra những đặc điểm và nhữngđiểm cần lưu ý đối với các chủ thể có thẩm quyền khám nghiệm khi gặp trường hợptương tự Bài viết thiên về phân tích thực tiễn và chỉ đề cập đến một
Trang 6khía cạnh của KNHT, chưa tìm hiểu một cách có hệ thống về hoạt động KNHT theoquy định của pháp luật TTHS nói chung.
- Quách Đình Lực (2016), Đổi mới phương thức giảng dạy kỹ năng của kiểm
sát viên trong hoạt động KNHT và khám nghiệm tử thi, Tạp chí Nghề Luật, số
05/2016 Bài viết đề cập đến KNHT ở một khía cạnh khác, đó là việc giảng dạy kỹnăng của kiểm sát viên trong quá trình KNHT tử thi Bài viết không nhìn từ góc độpháp luật TTHS, cũng không đề cập trực tiếp đến hoạt động KNHT vụ án nhưngcung cấp cho người đọc một khía cạnh khác có liên quan và ảnh hưởng đến hiệu quảcủa hoạt động KNHT trên thực tế
- Nguyễn Thị Huân (2016), Nâng cao chất lượng kiểm sát KNHT các vụ án
"vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" tại VKS Quân sự khu vực 32, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2016 Bài viết khai thác một khía cạnh của
KNHT, đó là chất lượng của hoạt động kiểm sát khám nghiệm trong một dạng vụ án
cụ thể của một cơ quan VKS cụ thể Tác giả chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong quátrình thực hiện kiểm sát KNHT tại các vụ án vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ tại VKS Quân sự khu vực 32, từ đó đưa ra một sốkiến nghị nhằm nâng cao hơn hiệu quả của hoạt động này trên thực tế Bài viết chủyếu nhìn từ góc độ thực tế và được xuất bản vào thời điểm mà BLTTHS năm 2015chưa có hiệu lực pháp luật
- Nguyễn Thanh Tùng (2018), “KNHT theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình này, tác
giả đã tìm hiểu hoạt động KNHT theo luật TTHS Việt Nam dưới hai khía cạnhchính là chủ thể khám nghiệm và bảo vệ hiện trường Luận văn này cũng tiến hànhtìm hiểu thực tế KNHT chủ yếu tại ba địa phương là Tiền Giang, Long An, Bến Tre.Đây là một nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi tiến hành thực hiện đềtài của mình Tuy có sự tiếp thu và tham khảo một số nội dung của luận văn của tácgiả Nguyễn Thanh Tùng nhưng tác giả nhận thấy luận văn này vẫn còn nhiều điểmhạn chế Luận văn mới chỉ đề cập đến một số quy định của pháp luật có liên quanđến KNHT nhưng chưa có sự tìm hiểu một cách có hệ thống cũng chưa có sự phântích cụ thể về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của mỗi chủ thể tham gia vào quá trìnhkhám nghiệm Trong đề tài này tác giả tiến hành tìm hiểu hoạt động KNHT ở mộtkhía cạnh khác cũng như tìm hiểu thực tế KNHT ở phạm vi khác
Trang 7Và một số công trình nghiên cứu khác có liên quan.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề nhận thức về chủ thể KNHT và các hoạt động cụ thể KNHT
- Phân tích các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về chủ thể KNHT và các hoạt động cụ thể của KNHT
- Đánh giá thực tiễn về chủ thể KNHT và các hoạt động cụ thể của KNHT
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả KNHT từ góc độ nghiên cứu về chủ thể KNHT và các hoạt động cụ thể của KNHT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bản chất pháp lý và thực tiễn về chủ thểKNHT và các hoạt động cụ thể của KNHT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ thể KNHT và cáchoạt động cụ thể của KNHT theo pháp luật TTHS Việt Nam
Về không gian: Luận văn đánh giá thực tiễn vấn đề nghiên cứu trong phạm vi
cả nước, nhưng tập trung hơn ở địa bàn tỉnh Phú Yên
Về thời gian: Tác giả nghiên cứu thực tiễn KNHT trong thời gian từ năm
2016 đến năm 2021
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được nghiên cứu theo quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, quan điểm của Đảng và nhà nước về cải cách tư pháp và vấn đề bảo đảm quyềncon người trong TTHS
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các các phươngpháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phương phápchuyên gia, phân tích tình huống pháp lí điển hình Cụ thể:
Trang 8- Phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng một cách kếthợp nhằm tìm hiểu một số vấn đề lí luận về chủ thể KNHT và các hoạt động cụ thểcủa KNHT.
- Phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia và tình huống pháp lí điểnhình được áp dụng nhằm tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chủ thể KNHT vàcác hoạt động cụ thể của KNHT
6 Kết quả nghiên cứu
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần hoàn thiện cácquy định của pháp luật về hoạt động KNHT theo Luật TTHS Việt Nam Kết quảnghiên cứu của luận văn được hi vọng là có ý nghĩa và góp phần giải quyết một sốvấn đề về thực tiễn còn thiếu sót, bất cập trong hoạt động KNHT
Tác giả hi vọng luận văn là một trong những tài liệu hữu ích cho việc học tập,nghiên cứu pháp luật về vấn đề có liên quan Đối với các cơ quan nhà nước, kết quảnghiên cứu của đề tài có thể sử dụng để tham khảo, ứng dụng trong hoạt độngKNHT của các cơ quan chức năng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Chủ thể KNHT theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 Các hoạt động cụ thể của KNHT theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Vấn đề nhận thức và pháp luật tố tụng hình sự về chủ thể khám nghiệm hiện trường
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chủ thể khám nghiệm hiện
trường Khái niệm chủ thể khám nghiệm hiện trường
Lí luận Mac – Lênin đã chỉ ra rằng mọi vật chất đều có thuộc tính phản ánh.Theo đó, khi một hành vi (bao gồm cả hành vi phạm tội) xảy ra sẽ gây ra những phảnánh nhất định trong thế giới khách quan, bao gồm phản ánh vật chất và cả phản ánhtinh thần Trong đó, phản ánh vật chất được tồn tại dưới dạng vật thể, dấu vết hoặc chất
cụ thể mà con người có thể quan sát, nghiên cứu được Loại phản ánh này mang tínhkhách quan, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình chứng minh vụ án Dựa trên cơ sở đó,khi một hành vi phạm tội xảy ra thì chắc chắn nó sẽ được phản ánh lại trong thế giớikhách quan và để lại dấu vết trong một khoảng không gian nhất định, cho dù ngườiphạm tội có dùng thủ đoạn tinh vi nhằm che dấu tội phạm của mình Và bằng khả năngnhận thức kết hợp với sự hỗ trợ của kỹ thuật hiện đại, con người hoàn toàn có khả năngtìm ra sự thật vụ án thông qua những dấu vết để lại
Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ việc mang tính hình sự cần CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tổ chức khám nghiệm để thu thập dấu vết, vật chứng và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa phục vụ quá trình điều tra làm rõ bản chất vụ việc1 Thông thường, hiệntrường vụ án là nơi tập trung các dấu vết, thông tin phản ánh về diễn biến của tộiphạm, người phạm tội, người bị hại, phương thức, thủ đoạn phạm tội Do đó, việctìm hiểu những dấu vết để lại trên hiện trường vụ án có ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với việc xác định sự thật vụ án
KNHT có thể được hiểu là một biện pháp điều tra vụ án hình sự, được tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự đã xảy ra2 Hoặc một cách khái quát hơn thì KNHT được coi là hoạt động điều tranhằm thu thập thông tin liên quan đến vụ việc tại chính nơi vụ việc đó xảy ra hoặc
1Khoản 1 Điều 3 Thông tư 81/2021/TT-BCA Quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong hoạt động KNHT của lực lượng Công an nhân dân.
2Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, tr71.
Trang 10tại nơi phát hiện tội phạm Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, thì KNHT là mộthoạt động điều tra đặc biệt quan trọng và có tính đặc thù KNHT là quá trình sửdụng các kiến thức khoa học, kỹ thuật, có sự hỗ trợ của các phương tiện nghiệp vụ,nhằm phát hiện thu thập thông tin, dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc nghi cóliên quan đến tội phạm để xác định có hay không có tội phạm xảy ra và làm sáng tỏcác tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án.
Để KNHT đạt hiệu quả, từ đó thu thập đầy đủ những dấu vết để lại của tộiphạm, phục vụ cho hoạt động điều tra giải quyết vụ án, vai trò của chủ thể tham giakhám nghiệm là rất quan trọng KNHT là một hoạt động điều tra trong TTHS, do đó
để các tài liệu, đồ vật, dấu vết thu thập được thông qua hoạt động khám nghiệm đảmbảo các thuộc tính của chứng cứ và có thể được sử dụng để chứng minh trong vụ án,các chủ thể khám nghiệm phải được đảm bảo về thành phần theo quy định của phápluật cũng như phải có chuyên môn, kĩ năng nhất định, phải có sự am hiểu về pháp
luật TTHS Hiểu một cách khái quát nhất thì chủ thể KNHT là các cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành hoạt động KNHT theo quy định của pháp luật.
KNHT là một hoạt động điều tra trong TTHS, do đó quá trình khám nghiệmcần phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về nhiều khía cạnh, bao gồmthành phần tham gia khám nghiệm, trình tự, thủ tục khám nghiệm… BLTTHS năm
2015 đã quy định rõ những chủ thể trong hoạt động KNHT, trong đó bao gồmnhững người có thẩm quyền khám nghiệm và những người tham gia tố tụng cóquyền tham gia vào hoạt động khám nghiệm Theo đó, người có thẩm quyền khámnghiệm là những người thuộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc làngười có chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu và cótrách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc khám nghiệm.Những chủ thể này có quyền tiến hành các hoạt động khám nghiệm cụ thể trên hiệntrường nhằm thu thập dấu vết, chứng cứ liên quan đến tội phạm, từ đó thực hiệnnhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự, Ngoài ra, bên cạnh những người có thẩm quyềnkhám nghiệm, trong hoạt động KNHT còn có sự tham gia của một số chủ thể khác
là những người tham gia tố tụng như người bào chữa, bị hại, người chứng kiến,người làm chứng Những chủ thể này tham gia KNHT với những tư cách, vai trò,mục đích khác nhau nhưng không có thẩm quyền trực tiếp tiến hành các hoạt độngkhám nghiệm mà chủ yếu là hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động khámnghiệm, nhằm bảo đảm cho hoạt động khám nghiệm được tiến hành đúng quy địnhcủa pháp luật hoặc được diễn ra một cách thuận lợi và đạt hiệu quả cao trong việc
Trang 11thu thập dấu vết để lại, hoặc nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính nhữngngười tham gia tố tụng trong vụ án Sự tham gia của những đối tượng này có thể làbắt buộc nhằm bảo cho hoạt động KNHT về mặt thủ tục theo quy định của pháp luậtchẳng hạn như sự tham gia của người chứng kiến, và cũng có thể là không bắt buộcnhư sự tham gia của người bào chữa, người làm chứng, bị hại.
Đặc điểm của chủ thể khám nghiệm hiện trường
- Thứ nhất, các chủ thể KNHT phải được quy định theo pháp luật TTHS.KNHT là một hoạt động điều tra trong TTHS, do đó giống như tất cả các hoạt độngTTHS khác, chủ thể tiến hành KNHT phải được quy định cụ thể trong BLTTHS.Theo đó, mỗi chủ thể sẽ có vai trò, nhiệm vụ cũng như tiến hành các hoạt độngkhám nghiệm cụ thể khác nhau theo luật Bên cạnh đó, KNHT là một hoạt độngđiều tra tương đối phức tạp, đòi hỏi các chủ thể tiến hành phải có kiến thức, kĩ năng,trình độ nhất định cũng như đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chủ thể khác nhau trongquá trình khám nghiệm KNHT không phải là một hoạt động đơn lẻ mà bao gồmnhiều hoạt động nhằm phát hiện, thu thập, bảo quản các dấu vết của tội phạm để lạitrên hiện trường vụ án Do đó trong quá trình khám nghiệm, mặc dù các chủ thể tiếnhành có những vai trò, nhiệm vụ riêng nhưng cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ,ngay từ những bước đầu khám nghiệm như lên kế hoạch, đề xuất phương án khámnghiệm Theo pháp luật TTHS Việt Nam, CQĐT hay Cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan có vai trò chủ trì việc khám nghiệm,VKS là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động KNHT, Lực lượng
kỹ thuật hình sự hay một số lực lượng khác có liên quan tham gia khám nghiệmtheo yêu cầu của CQĐT hay Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện theo yêu cầu của cơ quanchủ trì khám nghiệm Trong quá trình KNHT, các cơ quan nói trên phải thực hiệnđúng thẩm quyền, nhiệm vụ được giao và phải tích cực phối hợp, trao đổi với nhaunhằm bảo đảm hiệu quả, chất lượng của hoạt động khám nghiệm
-Thứ hai, chủ thể KNHT không chỉ là cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng mà còn có thể là những người có chuyên môn được cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong những trường hợp cần thiết Như đã trình bày,KNHT không chỉ là một hoạt động điều tra thông thường mà còn là một biện phápmang tính chất nghiệp vụ rất cao Bản chất của công tác KNHT không phải chỉ đơnthuần là viết biên bản, chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường mà vấn đề cốt lõi của nó là
Trang 12phải khai thác được tối đa các thông tin, dấu vết ở hiện trường để xác định tính chấtcủa vụ việc, phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra Nó là quá trình tư duy lôgíckhoa học dựa trên kiến thức chuyên môn khoa học, lý luận nghiệp vụ có sự hỗ trợcủa các phương tiện kỹ thuật chuyên dùng hiện đại3 Do đó trong thành phần chủthể khám nghiệm không chỉ bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng màcòn có thể bao gồm những chủ thể khác là những người có chuyên môn, có sự amhiểu và kiến thức sâu rộng về lĩnh vực cụ thể liên quan đến tội phạm đang được tìmhiểu Theo quy định của pháp luật TTHS, những người có chuyên môn không phải
là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng có thể tham gia KNHT trongnhững trường hợp cần thiết Khác với các chủ thể có thẩm quyền khác, sự tham giacủa người có chuyên môn không phải là bắt buộc trong mọi trường hợp mà do tínhchất, sự yêu cầu của từng trường hợp cụ thể mà các cơ quan chủ trì khám nghiệmxác định có hay không cần thiết phải mời sự tham dự của người có chuyên môn
- Thứ ba, thành phần tiến hành KNHT có thể khác nhau tùy thuộc vào loạihiện trường vụ án Các hành vi tội phạm trên thực tế là rất đa dạng, xảy ra trên nhiềulĩnh vực với các phương thức, thủ đoạn khác nhau Do đó, việc thu thập chứng cứnói chung và việc KNHT nói riêng cũng sẽ thay đổi tùy thuộc vào từng vụ
án cụ thể sao cho việc điều tra đạt được hiệu quả cao nhất Ngoài những chủ thể bắtbuộc theo quy định của pháp luật như đại diện CQĐT (Cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra), VKS thì cũng có những chủ thể tiến hànhkhám nghiệm không bắt buộc mà có thể thay đổi tùy trường hợp Chẳng hạn, trongnhững vụ án có người chết trên hiện trường thì sự tham gia của lực lượng giám địnhpháp y là cần thiết nhằm xác định, phân tích, tìm hiểu về nguyên nhân tử vong,nhưng đối với các vụ án khác thì sự tham gia của lực lượng này là không cần thiết.Hoặc tùy theo tính chất, mức độ của vụ tai nạn giao thông thì thành phần tham giaKNHT cũng có thể bao gồm Cán bộ kỹ thuật hình sự; Cảnh sát phòng cháy, chữacháy và cứu nạn, cứu hộ; Công an xã, phường, thị trấn, Đồn, Trạm nơi xảy ra vụ tainạn giao thông; đại diện đơn vị đăng kiểm phương tiện giao thông đường bộ hoặc cánhân, tổ chức có chuyên môn (liên quan đến việc khám phương tiện cơ giới đườngbộ); đại diện đơn vị quản lý đường bộ, đại diện đơn vị quản lý công trình, đại diệnđơn vị chuyên môn kỹ thuật về công trình liên quan đến vụ tai nạn (đối với vụ tainạn giao thông liên quan đến công trình cầu, đường, hầm); đại diện chính quyền cấp
xã nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đại diện cơ sở, doanh nghiệp (người có kiến
3Trần Văn Luyện (2005), “Về sự tham dự của nhà chuyên môn trong hoạt động KNHT”, Tạp chí Kiểm sát, số 5.
Trang 13thức chuyên môn về lĩnh vực giá, lĩnh vực định giá tài sản) để xác định giá trị thiệthại ban đầu về tài sản.4
1.1.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ thể khám nghiệm hiện trường
BLTTHS năm 2015, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 gồm có 510 điều, chia thành 36chương, 09 phần Trong đó, các quy định có liên quan trực tiếp đến hoạt độngKNHT được quy định tại 06 điều luật gồm: Điều 37 - Nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của Điều tra viên; Điều 39 - Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấptrưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan thuộc Bộ đội biên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao tiến hành một sốhoạt động điều tra; Điều 40 - Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng,cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhândân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều 42 - Nhiệm vụ,quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên; Điều 147 - Thời hạn, thủ tục giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Điều 201- KNHT”
Nội dung của các điều luật này quy định về cụ thể về các chủ thể trong hoạtđộng KNHT trong BLTTHS năm 2015, cụ thể như sau:
Điều tra viên
Theo Khoản 1 Điều 201 BLTTHS năm 2015, “Điều tra viên chủ trì tiến hành
khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” Như vậy, theo quy định tại
điều luật này, Điều tra viên là chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động KNHT Như đãtrình bày, khám nghiệm là một trong những hoạt động điều tra của CQĐT trong quátrình tìm kiếm chứng cứ nhằm chứng minh vụ án Do đó, cũng giống những hoạtđộng điều tra khác, KNHT được trực tiếp thực hiện bởi Điều tra viên Điều 37 về
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên cũng quy định: “1 Điều tra
viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: […] g) Tiến hành KNHT, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra”.
So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ ràng hơn vềvai trò “chủ trì” của Điều tra viên trong hoạt động KNHT Theo đó, Điều tra viên
4 Khoản 3 Điều 9 TT63/2020/TT-BCA quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng cảnh sát giao thông
Trang 14không chỉ là người trực tiếp tiến hành hoạt động khám nghiệm mà còn là người
“chủ trì” hoạt động này Chủ trì KNHT là việc tiến hành và chịu trách nhiệm chung
về công tác KNHT5, do đó Điều tra viên là chủ thể chịu trách nhiệm việc lên kếhoạch khám nghiệm, thông báo với VKS, tiến hành đo đạc, quan sát, vẽ sơ đồ, thuthập dấu vết, hoàn thành các biên bản… Bởi là người chủ trì nên kiến thức, kỹ năng,chuyên môn của Điều tra viên có ảnh hưởng rất lớn đến tính hiệu quả của hoạt độngKNHT Trong quá trình khám nghiệm, Điều tra viên phải chịu sự kiểm sát của Kiểmsát viên và phải hoàn thành những yêu cầu liên quan đến hoạt động khám nghiệmcủa Kiểm sát viên
Việc quy định điều tra viên là người chủ trì trực tiếp tiến hành hoạt độngkhám nghiệm là hoàn toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT.Theo đó, CQĐT có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thậpchứng cứ, phục vụ hoạt động điều tra vụ án Đồng thời đây cũng là cơ quan có thẩmquyền tiếp nhận và giải quyết các tố giác, báo tin về tội phạm hay kiến nghị khởi tố.Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật, CQĐT tùytheo tình hình, tính chất của vụ việc mà có những hoạt động kịp thời Theo Khoản 1Điều 5 TT81/2021/TT-BCA Quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phốihợp trong công tác KNHT của lực lượng Công an nhân dân, “CQĐT có trách nhiệmchủ trì và tiến hành công tác KNHT theo thẩm quyền:
a)CQĐT phải khẩn trương tiến hành những biện pháp điều tra nhằm truy bắtđối tượng thực hiện hành vi phạm tội, người vi phạm pháp luật theo dấu vết nóng, tổchức KNHT; xác định tung tích nạn nhân; thu thập thông tin do người làm chứng,người bị hại, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cung cấp;
b) Phân công Điều tra viên chủ trì;
c) Thông báo cho Lực lượng kỹ thuật hình sự và các đơn vị nghiệp vụ có liên quan để yêu cầu tham gia KNHT;
d) Lập Hội đồng KNHT (nếu cần thiết);
đ) Thông báo cho VKS cùng cấp và mời các thành phần khác tham dự, chứngkiến, tham gia theo quy định của pháp luật;
e) Chủ trì, phân công và phối hợp với các lực lượng liên quan bảo vệ hiệntrường đảm bảo an ninh, trật tự, và các yêu cầu cần thiết khác để việc khám nghiệmđược thuận lợi;
5Khoản 4 Điều 3 TT81/2021/TT-BCA Quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác KNHT của lực lượng Công an nhân dân
Trang 15g) Thường xuyên phối hợp với các bộ kỹ thuật hình sự và các lực lượng kháctrong quá trình khám nghiệm, cung cấp những thông tin liên quan, nghiên cứu, đánhgiá dấu vết, vật chứng để truy tìm ngay người phạm tội hoặc người vi phạm phápluật và làm rõ sự việc;
h)Quản lý, bảo quản dấu vết, vật chứng và hồ sơ KNHT;
i) Ký biên bản KNHT với tư cách là người chủ trì;
k) Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐThoặc Điều tra viên chủ trì phân công cán bộ trong tổ (hội đồng) khám nghiệm tiếnhành lập hồ sơ KNHT và chịu trách nhiệm về các nội dung trong hồ sơ KNHT”
Như vậy, có thể thấy Điều tra viên theo sự phân công của CQĐT sẽ là chủ thểchủ trì hoạt động KNHT, là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức, tiến hànhcác hoạt động khám nghiệm cũng như lập hồ sơ về việc khám nghiệm, quản lý, bảoquản dấu vết, vật chứng và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động KNHT nói chung
Cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo quy định tại các Điều 32, 34, 35, 36 Luật Tổ chức CQĐT hình sự năm
2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộđội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư khi thực hiện nhiệm
vụ trong lĩnh vực quản lí của mình mà phát hiện tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án
và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, trong thời hạn 7 ngày trong trườnghợp tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm
ít nghiêm trọng nhưng phức tạp hoặc tiến hành khởi tố và điều tra toàn bộ đối với
vụ án đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng
cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng Như vậy, một số cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,Cảnh sát biển, Kiểm ngư thì có quyền thực hiện hoạt động KNHT cho dù tội phạmđược phát hiện là tội ít nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, bởi KNHT đượccoi là một trong những biện pháp điều tra ban đầu, có thể thực hiện trước khi khởi
tố vụ án hình sự Cụ thể, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các cơquan này có thẩm quyền KNHT bao gồm Cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra củacác cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển,Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Trang 16Tuy nhiên tại khoản 2 và khoản 3 Điều 39 BLTTHS quy định nhiệm vụ,quyền hạn của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều trathì những người được giao nhiệm vụ tiến hành mộ số hoạt động điều tra trong Bộ
đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảnh sát biển chỉ có thẩm quyền
KNHT trong trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng và phạm tội quả tang, chứng cứ
và lí lịch của người phạm tội rõ ràng Có thể thấy, quy định tại Điều 39 BLTTHS
năm 2015 không chỉ không thống nhất với Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015 màcòn không thống nhất với Điều 164 BLTTHS năm 2015 về Nhiệm vụ, quyền hạncủa các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm Ngư TheoKhoản 1 Điều 164 BLTTHS năm 2015, “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tộiphạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lí của mình thì các cơ quan của Bộ đội biênphòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang,chứng cứ và lí lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho VKS có thẩm quyền trongthời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi
tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án choCQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ ánhình sự”
Trong số các biện pháp điều tra ban đầu trước khi khởi tố vụ án, bao gồm cảbiện pháp KNHT6 Như vậy, đã có sự không thống nhất về thẩm quyền KNHT củachủ thể trong một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra giữa một số quy định của BLTTHS năm 2015 và giữa BLTTHS năm 2015 vớiLuật Tổ chức CQĐT hình sự
Ngoài ra, Điều 40 BLTTHS năm 2015 còn quy định thẩm quyền KNHT củamột số cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Thẩm quyền này cũng được nhắc lại ở Điều
38 Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015: “Trong khi thi hành nhiệm vụ mà phát hiện
sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền Điều tra của Cơ quan Cảnh sát Điều tra thì Cục trưởng, iám đốc, Trưởng phòng, Giám thị của các cơ quan Cảnh
6Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015.
Trang 17sát quy định tại Khoản 6 Điều 9 của Luật này quyết định khởi tố vụ án h nh sự, ,KNHT, , chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án ” Vậy khi phát
hiện sự việc thì các cơ quan Cảnh sát quy định tại Khoản 6 Điều 9 của Luật nàycũng có thẩm quyền KNHT và thực hiện các thủ tục tố tụng khác trong thời hạn 07ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án thì phải chuyển cho cơ quan Cảnh sátđiều tra tiếp tục xử lí
Bên cạnh sự chưa thống nhất trong các quy định của BLTTHS năm 2015cũng như giữa BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự về các trườnghợp mà Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đượcquyền KNHT thì Điều 201 BLTTHS năm 2015 cũng chỉ đề cập đến hoạt độngKNHT của CQĐT mà không điều chỉnh hoạt động KNHT của cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo đó, Điều 201 quy định thủ tụcKNHT và trách nhiệm, vai trò của Điều tra viên với tư cách là người chủ trì khámnghiệm Tuy nhiên, chức danh Điều tra viên là chức danh thuộc CQĐT, trong cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có chức danhnày Những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định cụ thể tại Khoản 2Điều 35 BLTTHS năm 2015
Trách nhiệm của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra trong KNHT được hướng dẫn tại Điều 6 TT81/2021/TT-BCA, cụ thể như sau:
“1 Tổ chức và chủ trì công tác KNHT theo thẩm quyền:
a) Thực hiện các quy định tại điểm a, d, đ, e, f, g, h, i khoản 1 Điều 35 Thông
2 Phân công cán bộ tham gia đối với vụ việc chuyển cho CQĐT chủ trì KNHT”.Như vậy, thông qua quy định trên có thể thấy Cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra có thể tham gia KNHT với một trong hai vai
Trang 18trò: vai trò chủ trì hoạt động khám nghiệm hoặc tham gia bên cạnh CQĐT trongnhững trường hợp chuyển vụ án cho CQĐT chủ trì khám nghiệm.
Kiểm sát viên
Theo Khoản 2 Điều 201, “Trước khi tiến hành KNHT, Điều tra viên phải
thông báo cho VKS cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để
cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc KNHT” Với chức năng, nhiệm vụ của VKS, thì Kiểm sát viên có mặt
tại nơi khám nghiệm là nhằm kiểm sát việc khám nghiệm của điều tra viên Trên cơ
sở của pháp luật TTHS, Kiểm sát viên phải kiểm sát tính hợp pháp của hoạt độngkhám nghiệm, kiểm sát việc chấp hành các thủ tục, trình tự khám nghiệm, kiểm sátcác hoạt động khám nghiệm, kiểm sát việc thu thập, bảo quản dấu vết, đúng quyđịnh của BLTTHS và đạt hiệu quả, mục đích của hoạt động khám nghiệm.7 TuyBLTTHS năm 2015 quy định Điều tra viên là người chủ trì hoạt động KNHT nhưng
sự có mặt của Kiểm sát viên trong hoạt động này là bắt buộc Do đó, để đảm bảo thủtục, BLTTHS năm 2015 quy định Điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấpbiết về việc tiến hành hoạt động KNHT với thời gian, địa điểm chính xác
Nhiệm vụ, quyền hạn cũng như những hoạt động cụ thể của Kiểm sát viêntrước, trong và sau khi KNHT được quy định cụ thể trong Quy chế hoạt động thựchành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố, ban hành kèm theoQuyết định số 111 /QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao.Theo đó, để hoạt động kiểm sát việc KNHT được hiệu quả, sau khi đã nhận đượcthông báo của CQĐT và trước khi KNHT, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tìnhhình, yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra thông báo nội dung, diễn biến ban đầucủa sự việc xảy ra, hoạt động bảo vệ hiện trường Đồng thời, Kiểm sát viên cũng cóthể tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm, phương pháp khám nghiệm,chủ động yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra tiến hành KNHT, kiểm tra đầy đủthành phần trước khi tiến hành khám nghiệm bảo đảm đúng quy định tại Điều 201BLTTHS năm 2015
Trong quá trình KNHT, Kiểm sát viên phải có mặt và chứng kiến hoạt độngkhám nghiệm từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Việc tham gia của đại diện VKS vàohoạt động KNHT không chỉ xuất phát từ chức năng kiểm sát mà còn xuất phát từchức năng thực hành quyền công tố Do đó, sự có mặt của Kiểm sát viên không chỉ
7 Nguyễn Thị Huân (2016), “Nâng cao chất lượng kiểm sát KNHT các vụ án "vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ" tại Viện kiểm sát Quân sự khu vực 32”, Tạp chí Kiểm sát, số 12, tr15
Trang 19dừng lại ở việc theo dõi, giám sát mà còn phải phối hợp với Điều tra viên, Cán bộđiều tra, người có chuyên môn để thống nhất nội dung, kế hoạch, trình tự, phươngpháp KNHT, hoặc Kiểm sát viên chủ động đề ra những yêu cầu khám nghiệm trongtrường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.
Kết thúc cuộc khám nghiệm, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm phối hợpcùng Điều tra viên, Cán bộ điều tra phân tích, đánh giá đúng kết quả KNHT; xemxét quyết định kết thúc khám nghiệm hoặc tiếp tục bảo vệ hiện trường để có thểkhám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại; xác định rõ những dấu vết, vật chứng, đồvật, tài liệu, dữ liệu điện tử cần được trưng cầu giám định, nội dung cần trưng cầu
để phục vụ cho hoạt động điều tra, giải quyết vụ án
Người có chuyên môn
Người có chuyên môn là những người có kiến thức sâu về một lĩnh vực riêng,một ngành khoa học, kỹ thuật nhất định Khoản 2 Điều 201 quy định khi cần thiết,người có chuyên môn có thể được mời tham gia việc khám nghiệm Quy định chophép người có chuyên môn tham gia KNHT là cần thiết bởi KNHT không chỉ làmột hoạt động TTHS mà còn là một biện pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ củangành Công an trong việc thu thập chứng cứ Đối tượng của KNHT cũng có nhữngđặc thù nhất định, đó là những dấu vết, vật chứng, đồ vật, dữ liệu điện tử có liênquan đến vụ việc phạm tội Những đối tượng này cần phải áp dụng những phươngpháp, phương tiện đặc thù mới có thể phát hiện, thu lượm, bảo quản, đánh giá đảmbảo khai thác các thông tin có giá trị tốt nhất cho điều tra, xử lí vụ phạm tội xảy ra8.Trong khi đó Điều tra viên lại không phải là người có kiến thức chuyên sâu trên mọikhía cạnh Do đó, cần có sự hỗ trợ từ những người có chuyên môn, thông thường làcác chuyên gia thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cần thiết có liên quan đến việcKNHT như bác sĩ pháp y, chuyên gia về dấu vết, súng đạn
Trong những “người có chuyên môn” tham gia vào việc KNHT, cần lưu ýđến chủ thể là các cán bộ kỹ thuật hình sự Lực lượng kỹ thuật hình sự không được
đề cập trực tiếp trong Điều 201 BLTTHS năm 2015 nhưng đây được coi là lựclượng không thể thiếu trong hoạt động KNHT Theo Thông tư 81/2021/TT-BCAngày 26/7/2021 của Bộ Công an quy định về phân công trách nhiệm và quan hệphối hợp trong hoạt động KNHT của lực lượng Công an nhân dân thì khi tiến hànhKNHT, CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra8Hoàng Văn Trường (2021), “Trao đổi về vị trí pháp lý của cán bộ kỹ thuật hình sự trong hoạt động KNHT”,
Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Số 01, tr43.
Trang 20đều phải thông báo cho lực lượng kỹ thuật hình sự và các đơn vị nghiệp vụ có liênquan để yêu cầu tham gia KNHT9 Cũng theo Thông tư này, lực lượng kỹ thuật hình
sự có trách nhiệm: Khẩn trương chuẩn bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật chuyên dùng
cho việc khám nghiệm và tổ chức lực lượng đến hiện trường khi có yêu cầu; Chủ động nghiên cứu tình hình hiện trường để đưa ra phương pháp, chiến thuật và sử dụng phương tiện khám nghiệm phù hợp; Trực tiếp thực hiện các hoạt động KNHT theo yêu cầu của CQĐT và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Phối hợp với cán bộ chủ trì KNHT thiết lập hồ sơ KNHT; Bảo vệ bí mật những thông tin về kết quả của hoạt động KNHT theo chế độ quản lí tài liệu nghiệp vụ của ngành công an.10
Đánh giá quy định của pháp luật, có thể thấy tuy đề cập đến sự tham gia củangười có chuyên môn trong hoạt động KNHT nhưng pháp luật TTHS nói chung,BLTTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành nói riêng đều không có quyđịnh cụ thể về khái niệm người có chuyên môn cũng như vai trò, vị trí, chức năng,nhiệm vụ của chủ thể này trong KNHT Các quy định về vấn đề này còn quá chungchung, từ đó đặt ra nhiều câu hỏi Thứ nhất, về việc xác định thế nào là người cóchuyên môn, liệu có cần bằng cấp, chứng chỉ để chứng minh năng lực của nhữngngười này hay không Thứ hai, sự tham gia của người có chuyên môn vào hoạt độngKNHT ở mức độ nào Khi tham gia khám nghiệm, người có chuyên môn sẽ chứngkiến hoạt động của người tiến hành tố tụng (như người chứng kiến) hay đưa ranhững nhận xét, tư vấn mang tính hỗ trợ hay có thể trực tiếp tiến hành các biện pháp
hỗ trợ nhằm phát hiện, thu thập, bảo quản các dấu vết Thứ ba, trên thực tế, lựclượng kỹ thuật hình sự tham dự khá sâu vào hoạt động KNHT, thậm chí trực tiếptiến hành các hoạt động khám nghiệm cụ thể theo ý kiến chỉ đạo của Điều tra viênchủ trì Tuy vậy, luật không có quy định những vấn đề liên quan đến vị trí pháp lí,quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách về kỹ thuật hình sự
1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về các chủ thể trong hoạt động khám nghiệm hiện trường
1.2.1 Tình hình áp dụng pháp luật về chủ thể tiến hành khám nghiệm hiện trường
Trong thời gian qua hoạt động KNHT được các cơ quan chức năng tiến hành, chỉđạo thực hiện nghiêm túc Từ đó hoạt động KNHT được tiến hành thuận lợi, khẩntrương, đúng quy định pháp luật, tạo cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng
9Điều 5, Điều 6 TT 81/2021/TT-BCA
10 Điều 7, TT 81/2021/TT-BCA
Trang 21giải quyết vụ án được khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nhờ làmtốt hoạt động này nên giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả, chất lượngcao Lực lượng tham gia KNHT đã cho thấy sự tỉ mỉ, thận trọng, thu thập đầy đủdấu vết có tại hiện trường Công tác quan hệ phối hợp giữa các chủ thể trong hoạtđộng KNHT được phối hợp chặt chẽ, kịp thời trong thu thập dấu vết, chứng cứnhằm phục vụ tốt nhất cho việc chứng minh tội phạm Đặc biệt là quan hệ phối hợpgiữa VKS và CQĐT trong thời gian qua Lãnh đạo hai ngành Công an và VKS chỉđạo sâu sát đối với các khâu công tác này Nhờ phối hợp nhịp nhàng nên trong thờigian qua hoạt động KNHT được lực lượng chức năng thực hiện khá thuận lợi, đạthiệu quả cao góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn
Thực tế cho thấy, nhìn chung, hoạt động KNHT của về cơ bản đã được đảmbảo Điều tra viên đã thể hiện tinh thần, trách nhiệm cao trong chủ trì KNHT, tôntrọng và tiếp thu ý kiến của các lực lượng khác cùng tham gia, luôn chủ động traođổi thông tin giữa các lực lượng, thể hiện vai trò, trách nhiệm cao từ khi bố trí lựclượng, phương tiện đến hiện trường và khi kết thúc công các khám nghiệm, đánhgiá, kết luận dựa trên các căn cứ rõ ràng, trên cơ sở khoa học, khách quan và tínhliên quan Từ đó, kết quả khám nghiệm rất có giá trị và là cơ sở cho công tác điềutra khám phá vụ án
Từ năm 2016 đến năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh PhúYên đã thụ lý 3103 vụ án các loại, trong đó có 4221 bị can, cụ thể11
Vụ CanBị Vụ CanBị Vụ CanBị Vụ CanBị Vụ CanBị Vụ
đã kịp thời thu lượm được nhiều dấu vết quan trọng, có giá trị chứng minh tội phạmhoặc xác định bản chất sự việc, góp phần định hướng cho các hoạt động điều tra tiếp
11 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên, Báo cáo tổng kết công tác điều tra, xử lý tội phạm các năm
Trang 22theo Cụ thể hơn, đối với các tội phạm về trật tự xã hội, trong 05 năm (2016-2020), lựclượng Kỹ thuật hình sự tỉnh Phú Yên tham gia KNHT 44 vụ án giết người, 100% các
vụ việc thu được các dấu vết, vật chứng như: Hung khí gây án, dấu vết máu, dấu vếtđường vân, các vụ đều thu mẫu phục vụ giám định vi thể (dấu vết truy nguyên trựctiếp), tất cả các vụ án giết người đều tìm ra được đối tượng thực hiện hành vi phạm tội;1.080 vụ trộm cắp tài sản, trên 80% các vụ việc đều thu được dấu vết đường vân phục
vụ công tác giám định (dấu vết truy nguyên trực tiếp), 100% các vụ việc đều đánh giáđược thủ đoạn, hướng đột nhập, công cụ, phương tiện phạm tội; 675 vụ cố ý gâythương tích, 100% các vụ việc đều thiết lập hồ sơ KNHT và trưng cầu giám địnhthương tích Nhìn chung, chất lượng công tác khám nghiệm, phát hiện, thu lượm dấuvết đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn so với trước đây12
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự nói chung và điều tra vụ án trên địa bàntỉnh Phú Yên nói riêng, có những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, yêu cầu của vụ ánđòi hỏi phải điều tra trong một thời gian dài, tiến hành KNHT nhiều lần với nhiều cán
bộ, người có chuyên môn nhằm thu thập chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện trong khihiện trường vụ án cũng rất khó khăn để tiếp cận Tuy nhiên, CQĐT cùng lực lượng cóliên quan đã khắc phục những khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ,
Tình huống cụ thể:
Ngày 06/4/2020, Hạt Kiểm lâm huyện Tây Hòa cùng Ủy ban nhân dân xãSơn Thành Tây, Ban Quản lí rừng phòng hộ Tây Hòa tổ chức tuần tra, kiểm tra rừngthì phát hiện tại tiểu khu 358 (xã Sơn Thành Tây quản lí) có việc mở đường khaithác gỗ trái pháp luật tại vị trí có tọa độ 555910,1423950 và tổ chức lực lượng tăngcường kiểm tra bảo vệ rừng
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên, vụ việc trên đã được các ngành chứcnăng và Hạt Kiểm lâm địa phương phối hợp KNHT Cụ thể, vào ngày 09/5/2020,Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh cùng VKSND huyện Sông Hinh, Công an huyệnSông Hinh, Ban Quản lí rừng phòng hộ Sông Hinh kiểm tra hiện trường Kết quả làtại khoảnh 2, tiểu khu 312, xã Sông Hinh (lâm phần Ban Quản lí rừng phòng hộSông Hinh) thuộc rừng phòng hộ, có khoảng 270 mét đường được mở và khoảng
430 mét đường bị sạt lở khu đất trống; tại hiện trường có 45 khúc gỗ tròn, khối lượng 34,419 m3 và 01 khúc gỗ xẻ, khối lượng 0,495 m3
Ngày 11/5/2020, Công an huyện Tây Hòa, VKSND huyện Tây Hòa, Hạt Kiểmlâm huyện Tây Hòa thực hiện KNHT Kết quả là tại khoảnh 7, khoảnh 10, tiểu khu
12 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên, Báo cáo tổng kết công tác điều tra, xử lý tội phạm các năm
Trang 23358, xã Sơn Thành Tây (thuộc địa bàn quản lí của Ủy ban nhân dân xã Sơn ThànhTây) thuộc rừng sản xuất, có khoảng 690m đường được san gạt và mở mới; có 25cây gỗ bị cắt để lại phần gốc và 08 lóng gỗ tròn, khối lượng 1,390 m3.
Ngày 12/5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên khởi tố vụ án hình
sự “Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, đồng thời xác lậpchuyên án truy xét Hơn 1 năm kể từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra, CQĐT
đã phải 5 lần tổ chức KNHT thu thập chứng cứ Mỗi lần huy động 30-70 người từ cácCQĐT, kiểm sát, kiểm lâm, tài nguyên – môi trường, chính quyền địa phương, đốitượng liên quan Ngoài ra, tổ điều tra 5 lần ngược lên hiện trường để khảo sát, kiểm tra,ghi hình, đánh giá chứng cứ, kiểm chứng lời khai của các bị can
Ngày 08/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên đã có kếtluận điều tra, đồng thời chuyển hồ sơ đề nghị VKS cùng cấp đề nghị truy tố 35 bịcan (bao gồm 25 người dân và 10 cán bộ, công chức, viên chức là Hạt trưởng, PhóHạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Phó Giám đốc Ban Quản lí rừng phòng hộ huyện TâyHòa, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành Tây cùng công chức,viên chức các tổ chức nêu trên) Trong đó có 25 bị can về bị đề nghi truy tố tội “Viphạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, 2 bị can về tội “Lợi dụngchức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, 8 bị can về tội “Thiếu trách nhiệmgây hậu quả nghiêm trọng” Ngoài ra còn có 1 đối tượng trong nhóm bị can “Viphạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” bị khởi tố thêm tội danh
“Hủy hoại rừng” Đây cũng được coi là vụ án phá rừng có tổ chức quy mô lớn nhất,hậu quả thiệt hại nghiêm trọng nhất, bị can cùng tội danh nhiều nhất, KNHT nhiềunhất của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên13
1.2.2 Những hạn chế trong áp dụng pháp luật về chủ thể tiến hành khám nghiệm hiện trường và nguyên nhân
Về cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:
Theo quy định của pháp luật, thẩm quyền trực tiếp tiến hành hoạt động KNHTkhông chỉ thuộc về CQĐT mà còn có thể được thực hiện bởi một số cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Kiểmngư, Cảnh sát biển Tuy nhiên, Điều 201 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định về
13 Phan Hữu Thế Toàn (2021), Vụ án có 5 cái nhất ở Phú Yên, https://cand.com.vn/Phong-su-tu-lieu/
vu-an-co-5-cai-nhat-o-phu-yen-i625062/
Trang 24hoạt động KNHT do Điều tra viên của CQĐT thực hiện mà không đề cập đến hoạtđộng KNHT của những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra Do đó, tuy được quy định trong quyền hạn nhưng trên thực tế, hoạt động KNHTcủa các cơ quan này rất khó khăn và không được đảm bảo thực hiện Trên thực tế,phần lớn các vụ án do các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều trakhởi tố đều do CQĐT chủ trì khám nghiệm, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra chỉ tham gia với tư cách là lực lượng phối hợp.
Sau đây, tác giả viện dẫn một số vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án, hoạt động KNHT được tiến hànhtrước khi khởi tố vụ án nhưng lại do CQĐT chủ trì khám nghiệm
Vụ thứ nhất: Vụ án Hủy hoại rừng xảy ra tại khoảnh 5, tiểu khu 67 thuộc xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, trong thời gian tháng 8/2020.
Ngày 11/8/2020 Hạt kiểm lâm huyện Đồng Xuân phối hợp Ủy ban nhân dân
xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân tiến hành kiểm tra, phát hiện 01 khoảnh đất lâmnghiệp bị phát dọn thực bì và đã lập biên bản kiểm tra
Tại Biên bản KNHT vào lúc 12h30, ngày 16/8/2020 tại khoảnh 5, tiểu khu
67, xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân Thành phần tham gia gồm:
Ông: Lê Thành Đồng, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anhuyện Đồng Xuân, chủ trì khám nghiệm;
Ông: Tống Ngọc Trung, cán bộ kỹ thuật hình sự Công an huyện Đồng Xuân;Ông: Bùi Văn Lâm, Kiểm sát viên thuộc VKSND huyện Đồng Xuân;
Ông: La Lan Huy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Mỡ, huyện ĐồngXuân; Ông: La O Nét, cán bộ lâm nghiệp xã Phú Mỡ; Ông: La O Hương: Công anviên xã Phú Mỡ là người chứng kiến;
Với sự tham dự của:
Ông: Nguyễn Duy Huy, Chuyên viên Phòng Nông ngiệp và phát triển nôngthôn, huyện Đồng Xuân; Ông: Huỳnh Anh Tuấn, Trưởng phòng tài nguyên và môntrường huyện Đồng Xuân; Ông: Lê Thành Nhiêu, Kiểm lâm viên Hạt kiểm lâmhuyện Đồng Xuân
Tiến hành lập biên bản KNHT vụ phá rừng Điều kiện về thời tiết, khí hậu,ánh sáng: Ban ngày, trời nắng, sử dụng ánh sáng tự nhiên, đủ điều kiện khámnghiệm Tình trạng hiện trường: Không còn nguyên vẹn do thời tiết
Ngày 01/02/2021, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân ký Quyếtđịnh số 03/QĐ-KTVAHS-KL khởi tố vụ án hình sự Hủy hoại rừng xảy ra tại
Trang 25khoảnh 5, tiểu khu 67 thuộc xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, trongthời gian tháng 8/2020, theo khoản 2, Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngày 05/02/2021, Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân có Công văn số HKL về việc chuyển hồ sơ vụ án hình sự về tội Hủy hoại rừng sang Cơ quan Cảnhsát điều tra Công an huyện Đồng Xuân
43/CV-Qua nghiên cứu vụ án trên cho thấy, tin báo về tội phạm Hủy hoại rừng doHạt kiểm lâm huyện Đồng Xuân thụ lí giải quyết, sau khi khởi tố vụ án Hủy hoạirừng theo khoản 2, Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 thì chuyển cho CQĐT tiếnhành điều tra theo thẩm quyền Trong khi đó, hoạt động KNHT được tiến hànhtrước khi khởi tố vụ án nhưng lại do Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều traCông an huyện Đồng Xuân chủ trì, còn Kiểm lâm viên của Hạt kiểm lâm huyệnĐồng Xuân tham gia hoạt động khám nghiệm với tư cách là người tham dự KNHT
Vụ thứ hai: Vụ án Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản xảy
ra vào tháng 06/2019 tại Khoảnh 2, Tiểu khu 308, xã Eatrol, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
Ngày 27/8/2019, Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh ra Quyết định khởi tố số 01/QĐ-KTVAHS-KL khởi tố vụ án Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâmsản xảy ra vào tháng 06/2019 tại Khoảnh 2, Tiểu khu 308, xã Eatrol, huyện SôngHinh, tỉnh Phú Yên
Theo Biên bản KNHT hồi 8 giờ 40 phút ngày 12 tháng 6 năm 2019 tạiKhoảnh 2, tiểu khu 308, xã Eatrol, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên Thành phầntham gia gồm có:
- Ông Đậu Tiến Bình, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh, chủ trì khám nghiệm;
- Ông Phạm Ánh Dương, Triệu Minh Đạt, cán bộ Đội kỹ thuật hình sự Công
an huyện Sông Hinh;
- Ông Y Dung, Kiểm sát viên thuộc VKSND huyện Sông Hinh
- Ông Huỳnh Hiếu, nhân viên Trạm quản lí bảo vệ rừng Hòn Cồ, xã Eatrol, huyện Sông Hinh là người chứng kiến
Với sự tham gia của: Ông Võ Văn Phước, Thanh tra – pháp chế Hạt kiểm lâmhuyện Sông Hinh; Ông Nguyễn Duy Thái, Chuyên viên phòng Nông nghiệp và pháttriển nông thôn huyện Sông Hinh; Ông Đặng Dương, Kiểm lâm địa bàn; Ông PhạmĐình Phúc, Phó Giám đốc Ban quản lí rừng phòng hộ Sông Hinh; Ông Y Phinh Niê,nhân viên Trạm quản lí bảo vệ rừng Hòn Cồ
Trang 26Tiến hành lập biên bản KNHT vụ Khai thác rừng trái phép Điều kiện về thờitiết, khí hậu, ánh sáng: Ngoài trời, trời nắng ráo, ánh sáng tự nhiên đủ điều kiện KNHT.Tình trạng hiện trường: Hiện trường đã bị xáo trộn do tác động của con người.
Qua nghiên cứu vụ án trên cho thấy, vụ án Vi phạm quy định về khai thác,bảo vệ rừng và lâm sản do Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh ra quyết định khởi tố vụ
án Hoạt động KNHT được tiến hành trước khi khởi tố vụ án nhưng lại do Điều traviên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh chủ trì, còn Kiểmlâm viên của Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh tham gia hoạt động khám nghiệm với
tư cách là người tham dự KNHT
Về Kiểm sát viên:
Theo quy định của pháp luật, sự tham gia của Kiểm sát viên vào hoạt độngKNHT là rất quan trọng, không chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát mà còn nhằmthực hiện chức năng công tố Kiểm sát viên không chỉ kiểm sát chặt chẽ hoạt độngkhám nghiệm của các chủ thể mà còn có thể đưa ra các yêu cầu về việc khám nghiệm,đối chiếu, kiểm tra các sơ đồ, biên bản, phối hợp cùng với Điều tra viên, Cán bộ điềutra phân tích đánh giá kết quả KNHT Do vai trò quan trọng nên pháp luật quy địnhKiểm sát viên phải có mặt từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc việc KNHT Mọi trường hợpKiểm sát viên không trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát việc KNHT, khámnghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra thì không được ký vào biên bản14
Tuy nhiên, trên thực tế, sự tham gia của Kiểm sát viên trong nhiều trườnghợp không đáp ứng được yêu cầu của pháp luật, vẫn xảy ra trường hợp kiểm sátviên đến muộn, về sớm hoặc không có mặt khi tiến hành KNHT Theo đó, sự không
có mặt Kiểm sát viên trong hoạt động KNHT là một trong những dạng vi phạm,thiếu sót của cấp sơ thẩm dẫn đến việc hủy án ở cấp phúc thẩm15 Trong Công văn
số 216/PC01-Đ1 ngày 09/4/2019 của Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công antỉnh Phú Yên về việc trích thông báo những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động điềutra tại Hội nghị rút kinh nghiệm việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra,
xử lí tội phạm năm 2016-2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cũng đề
cập đến một tồn tại trên thực tế là việc KNHT không có Kiểm sát viên tham gia
trong các tố giác, tin báo về tội phạm có hiện trường;
14 Điều 26, Quy chế hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố Ban hành
kèm theo Quyết định số 111 /QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao.
15 Nông Ngọc Hưng (2019), Một số dạng vi phạm của cấp sơ thẩm dẫn đến cấp phúc thẩm sửa, hủy bản án sơ thẩm hình sự và giải pháp khắc phục, https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/mot-so-dang-vi-pham-cua-cap- so-tham-dan-den-cap-ph-t262.html?Page=1#new-related
Trang 27VKSND không phải là lực lượng vũ trang, không trực tiếp chiến đấu nên lựclượng ứng trực tại cơ quan để xử lí công việc mang tính chuyên môn, đột xuất;thông thường chỉ phân công một Kiểm sát viên thay phiên nhau trực một đêm để xử
lí công việc đột xuất xảy ra vào ban đêm Nhưng trên địa bàn trong một đêm, cùngmột thời điểm có thể xảy ra từ 3 đến 4 hiện trường vụ việc cùng một lúc hoặc chênhlệch nhau vài giờ Từ thực trạng đó thì không đủ Kiểm sát viên tham gia hoạt độngkhám nghiệm, Kiểm sát viên thì thiếu mà hiện trường vụ việc có khi quá tải; từ đó
họ linh hoạt chọn những hiện trường nào đặc biệt nghiêm trọng đến để kiểm sát hoạtđộng khám nghiệm theo quy định pháp luật, còn những hiện trường nào ít nghiêmtrọng thì họ giao cho Điều tra viên tiến hành khám nghiệm, họ đến muộn hoặckhông đến được do điều kiện khách quan; sau đó Kiểm sát viên kiểm sát trên hồ sơkhám nghiệm và ký vào biên bản; như vậy cũng đảm bảo được tính pháp lí tronghoạt động khám nghiệm;
Về người có chuyên môn:
Tuy Điều 201 BLTTHS năm 2015 quy định sự tham gia của người có chuyênmôn là tùy nghi và không bắt buộc nhưng việc mời người chuyên môn tham dự việckhám nghiệm không thể phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của CQĐT mà phải xuấtphát từ yêu cầu thực tế của từng hiện trường vụ án Thực tế, các hoạt động tại hiệntrường như: Phát hiện, thu giữ dấu vết, vật chứng, dữ liệu điện tử, chụp ảnh hiệntrường, vẽ sơ đồ hiện trường, viết biên bản KNHT, hoàn thành báo cáo KNHT đều
do cán bộ kỹ thuật hình sự chứ không phải do Điều tra viên thực hiện theo quy địnhtại Thông tư số 81/2021/TT-BCA Sự tham gia của lực lượng kỹ thuật hình sự tronghoạt động KNHT không chỉ mang tính chất hỗ trợ cho CQĐT mà còn là vai tròkhông thể thay thế, thậm chí mang tính chất quyết định đến kết quả của quá trìnhkhám nghiệm trong nhiều trường hợp
Rõ ràng, Lực lượng kỹ thuật hình sự đóng vai trò là nhà chuyên môn giúpĐiều tra viên nghiên cứu, phát hiện, thu thập, đánh giá các dấu vết, vật chứng tạihiện trường để kịp thời khai thác các thông tin từ dấu vết, vật chứng, giúp CQĐTnhanh chóng xây dựng các giả thuyết điều tra, mô hình đối tượng hoặc cung cấp cácthông tin để truy bắt đối tượng phạm tội theo dấu vết nóng Thực tế cho thấy cán bộ
kỹ thuật hình sự không chỉ là “người có chuyên môn có thể được cơ quan tiến hành
tố tụng mời tham dự” mà thực tế đang là những người trực tiếp tiến hành các hoạtđộng phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá dấu vết, vật chứng, dữ liệuđiện tử tại hiện trường; là người trực tiếp tiến hành vẽ sơ đồ, chụp ảnh hiện trường,
Trang 28mô tả hiện trường theo quy định của pháp luật Nếu cán bộ kỹ thuật hình sự có chứcdanh là Giám định viên hoặc Kỹ thuật viên được mời giúp Điều tra viên KNHT thìvai trò tư vấn của Giám định viên, Kỹ thuật viên có thể được xem là “là người cóchuyên môn tham dự cuộc khám nghiệm”16.
Năm 2018, lực lượng Kỹ thuật hình sự đã tham gia KNHT 62.462 vụ việc cácloại Trong đó Viện khoa học hình sự tham gia 188 vụ (chiếm 0,3%), chủ yếu là cácloại hiện trường cháy, giết người, trộm cắp tài sản có tính chất đặc biệt nghiêmtrọng, phức tạp; phòng Kỹ thuật hình sự Công an các tỉnh tham gia 7.618 vụ (chiếm12,2%), chủ yếu là các vụ án mạng, trộm cắp tài sản có giá trị lớn; Kỹ thuật hình sựcấp huyện tham gia 54.656 vụ (chiếm 87,5%), chủ yếu là các vụ trộm cắp tài sản, tainạn giao thông Chất lượng hoạt động KNHT tiếp tục được nâng lên Tỷ lệ pháthiện dấu vết trong KNHT là 29,78% (tăng 1,48% so với năm 2017); tỷ lệ phát hiệndấu vết đường vân là 11,29% (tăng 0,89% so với năm 2017); tỷ lệ phát hiện dấu vếtsinh học là 35,5% (tăng 3,4% so với năm 2017)17
Theo báo cáo của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an tại Hội nghị tổng kếthoạt động Kỹ thuật hình sự năm 2019 và triển khai hoạt động năm 2020 cho thấy,năm 2019, lực lượng Kỹ thuật hình sự toàn quốc đã tham gia KNHT 83.446 vụ, việccác loại Trong đó, Viện Khoa học hình sự tham gia khám nghiệm 197 vụ, việc(chiếm 0.2%), Phòng Kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh khám nghiệm 7.771 vụ,việc (chiếm 9.0%), lực lượng Kỹ thuật hình sự cấp huyện khám nghiệm 75.478 vụ,việc (chiếm 90.8%) Việc KNHT có sự tham gia của cán bộ kỹ thuật hình sự đã giúphoạt động khám nghiệm có chất lượng hơn, đi vào chiều sâu, tỷ lệ phát hiện dấu vết,vật chứng đã từng bước được nâng lên Theo đó, kết quả khám nghiệm phát hiệndấu vết là 38.957 vụ (đạt tỷ lệ 47.0%), xác định tính chất vụ việc là 73.955 vụ việc(đạt tỷ lệ 89.0%), xác định đối tượng gây án là 14.055 vụ (đạt tỷ lệ 17.0%), truy bắtđối tượng theo dấu vết nóng là 1.867 vụ (đạt tỷ lệ 2.0%), xác định công cụ, phươngtiện gây án là 13.540 vụ (đạt tỷ lệ 16%)18 Kết quả đó đã cho thấy vai trò không thểthiếu của lực lượng kỹ thuật hình sự trong KNHT phục vụ điều tra, xử lí tội phạm,góp phần đảm bảo an ninh trật tự
Trong cuộc khảo sát do tác giả tiến hành, hầu hết những người tham gia khảosát (tất cả đều là cán bộ ngành công an hoặc cán bộ ngành kiểm sát) đều cho rằng sự
16 Hoàng Văn Trường (2021), tlđd (8), tr44.
17 Lê Danh Cường (2019), “Những nhiệm vụ cơ bản của lực lượng Kỹ thuật hình sự thời gian tới”,
Tạp chí
18 Tài liệu Hội nghị Tổng kết hoạt động Kỹ thuật hình sự năm 2019 và triển khai hoạt động năm 2020.
Trang 29tham gia của lực lượng kỹ thuật hình sự trong hoạt động KNHT là cần thiết trongmọi trường hợp (chiếm 92.5% số phiếu khảo sát, 7.5% còn lại cho rằng sự tham giacủa lực lượng kỹ thuật hình sự là cần thiết trong một số trường hợp).
Những số liệu trong các báo cáo, tổng kết cũng như kết quả khảo sát đã thể hiệnphần nào vai trò rất quan trọng của lực lượng kỹ thuật hình sự trong hình sự KNHT trênthực tế Tuy nhiên, theo pháp luật TTHS hiện hành, vị trí pháp lí, quyền hạn và tráchnhiệm của cán bộ chuyên trách về kỹ thuật hình sự chưa được xác định rõ Việc chỉ coihoạt động của Lực lượng kỹ thuật hình sự là biện pháp hỗ trợ đã ảnh hưởng đến thái độhoạt động của kỹ thuật viên Mặt khác, hiện tại chỉ có Bộ Công an ban hành Thông tưquy định lực lượng kỹ thuật hình sự tham gia vào hoạt động khám nghiệm của CQĐT
và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc Công annhân dân, còn hoạt động KNHT của một số cơ quan khác như cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ngoài Công an nhân dân thì không có quy địnhnào về việc lực lượng kỹ thuật hình sự tham gia hoạt động khám nghiệm, điều này ảnhhưởng đến chất lượng hoạt động khám nghiệm, bởi lẽ lực lượng kỹ thuật hình sự là lựclượng được đào tạo bài bản, có trang bị đầy đủ các dụng cụ, máy móc, trang thiết bị kỹthuật để phục vụ hiệu quả cho hoạt động khám nghiệm
Sau đây tác giả dẫn chứng cụ thể về sự tham gia của lực lượng kỹ thuật hình
sự trong hoạt động KNHT của CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra:
- Theo Biên bản KNHT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú
Hòa, tỉnh Phú Yên19 thể hiện như sau: Hồi 23 giờ 15 phút ngày 16 tháng 01 năm
2021, tại thôn Phú Lộc, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên Thành phầntham gia gồm có:
+ Ông Lê Văn Sum, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Hòa;
+ Ông: Lê Đinh Ngọc Trí, cán bộ kỹ thuật hình sự Công an huyện Phú Hòa (người viết biên bản khám nghiệm);
+ Ông: Phan Đình Dương, Kiểm sát viên thuộc VKSND huyện Phú Hòa;+ Ông: Trần Kim Toàn, Trưởng Công an xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, là người chứng kiến;
+ Với sự tham dự của ông Nguyễn Hữu Dũng, sinh năm 1972, trú thôn Vĩnh Phú, xã Hòa An, huyện Phú Hòa
19 Biên bản KNHT ngày 16 tháng 01 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Hòa.
Trang 30Tiến hành KNHT vụ Cố ý gây thương tích, trong điều kiện ban đêm, sử dụngánh sáng đèn điện và đèn pin Tình trạng hiện trường khi lực lượng có mặt: Hiệntrường đã bị xáo trộn Dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: Không.
- Theo Biên bản KNHT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông
Hinh, tỉnh Phú Yên20 thể hiện như sau: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 19 tháng 11 năm
2019, tại khoảnh 3 tiểu khu 318 thuộc xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh PhúYên Thành phần tham gia gồm có:
+ Ông Phạm Duy Khải, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện Sông Hinh, chủ trì khám nghiệm;
+ Ông: Triệu Minh Đạt, cán bộ kỹ thuật hình sự Công an huyện Sông Hinh (người viết biên bản khám nghiệm);
+ Ông: Hà Trọng Hiếu, Kiểm sát viên thuộc VKSND huyện Sông Hinh;+ Ông: Ka Siu Hiệp, sinh năm 1990, trú thôn Hà Roi, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh là người chứng kiến;
+ Với sự tham dự của ông Nguyễn Văn Bảy, kiểm lâm địa bàn; Nguyễn Mạnh Thành, Kiểm lâm viên huyện Sông Hinh
Tiến hành KNHT vụ Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản,trong điều kiện ngoài trời, ánh sáng tự nhiên Tình trạng hiện trường khi lực lượng
có mặt: Hiện trường đã bị xáo trộn do yếu tố môi trường tự nhiên Dấu vết, tài liệu
và mẫu vật thu được: Không
Từ các ví dụ trên có thể thấy, những thành phần khác trong biên bản KNHTđều có địa vị pháp lí (Điều tra viên, Kiểm sát viên, người chứng kiến, người làmchứng), tuy nhiên lực lượng kỹ thuật hình sự thì chưa có, có thể xem lực lượng kỹthuật hình sự tham gia với tư cách là “Người có chuyên môn”
1.3 Các biện pháp đối với chủ thể khám nghiệm hiện trường
1.3.1 Biện pháp hoàn thiện và hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với chủ thể khám nghiệm hiện trường
So với Điều 150 BLTTHS năm 2003, Điều 201 BLTTHS năm 2015 đã quyđịnh một cách cụ thể hơn về hoạt động KNHT, tạo cơ sở pháp lí vững chắc để cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động này trên thực tế Tuynhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế trong quy định của pháp luật liên quan đến chủ thểcủa hoạt động KNHT cần hoàn thiện hơn:
- Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:
20 Biên bản KNHT ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh.
Trang 31Thứ nhất, như đã trình bày, có sự mâu thuẫn trong quy định của BLTTHS năm
2015 và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 về thẩm quyền KNHT củamột số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo Điều 39BLTTHS năm 2015, chỉ trong trường hợp tiến hành TTHS đối với tội phạm ít nghiêmtrọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lí lịch người phạm tội rõ ràng,những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biênphòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư có quyền trực tiếp tổ chức và chỉđạo việc KNHT Còn trong trường hợp tiến hành tố tụng đối vói tội phạm nghiêmtrọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưngphức tạp thì những chủ thể nói trên không có quyền tổ chức hoạt động KNHT (Khoản 3Điều 39 BLTTHS năm 2015) Quy định này không thống nhất với Luật Tổ chức CQĐThình sự khi Luật này cho phép người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra của các cơ quan đã nêu có thẩm quyền tiến hành KNHT đối với mọi loại tộiphạm trong phạm vi thẩm quyền khởi tố của mình (Điều 32, 34, 35, 36 Luật Tổ chứcCQĐT hình sự 2015) Quy định tại Điều 39 BLTTHS năm 2015 không chỉ khôngthống nhất với Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015 mà còn không thống nhất với Điều
164 BLTTHS năm 2015 về Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Bộ đội biênphòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm Ngư như đã phân tích trong Mục 1.2
Theo quan điểm của tác giả, việc cho phép các cơ quan đã nêu có thẩm quyềnKNHT ngay cả khi vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọnghay ít nghiêm trọng nhưng phức tạp là cần thiết, bởi đây là một trong những biệnpháp điều tra được tiến hành trước khi khởi tố vụ án, đòi hỏi phải được tiến hànhnhanh chóng, kịp thời do tính chất của hiện trường là dễ bị thay đổi
Do đó, tác giả kiến nghị sửa khoản 3 Điều 39 BLTTHS năm 2015 theo hướngthống nhất với quy định của Luật Tổ chức CQĐT hình sự cũng như Điều 164BLTTHS năm 2015 Cụ thể, sửa đổi khoản 3 Điều 39 BLTTHS năm 2015 như sau:
“3 Khi tiến hành TTHS đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp, những người được quy định tại các điểm a, b, c d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn: […]
Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc KNHT;
…”
Thứ hai, tuy Điều 39, 40 và Điều 164 BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền tổ chức và chỉ đạo KNHT cho các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
Trang 32số hoạt động điều tra nhưng Điều 201 BLTTHS năm 2015 chỉ điều chỉnh hoạt độngKNHT của Điều tra viên thuộc CQĐT Trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra không có chức danh Điều tra viên nên không thể ápdụng Điều 201 để tiến hành hoạt động KNHT.
Trong khi đó, tác giả nhận thấy việc đảm bảo thẩm quyền KNHT của các cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cần thiết bởi như đãtrình bày, đây là một biện pháp điều tra ban đầu quan trọng, đòi hỏi phải được tiếnhành một cách nhanh chóng, kịp thời, không chậm trễ Việc không tiến hành ngaybiện pháp KNHT có thể dẫn đến việc làm mất dấu vết những thông tin, tình tiếtquan trọng của vụ án Do đó, cần bổ sung quy định cụ thể hướng dẫn hoạt độngKNHT của các chủ thể thuộc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra, từ đó nhằm thống nhất hơn các quy định của pháp luật cũng như đểthẩm quyền KNHT của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra có thể thực hiện dễ dàng hơn trên thực tế
Cụ thể, kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 201 BLTTHS năm 2015 như sau:
““1 Điều tra viên, cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp
hành một số hoạt động điều tra chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm và phối hợp với lực lượng kỹ thuật hình sự cùng cấp để phát hiện
dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án”.
- Người có chuyên môn:
Sự tham gia của người có chuyên môn vào hoạt động KNHT là rất quantrọng, cần thiết và phổ biến trên thực tế Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn
đề này còn khá chung chung và thiếu sót nhiều nội dung cụ thể như đã phân tích.Cùng với đó, việc chưa xác định rõ vị trí pháp lí, quyền hạn và trách nhiệm của cán
bộ chuyên trách về kỹ thuật hình sự cũng có ảnh hưởng rất lớn thái độ của các chủthể này, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động KNHT
Do đó, tác giả nhận thấy cần thiết phải xác định địa vị pháp lí của lực lượng
kỹ thuật hình sự trong BLTTHS Việc ghi nhận tư cách tố tụng cũng như vị trí, chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng kỹ thuật hình sự là cơ sở pháp lí, đồngthời đề cao trách nhiệm của chủ thể này trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.Quan điểm nên công nhận tư cách tố tụng của kỹ thuật viên hình sự cũng đạt đượcnhiều sự đồng tình của những người tham gia cuộc khảo sát do tác giả tiến hành.Theo đó, 84.9% số người được khảo sát cho rằng nên công nhận tư cách tố tụng của
Trang 33cán bộ kỹ thuật hình sự21 Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần có quy định điều chỉnh
cụ thể hơn về chủ thể là người có chuyên môn khi tham gia vào hoạt động KNHT.Những vấn đề này khó có thể được quy định cụ thể trong BLTTHS nên cần thiết cóvăn bản hướng dẫn riêng
Vì những lý do trên, tác giả kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn thi hành quyđịnh chi tiết, cụ thể về việc xác định thế nào người có chuyên môn, vị trí, chứcnăng, nhiệm vụ, vai trò, các hoạt động cụ thể, quyền hạn và trách nhiệm của người
có chuyên môn trong hoạt động KNHT
1.3.2 Các biện pháp khác liên quan đến các chủ thể khám nghiệm hiện trường Bên
cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, nhằm hướng tới việc bảo đảm hơn
nữa hiệu quả của hoạt động KNHT, không thể bỏ qua các biện pháp hướngtới phát triển đội ngũ các lực lượng liên quan, đồng thời nâng cao nhận thức, nănglực, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ của những người có thẩm quyền tiến hành tốtụng trong hoạt động KNHT vụ án hình sự Hiện nay, hệ thống tổ chức, số lượngcác cán bộ làm công tác KNHT vẫn còn chưa đầy đủ, thiếu số lượng và trình độchuyên môn còn hạn chế, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả KNHT Chính vì vậy, cầnphải kiện toàn tổ chức, bổ sung, đào tạo kịp thời nhằm tăng cường đội ngũ cán bộcho lực lượng KNHT là hết sức cần thiết Để công tác KNHT đạt hiệu quả cao thìđòi hỏi phải đảm bảo đủ số lượng và chất lượng cán bộ làm công tác KNHT Bêncạnh đó, kết quả của công tác KNHT cũng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, khảnăng tư duy của cán bộ điều tra, cán bộ khám nghiệm Điều này khiến cho việc nângcao năng lực của các cán bộ điều tra và cán bộ kỹ thuật hình sự là hết sức cần thiết
Do đó, để làm tốt công tác KNHT, cần phối hợp cả việc đào tạo cán bộ mớivới nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ hiện đang công tác Một số biện pháp cóthể kể đến như:
- Có kế hoạch thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn vềcông tác KNHT cho đội ngũ kỹ thuật viên hiện đang công tác Điều này là thực sựcần thiết do sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ và thủ đoạn phạm tội cũngngày càng tinh vi hơn Trong khi lực lượng kỹ thuật viên hình sự hiện nay ở các cấpquận, huyện, thị còn yếu, việc nâng cao nghiệp vụ là cần thiết
- Cần tiến hành kiểm tra chuyên môn để từ đó có phương hướng bồi dưỡng vàhướng dẫn cho lực lượng làm công tác KNHT Bên cạnh đó, lực lượng này cần thườngxuyên tổ chức rút kinh nghiệm, thảo luận về KNHT các vụ điển hình Việc trao đổi ý
21 Xem Phụ lục.
Trang 34kiến với lực lượng trực tiếp tham gia khám nghiệm sẽ là những kinh nghiệm tốt cho tất cả các kỹ thuật viên bởi hiện trường là không giống nhau đối với từng vụ việc.
- Những cán bộ bị điều chuyển làm những công việc không đúng chuyênmôn cần được chuyển về đúng vị trí công tác của họ, bảo đảm những người làmcông tác kỹ thuật hình sự thực sự là những chuyên gia sâu, được đào tạo bài bản vềlĩnh vực này
- Điều tra viên cần không ngừng chủ động tự mình hoàn thiện nâng cao trình
độ chuyên môn kỹ năng thực hành khám nghiệm, từ đó tự tin, chủ động để có thểlàm tốt công việc của mình trong chủ trì KNHT Các Điều tra viên cần có kỹ thuậtsâu rộng về chiến thuật điều tra và kỹ thuật hình sự trong quá trình KNHT, phâncông, tổ chức các lực lượng tiến hành, tham gia khám nghiệm một cách hợp lý, phùhợp với điều kiện của hiện trường và nội dung của sự việc xảy ra, là trung tâm tạomối quan hệ giữa các lực lượng trong quá trình KNHT
- Kiểm sát viên cần nhận thức đúng và đầy đủ về địa vị pháp lý cũng nhưnhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của mình trước, trong và sau khi KNHT, nhậnthức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạntrong việc kiểm sát việc KNHT trong quá trình thực hiện quyền công tố và kiểm sátđiều tra các vụ án hình sự Do đó, đội ngũ Kiểm sát viên cần nâng cao nhận thức,trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi kiến thức, khiêm tốn, cầu thị luôn có tinhthần trách nhiệm cao trong công việc, tâm huyết nghề và có đạo đức nghề nghiệpcao để thực hiện tốt công tác kiểm sát KNHT
- Nhằm chủ động và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà chuyên môn trong hoạtđộng khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra nên chủ động rà soát lên danhsách những người có đủ điều kiện là nhà chuyên môn đối với các loại hiện trườngmang tính phổ biến, thường xảy ra và liên hệ trước với những chủ thể này về việcnhận lời cộng tác với Cơ quan điều tra Khi loại hiện trường đã được dự kiến xuấthiện Cơ quan điều tra có thể nhanh chóng liên hệ, đáp ứng được tính cấp bách trongcông tác điều tra hình sự
- Đồng thời, cần nâng cao hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan, chủ thể cóliên quan trong KNHT Ba chủ thể chính trong hoạt động KNHT là VKS, CQĐT vàlực lượng kỹ thuật hình sự cần có sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ, thống nhất vớinhau để hoạt động khám nghiệm đạt được kết quả cao Lãnh đạo các đơn vị cần cónhững biện pháp quán triệt, chỉ đạo phù hợp để tăng cường sự trao đổi, phối hợpgiữa những chủ thể có thẩm quyền trong quá trình KNHT