NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính
1.1.1 Khái niệm hợp đồng cho vay tiêu dùng
Từ khi Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập vào năm 1951, mô hình ngân hàng "một cấp" đã chi phối giai đoạn kinh tế tập trung, trong đó quan hệ cho vay chủ yếu bị quản lý bởi mệnh lệnh hành chính, dẫn đến việc hạn chế các khoản cho vay cá nhân Nguồn vốn tín dụng lúc bấy giờ chỉ được sử dụng cho các mục đích cụ thể như sửa chữa nhà ở hoặc phát triển kinh tế hộ gia đình với lãi suất thấp, trong khi thuật ngữ “cho vay tiêu dùng” gần như không được đề cập trong pháp luật Hiện nay, theo quy định pháp luật Việt Nam, cho vay được xem là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, trong đó bên cho vay sẽ chuyển giao một khoản vốn cho bên đi vay để phục vụ cho các mục đích kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận.
Khái niệm cho vay tiêu dùng (CVTD) hiện chưa có định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật Việc vay vốn, bao gồm cả vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng, được quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017, cùng với Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay.
2Điều 9 Quyết định số 49-QĐ ngày 16/10/1969 của Ngân hàng Nhà nước về thể lệ cho vay ngắn hạn đối với các công ty vật tư nông nghiệp
3Quyết định số 223 – QĐ/017 ngày 18/5/1962 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành biện pháp tạm thời cho vay sửa chữa nhà ở của nhân dân tự quản lý
4Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Khoản 4 và 5 Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 do Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định rõ ràng về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Thông tư này nhằm đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong hoạt động tín dụng, đồng thời bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong quá trình vay vốn.
TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, liên quan đến khách hàng và thuật ngữ "mục đích tiêu dùng" được nhắc đến trong các văn bản pháp lý, nhưng Luật chưa định nghĩa rõ ràng về CVTD Theo công văn số 2956/NHNN-CSTT ngày 14/04/2011 của Ngân hàng Nhà nước, CVTD được đề cập trong bối cảnh cho vay phi sản xuất, cụ thể là cho vay phục vụ nhu cầu vốn cho đời sống và cho vay qua thẻ tín dụng.
Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước, được sửa đổi bởi Thông tư số 18/2019/TT-NHNN, đã định nghĩa cụ thể về cho vay tiêu dùng (CVTD) trong công ty tài chính (CTTC), khác với khái niệm CVTD chung Để hiểu rõ hơn về bản chất và các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng cho vay tiêu dùng (HĐCVTD), cần thiết phải có một định nghĩa cụ thể về CVTD Theo tác giả, CVTD có thể được hiểu là một hình thức cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
TCTD, theo đó, TCTD sẽ cho khách hàng là cá nhân vay để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó”.
Mục đích tiêu dùng không được quy định cụ thể, mà cần được hiểu gián tiếp bằng cách loại trừ các hoạt động kinh doanh theo Luật Thương mại năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 Hoạt động tiêu dùng phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cá nhân mà không nhằm mục đích lợi nhuận Điểm khác biệt giữa cho vay tiêu dùng và cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh là chủ thể vay tiêu dùng phải là cá nhân, với mục đích chi tiêu hàng ngày Theo Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc cho vay của tổ chức tín dụng đối với cá nhân để thanh toán chi phí sinh hoạt Ngược lại, vay vốn cho sản xuất kinh doanh có thể áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân, miễn là đáp ứng điều kiện vay vốn Việc quy định chỉ cá nhân có thể vay tiêu dùng là hợp lý, vì pháp nhân không có nhu cầu chi tiêu sinh hoạt hàng ngày.
Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng việc huy động vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) từ hoạt động cho vay có những hạn chế so với hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh.
Vay tiêu dùng tại CTTC không yêu cầu tài sản đảm bảo, điều này được xác nhận bởi Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, trong đó không đề cập đến việc cần có tài sản bảo đảm cho khoản vay tiêu dùng Mặc dù không có quy định cụ thể về tài sản bảo đảm trong hợp đồng, nhưng lãi suất vay tiêu dùng tại CTTC cao hơn mức lãi suất chung trên thị trường, do Ngân hàng Nhà nước quy định Hạn mức vay tiêu dùng tại CTTC cũng không vượt quá 100.000.000 đồng, theo quy định tại Thông tư này Sự khác biệt này có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Khoản vay không yêu cầu tài sản bảo đảm giúp giảm bớt áp lực cho bên vay Các biện pháp bảo đảm tiền vay được áp dụng nhằm bảo vệ nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng Khi bên vay không thể thanh toán, tổ chức tín dụng sẽ phải đối mặt với rủi ro toàn bộ vốn và lãi Để giảm thiểu rủi ro này, hạn mức cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính tín dụng được quy định trong giới hạn luật pháp.
Pháp luật ở nhiều quốc gia đã định nghĩa rõ ràng về hợp đồng vay tiêu dùng (HĐCVTD) Tại bang California, Bộ luật dân sự 2010 quy định HĐCVTD là hợp đồng vay trả chậm do cá nhân vay để chi tiêu gia đình, bao gồm các khoản mua sắm trả góp và vay tiền không cần tài sản đảm bảo Trong khi đó, Đạo luật tín dụng tiêu dùng 1974 tại Vương quốc Anh định nghĩa HĐCVTD là thỏa thuận giữa con nợ và chủ nợ, cho phép con nợ vay một số tiền nhất định, không chỉ giới hạn trong các quan hệ cho vay tiêu dùng mà còn mở rộng ra nhiều hình thức khác.
So sánh lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng là một yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm vay phù hợp Lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân thường dao động giữa các ngân hàng, ảnh hưởng đến chi phí vay và khả năng trả nợ Để tìm hiểu chi tiết, bạn có thể tham khảo thêm thông tin tại [thebank.vn](https://thebank.vn/vay-tin-chap/hinh-thuc-vay/vay-tieu-dung-ca-nhan-2.html).
8Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nguyễn Văn Vân (chủ biên), Nxb Hồng Đức, tr 331
9Civil code 210 title 1.85 Consumer credit contracts, https://law.justia.com/codes/california/2010/civ/ 1799.90-1799.104.html, truy cập lần cuối ngày 07/06/2021.
Đạo luật về hợp đồng tín dụng và tài chính tiêu dùng tại New Zealand năm 2003 không định nghĩa trực tiếp về hợp đồng tín dụng, nhưng quy định rằng bên đi vay phải là cá nhân có nhu cầu vay vốn hoàn toàn vì mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc gia đình Điểm chung của các khái niệm này là công nhận rằng chủ thể của hợp đồng tín dụng tiêu dùng là cá nhân và mục đích sử dụng khoản vay là để tiêu dùng.
Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa định nghĩa rõ ràng về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (HĐCVTD) Bài viết này sẽ tham khảo các định nghĩa từ một số quốc gia khác để làm rõ khái niệm hợp đồng và CVTD, từ đó cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về HĐCVTD Cuối cùng, tác giả sẽ đưa ra một định nghĩa tổng quát về HĐCVTD trong lĩnh vực chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam.
Theo từ điển luật học, hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng vay tiêu dùng (HĐCVTD) là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó TCTD cho cá nhân vay để chi trả cho các chi phí tiêu dùng và sinh hoạt Để thiết lập quan hệ cho vay tiêu dùng, các bên phải ký kết HĐCVTD theo quy định pháp luật HĐCVTD là một loại hợp đồng cho vay tài sản, thể hiện sự tự nguyện tham gia của các bên và là cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ đã được xác lập Việc ký kết HĐCVTD bằng văn bản là sự xác nhận chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa các bên, đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp khi phát sinh Tại công ty tài chính (CTTC), bên cho vay là CTTC và bên đi vay là cá nhân.
Hợp đồng cho vay tiêu dùng (HĐCVTD) là thỏa thuận bằng văn bản giữa công ty tài chính (bên cho vay) và cá nhân (bên đi vay) theo hình thức tín chấp Hợp đồng này xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cho vay nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân, với thời hạn cụ thể và nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Chủ thể của hợp đồng cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính
Bên cho vay trong hợp đồng cho vay tiêu dùng tín dụng (HĐCVTD) bao gồm công ty tài chính tổng hợp và công ty tài chính tín dụng tiêu dùng Theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 3 của Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, ban hành ngày 07 tháng 5 năm 2014, về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 16/2019/NĐ-CP.
CP ngày 01 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ thì:
(i) CTTC tổng hợp là CTTC được thực hiện các hoạt động quy định tại Luật Các TCTD và Nghị định này;
(ii) CTTC tín dụng tiêu dùng là CTTC chuyên ngành, hoạt động chính trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng theo quy định của Nghị định này.
Các CTTC là một loại TCTD và để tham gia vào QHCVTD với vai trò là chủ thể cho vay, các tổ chức này cần đáp ứng các điều kiện nhất định để được cấp giấy phép hoạt động.
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;
- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà Nước chuẩn y;
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp;
- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết HĐCVTD với khách hàng.
21 Điều 2 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN
Để CTTC được phép hoạt động kinh doanh, cần đáp ứng các điều kiện nhất định, từ đó xác định tư cách pháp lý trong việc ký kết HĐCVTD CTTC có tiêu chuẩn và năng lực kinh doanh tốt sẽ gia tăng niềm tin cho khách hàng vay, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư, giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế và thị trường tín dụng Những điều kiện này cũng là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định và đánh giá hiệu lực pháp lý của HĐCVTD một cách khách quan.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên đi vay trong HĐCVTD tại CTTC phải là cá nhân và phải thoả mãn các điều kiện sau:
Để ký kết hợp đồng vay tín dụng tại công ty tài chính, bên vay cần có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Cụ thể, cá nhân vay phải từ 18 tuổi trở lên hoặc từ 15 đến dưới 18 tuổi mà không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi Đối với cá nhân nước ngoài, cần có năng lực pháp luật và hành vi theo quy định của quốc gia mà họ là công dân, với điều kiện được công nhận bởi Bộ luật Dân sự Việt Nam Khi tiếp nhận hồ sơ vay, công ty tài chính phải kiểm tra và xác minh khả năng hành vi dân sự của khách hàng dựa trên các giấy tờ, tài liệu cá nhân mà khách hàng cung cấp.
Việc vay vốn cần phải phục vụ cho mục đích tiêu dùng hợp pháp, đây là điều kiện bắt buộc đối với tất cả các đối tượng có nhu cầu vay vốn từ tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là công ty tài chính (CTTC) Điều kiện này phải được nêu rõ trong hợp đồng cho vay tín dụng (HĐCVTD) như một điều khoản chính.
Bên vay cần đảm bảo khả năng tài chính để trả nợ đúng hạn Cho vay tiêu dùng (CVTD) là một phương thức phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho các công ty tài chính tín dụng (CTTC), do các CTTC không được phép huy động vốn theo hình thức khác.
Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ban hành ngày 30/12/2016 bởi Ngân hàng Nhà nước, quy định rõ về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Thông tư này nhằm đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong các giao dịch cho vay, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người vay.
Hoạt động cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính (CTTC) ở TP Hồ Chí Minh đang ngày càng trở nên phổ biến, nhưng đi kèm với lợi nhuận cao là những rủi ro lớn Các tranh chấp giữa CTTC và bên vay do vi phạm nghĩa vụ thanh toán không phải là hiếm, góp phần làm gia tăng nợ xấu trong ngành ngân hàng Do đó, pháp luật đang siết chặt quy định đối với hoạt động cho vay tiêu dùng Đặc biệt, các CTTC cần thẩm định khả năng hoàn trả của khách hàng thông qua việc kiểm tra lịch sử tín dụng, yêu cầu khách hàng phải có lịch sử tín dụng tốt và không có nợ xấu khi nộp hồ sơ vay.
Ngoài các điều kiện chung theo quy định của pháp luật áp dụng cho tất cả khách hàng vay vốn của CTTC, còn tồn tại những điều kiện riêng do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tín dụng (HĐCVTD) Bên vay chỉ cần đáp ứng các điều kiện riêng này khi chúng được nêu rõ trong HĐCVTD như là yêu cầu để ký kết hợp đồng.
Quyền, nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng cho vay tiêu dùng
Quyền và nghĩa vụ pháp lý là hành vi được pháp luật cho phép hoặc yêu cầu các bên trong hợp đồng thực hiện, phát sinh từ quy định của luật hoặc thỏa thuận giữa các bên Quyền lợi của một bên luôn đi kèm với nghĩa vụ của bên kia, và các thỏa thuận này phải tuân thủ nguyên tắc không vi phạm quy định của pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch dân sự.
- Về quyền và nghĩa vụ của bên cho vay – CTTC:
Bên cho vay có quyền yêu cầu bên đi vay cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác nhằm đảm bảo tính trung thực của các tài liệu và chứng từ ngay từ giai đoạn xét duyệt cho vay Quyền này được công nhận là quyền tín dụng cơ bản và đã được luật hóa Dựa trên các thông tin này, bên cho vay có thể đánh giá năng lực của bên đi vay, từ đó đưa ra quyết định cho vay hợp lý Thông tin tín dụng chỉ được sử dụng cho các mục đích liên quan đến hợp đồng vay.
Rủi ro nợ xấu từ cho vay tiêu dùng đang gia tăng, đặc biệt khi bên cho vay đưa ra các điều khoản không liên quan đến hợp đồng Người vay có quyền từ chối và không thực hiện các điều khoản này, điều này có thể dẫn đến những hệ lụy tài chính nghiêm trọng Việc hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng cho vay tiêu dùng là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro nợ xấu.
CTTC có quyền yêu cầu bên đi vay hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn, nhằm đảm bảo việc “xoay vòng” vốn vay Thời hạn trả nợ được ấn định để xác định thời điểm hoàn thành hoặc vi phạm hợp đồng cho vay Quyền này chỉ được thực hiện khi bên cho vay đã thực hiện giải ngân và được bảo đảm bởi các quy định của nhà nước, cho phép CTTC chấm dứt cho vay hoặc chuyển nợ quá hạn nếu bên đi vay vi phạm.
Quyền gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là quyền do bên cho vay chủ động thực hiện, dựa vào tình hình tài chính của họ và khả năng trả nợ của bên đi vay sau khi gia hạn.
CTTC có quyền chấm dứt cho vay và thu hồi vốn vay nếu bên vay vi phạm các nghĩa vụ hợp đồng Quyền này chỉ phát sinh sau khi CTTC đã thực hiện giải ngân Khi tạm dừng cho vay, CTTC sẽ áp dụng các biện pháp yêu cầu bên vay khắc phục trong thời gian nhất định Nếu bên vay chậm trả lãi, CTTC có thể áp dụng mức phạt vi phạm theo thỏa thuận và quy định pháp luật Trong trường hợp bên vay tiếp tục vi phạm, CTTC có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng cho vay.
Nghĩa vụ cho vay đúng đối tượng là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả hợp đồng và giảm thiểu rủi ro Đối tượng vay cần phải là những cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, không vi phạm các quy định cấm hoặc hạn chế cho vay Họ phải có nhu cầu sử dụng vốn vay hợp pháp, cụ thể là cho mục đích tiêu dùng, và có khả năng hoàn trả nợ gốc cũng như lãi suất.
+ Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của bên đi vay:
Hoạt động kiểm tra và giám sát là rất quan trọng trong quá trình cho vay, nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hoạt động cho vay tiêu dùng Các tổ chức tín dụng cần áp dụng biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát từ khi tiếp nhận hồ sơ vay cho đến khi hoàn tất quy trình cho vay.
25 Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thu hồi hết nợ thông qua hoạt động thẩm định các điều kiện giải ngân và mục đích sử dụng vốn vay.
CTTC có nghĩa vụ chấp hành quy định về giải ngân và không được tự ý chấm dứt cho vay nếu bên đi vay không vi phạm hợp đồng Với chức năng “đi vay để cho vay”, CTTC cần chuẩn bị nguồn tiền vay và dự phòng tín dụng hợp lý để duy trì hoạt động Việc từ chối giải ngân do thiếu tiền là vi phạm nghĩa vụ, dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015.
CTTC đương nhiên phải bồi thường thiệt hại 26 cho dù các bên có thỏa thuận biện pháp chế tài trong hợp đồng hay không.
Bên đi vay có quyền yêu cầu bên cho vay cung cấp thông tin liên quan đến khoản vay và chính sách lãi suất Nghĩa vụ này đảm bảo sự minh bạch trong giao dịch, giúp bên đi vay nắm rõ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng vay Việc cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời từ bên cho vay là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bên đi vay.
CTTC 27 Nghĩa vụ cung cấp thông tin của CTTC có ý nghĩa quan trọng giúp cho bên đi vay xác định kế hoạch trả nợ, kịp thời phát hiện những sai phạm để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện Thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ này chính là củng cố cho sự minh bạch tín dụng, hạn chế tình trạng thu phí tràn lan, tính lãi suất không đúng quy định, nâng cao niềm tin khách hàng.
- Về quyền và nghĩa vụ của bên đi vay – cá nhân:
Theo tác giả, quyền và nghĩa vụ của bên đi vay được phân chia thành hai nhóm dựa trên cơ sở phát sinh: nhóm quyền và nghĩa vụ phát sinh từ pháp luật, và nhóm quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Nhóm thứ nhất: Các quyền và nghĩa vụ của bên đi vay theo pháp luật.
Quyền được tiếp cận vốn tín dụng là quyền cơ bản của cá nhân, cho phép họ tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng (TCTD) một cách minh bạch và công bằng Phạm vi quyền này khác nhau tùy thuộc vào năng lực tổ chức và thực hiện của từng quốc gia và từng công ty tài chính Trong hợp đồng tín dụng tại các công ty tài chính, quyền này được thể hiện qua việc tiếp cận công bằng với chính sách lãi suất cho vay của nhà nước và các TCTD, cũng như quyền vay vốn dành cho người nghèo và những cá nhân có thu nhập thấp.
26 Khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự 2015
27 Điều 16 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN
Bên đi vay có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện khi bên cho vay vi phạm hợp đồng cho vay tiêu dùng Nếu khiếu nại không được giải quyết thỏa đáng, bên vay có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước can thiệp hoặc khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền Các lý do khiếu nại thường gặp bao gồm từ chối cho vay không có căn cứ, yêu cầu giải ngân theo hợp đồng, và tính lãi suất hoặc phí tín dụng không chính xác Các công ty tài chính, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tố tụng có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại này Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc cá nhân khởi kiện công ty tài chính vì những vi phạm nêu trên là rất hiếm.
Nghĩa vụ sử dụng tiền vay đúng mục đích và hiệu quả được quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN nhằm nâng cao khả năng hoàn trả nợ của bên vay Tuy nhiên, thực tế cho thấy các công ty tài chính (CTTC) gặp khó khăn trong việc kiểm soát việc sử dụng vốn vay của cá nhân Do vay tiêu dùng thường xuất phát từ nhu cầu cá nhân, bên vay không cần cung cấp kế hoạch sử dụng vốn cho CTTC Mặc dù pháp luật yêu cầu việc sử dụng tiền vay đúng mục đích, CTTC có quyền áp dụng biện pháp chấm dứt cho vay và thu hồi vốn nếu vi phạm, nhưng việc kiểm soát thực tế vẫn là một thách thức lớn.
Nhóm thứ hai: Quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Nội dung của hợp đồng cho vay tiêu dùng
Khoa học pháp lý phân chia các điều khoản trong hợp đồng thành ba loại: điều khoản chủ yếu, điều khoản thông thường và điều khoản tuỳ nghi Hợp đồng cho vay tiêu dùng (HĐCVTD) là một dạng hợp đồng dân sự, bao gồm quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, được chia thành điều khoản chủ yếu và điều khoản thông thường Do HĐCVTD thường được soạn thảo dưới dạng văn bản mẫu bởi các công ty tài chính, nên không có điều khoản tuỳ nghi Ngoài HĐCVTD, các công ty tài chính còn căn cứ vào khoản 1 Điều 406 Bộ luật dân sự năm 2015 để ban hành các điều khoản về điều kiện vay, tạo thành một phần không tách rời của hợp đồng Luận văn này sẽ nghiên cứu các vấn đề cốt lõi và đặc trưng cơ bản của HĐCVTD theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, nhấn mạnh những điểm mới và khác biệt của loại hợp đồng này so với các loại hợp đồng dân sự khác.
Thứ nhất, điều khoản về điều kiện vay vốn Như đã phân tích ở mục 1.2 của
Để vay vốn, bên vay cần đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định pháp luật và khả năng trả nợ sau khi nhận tiền Năng lực chủ thể là điều kiện tiên quyết cho mọi hợp đồng Về khả năng trả nợ, luật chỉ đưa ra tiêu chí chung, dựa vào thẩm định của Công ty Tài chính (CTTC) CTTC phải xác định xem bên vay có đủ tiêu chuẩn vay vốn theo Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN hay không trước khi quyết định cho vay.
Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản giáo trình "Hợp đồng và Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" do Đỗ Văn Đại làm chủ biên, được phát hành bởi NXB Hồng Đức, trang 142.
Theo Khoản 1 Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, các công ty tài chính (CTTC) sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ kết hợp với thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam và các kênh thông tin khác để thẩm định khả năng trả nợ của bên vay Pháp luật không siết chặt các tiêu chí đánh giá khả năng trả nợ nhằm đảm bảo CTTC có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định cho vay Việc thẩm định dựa vào tài liệu mà bên vay cung cấp, và nếu bên vay đáp ứng được các yêu cầu, khoản vay có thể được xét duyệt nhanh chóng Hiện nay, CTTC cho phép bên vay chứng minh khả năng trả nợ qua nhiều hình thức như sao kê bảng lương, hóa đơn tiền điện, giấy đăng ký xe máy, và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Điều khoản về điều kiện vay vốn trong hợp đồng cho vay tiêu dùng (HĐCVTD) tại công ty tài chính (CTTC) có nội dung đơn giản hơn so với HĐCVTD tại ngân hàng thương mại (NHTM) Bên vay tại NHTM phải kê khai chi tiết nguồn thu nhập hàng tháng, số tài khoản lương, và tình hình kinh doanh nếu có, cùng thông tin về tài sản đảm bảo Trong khi đó, HĐCVTD tại CTTC quy định thông tin năng lực tài chính và nhân thân trong một mục gọi là “Thông tin người đề nghị”, bao gồm thông tin cá nhân và khả năng trả nợ Bên vay cần cung cấp thông tin cá nhân, thông tin tham chiếu, và nếu đã kết hôn, thông tin của vợ hoặc chồng Để chứng minh năng lực tài chính, bên vay phải cung cấp thông tin về thu nhập hàng tháng và các khoản nợ tại các tổ chức tín dụng khác Tóm lại, các điều khoản trong HĐCVTD tại CTTC thuận tiện, đơn giản và linh hoạt, phù hợp với cá nhân có thu nhập trung bình.
Lãi suất CVTD, theo tác giả, là tỷ lệ được sử dụng để tính toán số tiền lãi từ các khoản vay tiêu dùng.
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, ban hành ngày 31/12/2001 bởi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định 31 điều về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Quy chế này nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động cho vay, đồng thời bảo vệ quyền lợi của cả tổ chức tín dụng và khách hàng Các điều khoản trong quyết định này hướng tới việc tạo ra một môi trường vay vốn an toàn, hợp pháp và có trách nhiệm.
Hợp đồng vay tiêu dùng tại các công ty tài chính thường có lãi suất cao hơn so với ngân hàng thương mại, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã quy định khung lãi suất áp dụng chung Mức lãi suất cho vay tại các công ty tài chính không bị giới hạn tối đa và được các bên tự thỏa thuận, phù hợp với đặc thù cho vay không cần tài sản bảo đảm Lãi suất cao nhằm bù đắp rủi ro từ việc khách hàng có thể không thanh toán Trong mỗi giao dịch, lãi suất sẽ được thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay của khách hàng và mức độ tín nhiệm của họ Các thỏa thuận này cần tuân thủ quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và Thông tư số 43/2016/TT-NHNN Nội dung thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng vay tiêu dùng thường bao gồm nhiều yếu tố quan trọng.
(i) Lãi suất CVTD theo thoả thuận và mức lãi suất CVTD quy đổi theo tỷ lệ
Lãi suất cho vay trong hạn được tính theo số dư nợ thực tế trong vòng 365 ngày, dựa trên thời gian duy trì số dư nợ đó.
Lãi suất trên số nợ gốc quá hạn và lãi suất chậm trả lãi không được quy định trong hợp đồng tín dụng, mà được áp dụng theo điều khoản chung về điều kiện vay Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHH, nếu bên vay không trả lãi đúng hạn, sẽ phải chịu lãi chậm trả do bên cho vay và bên vay thỏa thuận, nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả Khi khoản nợ chuyển sang quá hạn, bên vay còn phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn, với mức lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ.
Hợp đồng cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính (CTTC) áp dụng các loại lãi suất tương tự như ngân hàng thương mại (NHTM), tuy nhiên mức lãi suất vay thường cao hơn Dù pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận lãi suất, nhưng thực tế, mức lãi suất và phương pháp tính lãi suất chủ yếu do CTTC quy định trong các điều khoản chung Bên vay sẽ chọn sản phẩm và phải chấp nhận mức lãi suất tương ứng mà không có quyền thương lượng Điều này cho thấy quyền tự do thỏa thuận lãi suất nghiêng về phía CTTC.
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay và xác định khoản vay không cần tài sản bảo đảm là điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng cho vay tiêu dùng (HĐCVTD) và các hợp đồng vay phục vụ sản xuất kinh doanh của tổ chức tín dụng (TCTD) Các bên sẽ thỏa thuận về mục đích tiêu dùng cụ thể mà bên vay sẽ sử dụng khoản vay, trong đó bên cho vay sẽ liệt kê các mục đích vay như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình, chi phí học tập, khám chữa bệnh, du lịch, văn hóa, thể dục thể thao Bên vay sẽ chọn mục đích phù hợp, và nếu khoản vay được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bên vay cần có phương án sử dụng vốn rõ ràng trong hợp đồng với TCTD.
Xác định rõ mục đích tiêu dùng của bên đi vay là cần thiết để các công ty tài chính tín dụng (CTTC) thực hiện giám sát hiệu quả trong suốt thời gian vay Bên đi vay có trách nhiệm sử dụng vốn vay đúng mục đích và cam kết cung cấp tài liệu liên quan để bên cho vay kiểm tra Trong các điều khoản chung về cho vay, CTTC có quyền chấm dứt khoản vay nếu bên đi vay vi phạm cam kết Do đó, mặc dù không được quy định cụ thể trong hợp đồng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích là nghĩa vụ bắt buộc của bên đi vay.
Trong hợp đồng vay tiêu dùng tại CTTC, bên đi vay có thể thực hiện vay tín chấp mà không cần tài sản đảm bảo, khác với quy định tại các TCTD thường yêu cầu tài sản bảo đảm cho khoản vay Điều này cho phép bên đi vay không cần cung cấp thông tin về loại tài sản hay hình thức sở hữu, đồng thời giảm bớt rủi ro cho người vay trong việc chứng minh khả năng tài chính để trả nợ.
33 Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 18/2019/TT-
Theo quy định tại điều 292 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm như cầm cố và thế chấp sẽ phát sinh Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề này trong tài liệu số 34NHNN năm 2015.
Giao kết và thực hiện hợp đồng cho vay tiêu dùng
1.5.1 Giao kết hợp đồng cho vay tiêu dùng
HĐCVTD có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật, từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể trình tự giao kết HĐCVTD, nhưng Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định về nội dung thẩm định xét duyệt cho vay và các hoạt động kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay, thu hồi nợ, thanh lý hợp đồng Điều này nhằm đảm bảo HĐCVTD được thực hiện một cách chặt chẽ và minh bạch HĐCVTD cũng tương tự như HĐCVTS, với quá trình giao kết chia thành hai giai đoạn chính: đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết.
Giai đoạn 1, đề nghị giao kết:
Trong hợp đồng cho vay tín dụng, quá trình đề nghị giao kết hợp đồng bao gồm nhiều bước quan trọng, bắt đầu từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn cho đến khi đề nghị được chấp thuận Khi có nhu cầu vay vốn, bên vay sẽ lập hồ sơ đề nghị ký kết hợp đồng và gửi đến công ty tài chính (CTTC) các tài liệu, giấy tờ cần thiết để thực hiện giao dịch.
Giấy đề nghị vay vốn là mẫu tài liệu do Công ty Tài chính (CTTC) cung cấp cho bên vay, bao gồm thông tin cơ bản về cá nhân vay như tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số tiền vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay và các cam kết khác tùy thuộc vào từng CTTC.
(ii) Các tài liệu chứng minh cá nhân có đủ điều kiện vay vốn theo quy định pháp luật;
Để vay vốn tại CTTC, cá nhân cần cung cấp tài liệu chứng minh khả năng tài chính để trả nợ Thủ tục vay vốn thường đơn giản và thuận tiện, cho phép bên vay dễ dàng cung cấp các giấy tờ cần thiết khi được yêu cầu Người vay cũng có thể chủ động lựa chọn hình thức vay phù hợp với nhu cầu của mình.
35 Điều 386 và 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo khả năng và điều kiện tài chính mà không cần quá lo lắng việc xét duyệt khoản vay từ các CTTC.
Sau khi đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra, CTTC sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ CVTD và thực hiện thủ tục xét duyệt tín dụng để đánh giá điều kiện vay vốn của cá nhân Hồ sơ vay vốn cần đầy đủ thông tin để CTTC xem xét cho vay Quy trình xét duyệt tín dụng không chỉ đánh giá khả năng tài chính mà còn ràng buộc trách nhiệm của bên vay trước khi ký hợp đồng Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể, nhưng CTTC phải cung cấp văn bản chấp thuận hoặc từ chối cho vay, kèm theo lý do nếu từ chối.
Giai đoạn 2, chấp nhận giao kết.
Theo Điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự đồng ý của bên nhận đối với toàn bộ nội dung đề nghị Hành vi này thể hiện sự đồng thuận giữa các bên về các điều khoản trong hợp đồng Khác với các giao dịch thương mại thông thường, việc ký kết hợp đồng cần qua quá trình xét duyệt tín dụng, thể hiện rõ ràng cam kết và ý chí của các bên tham gia.
Hợp đồng cho vay tín dụng (HĐCVTD) sau khi ký kết có giá trị ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên, yêu cầu các bên thực hiện nghiêm túc nội dung hợp đồng Thông thường, HĐCVTD được các công ty tài chính (CTTC) lập sẵn Để bảo vệ quyền lợi của bên vay, pháp luật quy định CTTC phải cung cấp dự thảo hợp đồng cho bên vay để xem xét trước khi ký, đồng thời giải thích rõ ràng, chính xác và đầy đủ các nội dung khi có yêu cầu Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của bên vay, vì ngôn ngữ trong hợp đồng thường chứa nhiều thuật ngữ chuyên môn, gây khó khăn cho cá nhân vay trong việc hiểu rõ nội dung, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
Pháp luật cho phép bên đi vay yêu cầu CTTC giải thích các nội dung khó hiểu trong hợp đồng, điều này là cần thiết để đảm bảo tính khách quan trong quan hệ tín dụng Bản chất của các giao dịch dân sự yêu cầu sự tự nguyện giữa các bên Nếu một bên không hiểu hoặc hiểu sai khi ký kết hợp đồng, nguyên tắc khách quan và minh bạch trong giao dịch sẽ không được đảm bảo.
Sau khi xem xét và đồng ý HĐCVTD, hai bên sẽ ký hợp đồng, trong đó bên đi vay phải trực tiếp ký tên Nếu không có thỏa thuận khác, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được xác lập ngay sau khi hợp đồng ký kết CTTC sẽ tiến hành giải ngân cho bên đi vay, đồng thời bên đi vay cũng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã cam kết Hợp đồng cần ghi rõ địa điểm ký kết để làm cơ sở thực hiện và xác định thẩm quyền tòa án trong trường hợp có tranh chấp sau này.
1.5.2 Thực hiện hợp đồng cho vay tiêu dùng
Thực hiện hợp đồng là giai đoạn quan trọng tiếp theo sau khi ký kết hợp đồng vay tín dụng Tại thời điểm ký kết, quyền và nghĩa vụ của các bên bắt đầu phát sinh, trong đó bên cho vay có trách nhiệm giải ngân khoản vay, còn bên đi vay phải sử dụng tiền đúng mục đích đã cam kết Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng diễn ra theo đúng thỏa thuận và quy định pháp luật, cả bên đi vay và bên cho vay cần có sự hợp tác chặt chẽ Bên cho vay cần thực hiện kiểm tra và giám sát hiệu quả việc sử dụng vốn vay sau khi giải ngân Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu quy trình giải ngân, giám sát vốn vay đúng mục đích và thu hồi nợ, vì các giai đoạn này trong hợp đồng vay tín dụng có quy định pháp luật riêng biệt so với các loại hợp đồng vay khác.
CTTC thực hiện giải ngân vốn vay bằng cách thẩm định điều kiện vay của bên đi vay Nếu đáp ứng đủ điều kiện, CTTC sẽ tiến hành giải ngân theo quy định pháp luật và dựa trên thông tin, tài liệu do bên vay cung cấp Hiện nay, pháp luật cho phép giải ngân qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt hoặc trực tiếp bằng tiền mặt Phương thức giải ngân này tương tự như các hợp đồng vay phục vụ mục đích khác ngoài tiêu dùng.
36 Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 18/2019/TT-NHNN
Phương thức giải ngân trực tiếp bằng tiền mặt theo HĐCVTD có quy định nghiêm ngặt về đối tượng đủ điều kiện Đối với khoản vay tiêu dùng tín chấp, khách hàng chỉ được giải ngân bằng tiền mặt nếu không có nợ xấu tại thời điểm ký hợp đồng, theo báo cáo của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam Trong khi đó, đối với hợp đồng vay phục vụ sản xuất kinh doanh, bên vay cần có tài sản bảo đảm, do đó việc giải ngân trực tiếp bằng tiền mặt phải tuân thủ quy định pháp luật chặt chẽ.
Quy định này được coi là một bước can thiệp tích cực của pháp luật vào quan hệ cho vay tiêu dùng, nhằm nâng cao trách nhiệm của các công ty tài chính trong việc xác minh và lựa chọn những cá nhân có lịch sử tín dụng tốt Điều này không chỉ giúp giảm thiểu tình trạng nợ xấu mà các công ty tài chính có thể phải đối mặt, mà còn đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong hoạt động cho vay.
Vào thứ hai, việc kiểm tra và giám sát sử dụng vốn vay đúng mục đích là rất quan trọng Tương tự như các hợp đồng cho vay khác, quy trình này được thực hiện sau khi giải ngân theo HĐCVTD, dựa trên nguyên tắc kế thừa quy định tại điểm b khoản 2 Điều.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, bên đi vay có trách nhiệm phối hợp với Công ty Tài chính (CTTC) trong việc cung cấp tài liệu liên quan đến khoản vay để CTTC thực hiện kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn và trả nợ Các tài liệu này có thể bao gồm hóa đơn, chứng từ chứng minh việc sử dụng vốn vay đúng mục đích Ví dụ, nếu bên đi vay sử dụng vốn để mua thiết bị phục vụ sinh hoạt, họ cần cung cấp hóa đơn mua hàng sau khi được giải ngân Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là thuật ngữ "có trách nhiệm" được sử dụng thay vì "có nghĩa vụ", điều này dẫn đến việc bên đi vay chỉ phải chịu trách nhiệm mà không phải chịu chế tài nếu không thực hiện nghĩa vụ phối hợp với CTTC.
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng cho vay tiêu dùng
Trong giao dịch vay tiêu dùng, tranh chấp thường phát sinh khi cá nhân không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn hoặc không trả tiền vay và lãi cho công ty tài chính Để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiêu dùng, các bên thường tiến hành đàm phán và thương lượng nhằm đạt được sự đồng thuận, hoặc có thể lựa chọn con đường tố tụng để xử lý vấn đề.
Khi xảy ra tranh chấp, các bên cần hợp tác và tìm kiếm sự đồng thuận để giải quyết vấn đề Đối với các khoản nợ, việc đàm phán và thỏa thuận phương án trả nợ hoặc giảm áp lực lãi suất do chuyển nợ quá hạn là cần thiết Nếu không thể tự giải quyết, các bên có thể yêu cầu tòa án can thiệp theo thủ tục tố tụng dân sự Phán quyết của tòa án sẽ được thi hành theo nguyên tắc tự nguyện hoặc thông qua cơ quan thi hành án dân sự.
- Về biện pháp giái quyết tranh chấp thông qua việc khởi kiện tại toà án:
Trong việc giải quyết vụ án, thẩm quyền thường được thoả thuận thuộc về Toà án nơi ký kết hợp đồng hoặc nơi có chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty tài chính Đối với cá nhân vay tiền, thẩm quyền cũng có thể thuộc về nơi cư trú của họ Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quy định này đã được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Từ năm 2018 đến 2020, tranh chấp hợp đồng vay tín dụng đã ghi nhận nguyên đơn chủ yếu là tổ chức tín dụng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vụ án tín dụng được thụ lý giải quyết Tuy nhiên, cơ chế xét xử và giải quyết các vụ án này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
40 Khoản 7 Điều 4 Thông tư số 18/2019/TT-NHNN
Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM (2018, 2019, 2020) đã chỉ ra rằng việc giải quyết các vụ án dân sự có đặc thù riêng đã ảnh hưởng đến chất lượng xét xử Thứ nhất, quan hệ công việc thương mại được xem là quan hệ dân sự nhưng chưa được áp dụng thủ tục rút gọn, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài hơn mức tối đa 6 tháng theo quy định Thứ hai, việc thi hành án gặp khó khăn, nhiều bản án có hiệu lực không thể thi hành do không xác minh được địa chỉ của bị đơn, dẫn đến nợ xấu cho các công ty tài chính.
Mặc dù đã có quy định về HĐCVTD, nhưng vẫn còn nhiều bất cập có thể gây tranh chấp giữa các bên Do đó, việc điều chỉnh và bổ sung các quy định pháp luật là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên và hoàn thiện khung pháp lý cho HĐCVTD.
42 Khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Luận văn đã phân tích bản chất và đặc trưng của hợp đồng cho vay tiêu dùng, khẳng định rằng hợp đồng này là sự thoả thuận bằng văn bản giữa công ty tài chính (bên cho vay) và cá nhân (bên đi vay) Hình thức tín chấp được áp dụng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ cho vay, phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân trong một thời hạn nhất định, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Hợp đồng cho vay tiêu dùng là một loại hợp đồng cho vay tài sản với những đặc trưng riêng, liên quan đến quan hệ giữa công ty tài chính và cá nhân vay Đối tượng của hợp đồng này là vốn tiền tệ cho vay không có tài sản bảo đảm, và khoản vay phải được sử dụng đúng mục đích tiêu dùng Hợp đồng cần được ký kết bằng văn bản, thường theo mẫu do công ty tài chính soạn sẵn, và có hiệu lực từ thời điểm ký kết Mặc dù lãi suất cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính thường cao hơn ngân hàng thương mại, pháp luật hiện chưa can thiệp vào mức lãi suất này.
Việc giải ngân vốn vay tiêu dùng tại công ty tài chính có thể thực hiện qua hai hình thức: giải ngân qua tài khoản thanh toán không dùng tiền mặt hoặc giải ngân trực tiếp bằng tiền mặt Đối với hình thức giải ngân bằng tiền mặt, bên vay cần có lịch sử tín dụng tốt và không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng khác Trong khi đó, đối với giải ngân qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về điều kiện giải ngân, mà cho phép các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng vay tiêu dùng, tuy nhiên bên cho vay phải đảm bảo kiểm tra và giám sát mục đích sử dụng vốn vay theo quy định.
Việc kiểm tra và giám sát vốn vay theo hợp đồng cho vay tiêu dùng chủ yếu dựa vào tài liệu và chứng cứ từ bên vay để xác minh việc sử dụng vốn đúng mục đích Đặc biệt, đối với khách hàng nhận giải ngân bằng tiền mặt, công ty tài chính cần áp dụng các biện pháp kiểm tra và giám sát cụ thể để đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp trong việc sử dụng vốn vay.
Công ty tài chính có quyền thực hiện các biện pháp thu hồi nợ theo quy định pháp luật, ngoại trừ việc xử lý tài sản bảo đảm Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, các bên có thể lựa chọn giải quyết thông qua thương lượng hoặc khởi kiện tại Toà án.
Hiện nay, quy định về hợp đồng cho vay tiêu dùng đã có nhưng chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập Để bảo vệ quyền lợi của các bên và hoàn thiện khung pháp lý, cần thiết phải điều chỉnh và bổ sung một số quy định pháp luật liên quan.
Chương 1 cung cấp cơ sở và tiền đề cho việc nghiên cứu, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật của hợp đồng cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính Nội dung này sẽ được triển khai và hoàn thiện trong Chương 2 của Luận văn.