Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy địnhpháp luật về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thực tiễn hiệnnay vẫn còn những vướng mắc, bất cập, cụ thể: Một là, khi xác định
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TOÀ ÁN GIẢI QUYẾT LẠI
VỤ ÁN DÂN SỰ 10 1.1 Xác định việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước 10 1.2 Quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án của đương sự khi
vụ án bị đình chỉ do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác 19 Kết luận Chương 1 25 CHƯƠNG 2 XỬ LÝ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN DÂN SỰ 26 2.1 Xử lý tạm ứng án phí trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có căn cứ thuộc “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” 26 2.2 Giải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 30 2.3 Xử lý đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 39 Kết luận Chương 2 46 KẾT LUẬN 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đóng vai trò là quyết định đánhdấu việc kết thúc quá trình giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, các căn cứ đình chỉviệc giải quyết vụ án dân sự tại khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015cho thấy dù quyết định đình chỉ vụ án dân sự làm kết thúc việc giải quyết vụ án,nhưng không phải lúc nào cũng dẫn đến việc chấm dứt quan hệ pháp luật tranhchấp Vậy làm thế nào để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang
bị người khác xâm phạm, khi quan hệ pháp luật tranh chấp vẫn còn tồn tại, mà việcgiải quyết vụ án đã chấm dứt? Số tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ được
xử lý như thế nào? Trường hợp bản án đã được thi hành nhưng lại bị cấp giám đốcthẩm, tái thẩm huỷ để xét xử lại, và trong quá trình giải quyết lại theo thủ tục sơthẩm thì vụ án bị đình chỉ, vậy hậu quả của việc thi hành án sẽ được xử lý như thếnào? Vì lẽ đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định hậu quả của việc đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự tại Điều 218 Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy địnhpháp luật về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thực tiễn hiệnnay vẫn còn những vướng mắc, bất cập, cụ thể:
Một là, khi xác định việc khởi kiện vụ án sau có khác với vụ án trước haykhông để từ đó xác định quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sựcủa đương sự, ta cần phải dựa trên căn cứ nào? Phải chăng chỉ cần dựa vào điềukiện việc khởi kiện vụ án sau khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ phápluật có tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm2015? Thực tiễn có nhiều trường hợp đã thoả mãn điều kiện được quyền khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộluật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng khi đương sự nộp đơn khởi kiện lại tại Toà án,Toà án trả lại đơn khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015, hoặc đình chỉ vụ án theo điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 Như vậy, chỉ căn cứ vào các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 218
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xác định đương sự có quyền khởi kiện yêu cầuToà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không là chưa đủ
Hai là, khi vụ án bị đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụngdân sự năm 2015, thì đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu T oà án giảiquyết lại vụ án, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước vềnguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp Tuy nhiên, hiện
Trang 3nay trong thực tiễn xét xử vẫn tồn tại các quan điểm khác nhau về vấn đề này bởi tính hợp lý của nó
Ba là, đối với việc xử lý tạm ứng án phí, Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 không nhắc đến trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm h khoản 1 Điều
217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tiền tạm ứng án phí được xử lý như thế nào
Bốn là, đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết địnhgiám đốc thẩm, tái thẩm mà bị đình chỉ thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quảcủa việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có) Tuy nhiên, hiện nay lạikhông có hướng dẫn giải quyết hậu quả của việc thi hành án trong trường hợp này
Năm là, trong trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờiđang có hiệu lực mà vụ án bị đình chỉ, dẫn đến việc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạmthời, đi kèm với đó là Toà án phải xử lý biện pháp bảo đảm mà người yêu cầu ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện Vậy quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án có thể hiện nội dung xử lý biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như biện phápbảo đảm mà người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện ở nộidung hậu quả của việc đình chỉ hay không
Từ những vướng mắc phân tích nêu trên, người viết quyết định chọn đề tài
“Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” để tìm hiểu, nghiên cứu làm
đề tài luận văn thạc s luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài “Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”,hiện nay có nhiều sách giáo trình, sách chuyên khảo, cũng như các bài viết đăng tảitrên các tạp chí của các tác giả bàn luận nhiều khía cạnh liên quan đến vấn đề này,
cụ thể:
- Sách chuyên khảo, giáo trình:
+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), o tr n u t t t n d n s t
m, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Tài liệu
này đã phân tích, làm rõ những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vềhậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở góc độ lý luận, là giáo trìnhdành cho người học luật, phục vụ cho mục đích nghiên cứu, nên tài liệu không đisâu vào phân tích những vấn đề liên quan đến từng hậu quả của việc đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự, không bàn luận đến những vướng mắc, bất cập của quy địnhnày trong thực tiễn Tài liệu là nguồn kiến thức nền tảng về lý luận để tác giả đi sâukhai thác những quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, và
Trang 4đưa ra những đánh giá khi so sánh giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụngpháp luật
+ Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình lu n k o ọc Bộ lu t T t n D n s củ ước Cộn oà xã ộ c ủ n ĩ t m năm 2015, Nhà xuất bản Tư
pháp Tài liệu này bình luận một cách tổng thể các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 và hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án cũng được đưa ra đểbình luận, tuy nhiên, việc bình luận chỉ dừng lại ở mức độ phân tích, thống kê, nêu
rõ các điều luật được dẫn chiếu tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đểngười đọc hiểu rõ hơn quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 màchưa đi sâu bàn luận đến những vướng mắc bất cập trong việc áp dụng quy định nàytrong thực tiễn Cùng với Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, tài liệu này là cơ
sở và nền tảng lý luận để tác giả nắm vững quy định pháp luật về hậu quả của việcđình chỉ giải quyết vụ án dân sự
+ Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), S c t n u n u t t t n D n s (B n lu n bản n), Nhà xuất bản Hồng Đức Tài liệu này là tổng hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau,
bình luận nhiều vấn đề của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có hai vấn đề liên quan đến nội dung được phân tích trong luận văn gồm vấn đề căn cứ và hậu quả của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại chủ đề số 18 của tác giả Nguyễn Văn Tiến Trong bài viết, tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án và hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, bên cạnh đó, tác giả cũng bình luận một bản án cụ thể để làm rõ những bất cập còn tồn tại Tài liệu này là nguồn để tác giả tham khảo khi viết luận văn, cụ thể, tác giả sẽ kế thừa nội dung quyền khởi kiện lại vụ án dân sự của đương sự, tiếp tục mở rộng phân tích và bàn luận vấn đề này trong luận văn của mình; vấn đề khác được nhắc đến là hình thức tồn tại và hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại chủ đề số
17 của tác giả Phạm Thị Thuý Thông qua chủ đề, tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến nội dung việc áp dụng, huỷ bỏ, thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời có được thể hiện trong bản án, quyết định của Toà án hay không? Nếu được thể hiện thì hiệu lực của biện pháp khẩn cấp tạm thời có bắt buộc theo bản án, quyết định đó hay không? Các đương sự có quyền thoả thuận đối với vấn đề áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không Trong nội dung của chủ đề này, tác giả sẽ kế thừa nội dung liên quan đến vấn đề huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có được thể hiện trong bản án, quyết định của Toà án hay không để làm căn cứ tiếp tục phân tích, bình luận trong luận văn của mình
Trang 5- Bài báo, tạp chí:
+ Nguyễn Phát Lộc, Châu Thanh Quyền (2020), “Quyền khởi kiện lại củanguyên đơn sau khi bị đình chỉ giải quyết vụ án do không nộp tạm ứng chi phí định
giá”, đăng trên T p c T n n n d n n t vào ngày 27 tháng 4 năm 2020 Bài viết nêu
những quy định pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ ándân sự trong trường hợp đình chỉ do đương sự không nộp tạm ứng chi phí định giá.Tác giả cũng nêu ra các quan điểm khác nhau về việc đương sự có được quyền khởikiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không, và đưa ra kiến nghị sửađổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hoặc hướng dẫn thống nhất pháp luật theohướng trao cho đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ ándân sự, trong trường hợp vụ án bị đình chỉ do đương sự không nộp tạm ứng chi phíđịnh giá Tuy nhiên, bài viết với dung lượng ngắn, chỉ bàn đến quyền khởi kiện yêucầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự trong một trường hợp cụ thể, mà không bànđến tất cả những hậu quả do việc đình chỉ giải quyết vụ án mang lại, cũng như chưanghiên cứu một cách tổng thể về quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ
án dân sự Bài viết là nguồn tài liệu để tác giả tiếp tục nghiên cứu một cách toàndiện các quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, cụ thể, luậnvăn sẽ kế thừa nội dung liên quan đến những quan điểm khác nhau đối với quyềnkhởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp đình chỉ giảiquyết vụ án do đương sự không nộp tạm ứng chi phí tố tụng của bài viết
+ Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Hải Anh (2018), “Bàn về quy định tại khoản 4
Điều 217 BLTTDS 2015”, đăng trên T p c Toà n n n d n n t vào ngày 05-9-2018 Bài
viết nêu lên những bất cập trong thực tiễn khi áp dụng khoản 4 Điều 217 Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015 để giải quyết hậu quả của việc thi hành án trong quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đồng thời tác giả cũng nêu đề xuất, kiến nghị đểgiải quyết những bất cập nêu trên Bài viết đưa ra nhiều bất cập liên quan đến xácđịnh, giải quyết hậu quả của việc thi hành án, về tính án phí, về mẫu ban hành quyếtđịnh đình chỉ Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ phân tích lý luận mà khôngbình luận một bản án, quyết định cụ thể để làm rõ hơn những bất cập Luận văn chỉtham khảo, kế thừa và phát triển nội dung liên quan đến bất cập và hướng giải quyếtbất cập khi giải quyết hậu quả của việc thi hành trong bài viết
+ Trương Thanh Hoà (2018), “Quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, đăng trên T p c Toà n n n d n n t vào ngày
03-10-2018 Bài viết nêu ra hai vấn đề đối với quyền khởi kiện yêu cầu Toà án
Trang 6giải quyết lại vụ án dân sự, đó là có nên thể hiện quyền khởi kiện yêu cầu Toà ángiải quyết lại vụ án dân sự trong quyết định đình chỉ hay không, và những vướngmắc nếu thể hiện quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự trongquyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, cụ thể là khó khăn khi xác định ai làngười được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự đó, hiểu nhưthế nào về việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyênđơn, bị đơn, khó khăn về xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp Từ đó, tác giảđưa ra kiến nghị không nên thể hiện quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại
vụ án dân sự trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tuy bài viết đưa rađược nhiều vấn đề vướng mắc trong thực tiễn về quyền khởi kiện yêu cầu Toà ángiải quyết lại vụ án dân sự của đương sự khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuynhiên dung lượng bài viết ngắn, chỉ mới bàn đến khía cạnh có nên thể hiện quyềnkhởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự trong quyết định đình chỉ haykhông, cũng như việc hiểu thế nào về việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước,chưa bàn luận đến tất cả các vấn đề liên quan đến hậu quả của việc đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự, bài viết đưa ra những vướng mắc nhưng chỉ dừng lại ở việc liệt
kê, chưa đi vào phân tích đánh giá cụ thể từng vướng mắc, bất cập Bài viết là tàiliệu tham khảo để tác giả tiếp tục tìm tòi, mở rộng phạm vi nghiên cứu, cụ thể, luậnvăn sẽ tham khảo quan điểm của tác giả đối với vấn đề hiểu như thế nào là việc khởikiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ phápluật có tranh chấp
Sau quá trình nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu về hậu quả củaviệc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tác giả nhận thấy các bài viết, công trìnhnghiên cứu của các tác giả khác chủ yếu tập trung vào một khía cạnh nhỏ của quyềnkhởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự; hoặc nghiên cứu đối với việcgiải quyết hậu quả của việc thi hành án trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án,đối với hình thức thể hiện và hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biệnpháp khẩn cấp tạm thời trong bản án, quyết định thành những chủ đề riêng biệt, màchưa nghiên cứu một cách tổng thể tất cả các quy định về hậu quả của việc đình chỉgiải quyết vụ án dân sự mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định, cụ thể làquyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự; xử lý tạm ứng án phí;giải quyết hậu quả của việc thi hành án trong trường hợp vụ án được xét xử lại theothủ tục sơ thẩm, sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyếtđịnh đình chỉ việc giải quyết vụ án Bên cạnh đó, hình thức
Trang 7thể hiện hướng xử lý đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời và biện pháp bảo đảm màngười yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện khi đình chỉ giảiquyết vụ án cũng không được xem xét khi bàn luận đến hậu quả của việc đình chỉgiải quyết vụ án Đối với tài liệu chuyên khảo, giáo trình thì các tài liệu này nghiêncứu một cách tổng thể các hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, nhưngchủ yếu nghiên cứu về mặt lý luận, chưa đi sâu nghiên cứu các vướng mắc, bất cậptrong thực tiễn của việc áp dụng quy định pháp luật Do đó, việc tác giả chọn đề tài
“Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” để nghiên cứu tổng thể các vấn
đề liên quan đến hậu quả việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, những vướng mắcbất cập trong thực tiễn, qua đó đưa ra kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật là thực
sự cần thiết
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, cácquy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về hậu quả của việc đình chỉ giảiquyết vụ án, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, xử lý biện pháp bảo đảm màngười yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện, và phân tích, bìnhluận các quyết định, bản án trong từng vụ án cụ thể, từ đó làm nổi bật những vướngmắc, bất cập trong việc áp dụng pháp luật, cũng như đánh giá mức độ tương thíchgiữa quy định pháp luật và thực tiễn Sau khi đánh giá, phân tích những vướng mắc,bất cập trong thực tiễn, luận văn sẽ đề xuất Quốc hội sửa đổi, bổ sung quy định củapháp luật về căn cứ xác định vụ án sau khác vụ án trước, để xác định đương sự cóquyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không; cũng nhưquyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án của đương sự trong trường hợpđình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 Đồng thời đề xuất Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫngiải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ giải quyết vụ án đối với cáctrường hợp được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, sau khi có quyết định giám đốcthẩm, tái thẩm; hướng xử lý tạm ứng án phí trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ
án theo điểm h khoản 1 điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; có nên thể hiệnnội dung xử lý đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời và biện pháp bảo đảm mà ngườiyêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện trong quyết định đình chỉgiải quyết vụ án hay không
Đề tài có nhiệm vụ phân tích các quy định của pháp luật về hậu quả của việcđình chỉ giải quyết vụ án dân sự, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và xử lý biện
Trang 8pháp bảo đảm mà người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện,phân tích, bình luận quyết định, bản án trong những vụ án cụ thể Từ đó đánh giámức độ tương thích của quy định pháp luật với thực tiễn, và đưa ra đề xuất nhằmhoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về hậu quả của việc đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự.
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án, huỷ bỏ biện pháp khẩncấp tạm thời, xử lý biện pháp bảo đảm mà người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời đã thực hiện, và việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn giảiquyết vụ án, cụ thể là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào phạm vi không gian, thời gian vànội dung
Về phạm vi không gian, nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung vào cácquy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến hậu quả của việc đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và xử lý biện pháp bảo đảm màngười yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện Để làm sáng tỏcác vướng mắc, bất cập của những quy định này trong thực tiễn, luận văn cần phải
có sự phân tích, đánh giá, bình luận các quyết định đình chỉ, bản án trong những vụ
án cụ thể trên phạm vi toàn quốc mà không giới hạn ở một địa phương cụ thể, bởi lẽviệc nghiên cứu, tập hợp nhiều quyết định, bản án từ các địa phương khác nhau sẽgiúp cho tác giả có cái nhìn đa chiều hơn, tập hợp được nhiều quan điểm của nhữngngười đang làm thực tiễn hơn, từ đó có những nhận định, đánh giá khách quan đốivới những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Về phạm vi thời gian, hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án chủ yếuđược quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, hiện nay Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 đang có hiệu lực thi hành, nên nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung vàocác quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, huỷ bỏ biện phápkhẩn cấp tạm thời, xử lý biện pháp bảo đảm, cũng như các bản án, quyết định kể từthời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành đến nay
Về phạm vi nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quanđến hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; huỷ bỏ biện pháp khẩn cấptạm thời khi vụ án bị đình chỉ và xử lý biện pháp bảo đảm Cụ thể là những nộidung liên quan đến quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự; xử
Trang 9lý tiền tạm ứng án phí khi vụ án bị đình chỉ theo điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; giải quyết hậu quả của việc thi hành án; và có thể hiệnhay không việc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và xử lý biện pháp bảo đảm màngười yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện trong quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án Biện pháp bảo đảm mà luận văn nghiên cứu là biện phápbảo đảm mà người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện theoquy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu trong luận văn, cụ thể:
Ở chương 1, tác giả sử dụng phương pháp liệt kê để liệt kê những trường hợpđược quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự khi vụ án bị đìnhchỉ Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ những quy định của pháp luậtliên quan đến quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự, căn cứxác định đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự,quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp vụ án
bị đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tác giảtiếp tục sử dụng phương pháp bình luận để bình luận những quyết định, bản án cụthể, qua đó làm rõ những bất cập, vướng mắc về quyền khởi kiện yêu cầu Toà ángiải quyết lại vụ án dân sự trong thực tiễn Cuối chương 1, tác giả sử dụng phươngpháp tổng hợp để khái quát những vấn đề đã được trình bày trong toàn bộ nội dungchương từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị cụ thể
Tương tự như chương 1, ở chương 2 tác giả cũng sử dụng phương pháp liệt
kê để liệt kê những trường hợp được trả lại tiền tạm ứng án phí, những trường hợptiền tạm ứng án phí bị sung vào công quỹ Tác giả tiếp tục sử dụng phương phápphân tích để làm rõ những quy định liên quan đến việc giải quyết tạm ứng án phíđối với trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm h khoản 1 Điều 217
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; giải quyết hậu quả của việc thi hành án trongtrường hợp vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, sau khi có quyết định giámđốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án; việc thểhiện nội dung huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và xử lý biện pháp bảo đảm trongquyết định đình chỉ Tiếp theo, phương pháp bình luận sẽ được sử dụng để bình luậnnhững bản án, quyết định cụ thể trong thực tiễn, từ đó những vướng mắc, bất cậpđược làm nổi bật Cuối chương 2, tác giả sử dụng phương pháp tổng
Trang 10hợp để khái quát lại những vấn đề đã được trình bày và đưa ra đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật.
Ở phần kết luận, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để khái quát tất cả những vấn đề đã được trình bày trong luận văn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn có 2 chương, cụ thể:
Chương 1: Quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự Chương 2: Xử lý hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Trang 11CHƯƠNG 1 QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TOÀ ÁN GIẢI QUYẾT LẠI VỤ ÁN DÂN SỰ
Quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án được xem là một cáchtái khởi động lại quy trình tố tụng để đương sự yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấpvẫn còn tồn tại trong thực tế, vì mang ý ngh a như vậy, nên không phải tất cả cáctrường hợp đình chỉ đều được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại
vụ án dân sự Khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 quy định,“K có quyết ịn
n c ỉ ả quyết v n d n s , ươn s k ôn có quyền k ở k n yêu cầu T
n ả quyết l v n d n s ó, nếu v c k ở k n v n s u k ôn có gì khác
vớ v n trước về n uyên ơn, bị ơn và qu n p p lu t có tr n c ấp, trừ trườn ợp quy ịn t k oản 3 Đ ều 192, ểm c k oản 1 Đ ều 217 củ Bộ lu t này và c c trườn ợp k c t eo quy ịn củ p p lu t.” Như vậy, điều kiện
tiên quyết để được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự làviệc khởi kiện vụ án sau phải khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ phápluật có tranh chấp, trừ các trường hợp ngoại lệ Tuy nhiên, hiện nay trong thực tiễnviệc xác định việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước vẫn còn nhiều quanđiểm khác nhau
Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015, trường hợp vụ án bịđình chỉ giải quyết theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì đương sựkhông được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án Quy định này hiệnnay đang gây nhiều tranh cãi về tính hợp lý của nó, và trong thực tiễn hiện nay,nhiều Toà án vẫn tuyên đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyếtlại vụ án dân sự khi đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015
1.1 Xác định việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước
Ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ theo điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3Điều 192 BLTTDS năm 2015, và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật,
để xác định đương sự có được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ ándân sự hay không, cần phải đáp ứng điều kiện việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ
án trước về nguyên đơn, bị đơn, và quan hệ pháp luật có tranh chấp Vì vậy, khi Toà
án nhận đơn khởi kiện, cần phải xem xét đơn khởi kiện so với quyết định đình chỉ
vụ án mà đương sự đã khởi kiện trước đó, xem có khác về nguyên đơn, về bị đơn vàquan hệ pháp luật có tranh chấp hay không Liệu rằng xem xét
Trang 12các yếu tố trên đã đủ hay chưa? Pháp luật quy định việc khởi kiện vụ án sau khácvới vụ án trước, vậy khác ở đây là khác về hình thức hay khác về đối tượng tranhchấp, bản chất vụ án?
Việc hiểu như thế nào là vụ án sau không có gì khác với vụ án trước vềnguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp hiện nay có hai cách hiểu
“C c ểu t ứ n ất, n ữn v n ã ược Toà n ả quyết bằn quyết ịn n
c ỉ ả quyết v n d n s t v n ã ược ả quyết xon (v ề n t ức) nên Toà n k ôn ả quyết l lần t ứ dù quyền lợ c ủ ươn s c ư ược ả quyết…C c ểu t ứ , n ữn v n ã ược Toà n ả quyết xon về nộ dun oặc
ã
r quyết ịn n c ỉ ả quyết v n d n s v n uyên ơn oặc bị ơn
là c n n ã c ết mà quyền, n ĩ v củ ọ k ôn ược t ừ kế; cơ qu n, tổ
c ức ã bị ả t ể, p sản mà k ôn có cơ qu n, tổ c ức, c n n nào kế t ừ quyền và n ĩ v t t n củ cơ qu n, tổ c ức ó; ươn s có yêu cầu p d n
t ờ u trước k Toà n cấp sơ t ẩm r bản n, quyết ịn và t ờ u k ở k n
ã ết…T eo t c ả, nên ểu t eo c c ểu t ứ t ợp lý ơn.” 1
Sở d có hai cách hiểu như trên, bởi vì quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDSnăm 2015 cho thấy trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơnkhông nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, và chi phí tố tụng khác theo quy địnhcủa pháp luật, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án,nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan
hệ pháp luật có tranh chấp Có thể thấy trường hợp này mặc dù vụ án đã được giảiquyết bằng quyết định đình chỉ, tức là đã giải quyết xong về mặt hình thức, nhưng vềmặt bản chất thì tranh chấp giữa các đương sự vẫn còn tồn tại Và dù cho tranh chấpđang còn tồn tại thì đương sự vẫn không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giảiquyết lại vụ án dân sự Nếu hiểu theo hướng này thì khi đương sự nộp đơn khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự, Toà án chỉ cần xem xét về mặt câu chữ việckhởi kiện vụ án sau có khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật cótranh chấp hay không, tức là khác về hình thức, mà không cần xem xét đến tranh chấpgiữa các đương sự đã được giải quyết hay chưa
Ngược lại, nếu xem xét những trường hợp đương sự được quyền khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án quy định tại Điều 218 BLTTDS năm 2015,trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần
Trang 131Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), Sách tình u n u t t t n Dân s (Bình lu n bản án), Nhà xuất bản Hồng
Đức, tr.345-346.
Trang 14thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt, thì đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà ángiải quyết lại vụ án dân sự, mà không cần phải đáp ứng điều kiện vụ án sau khác với
vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp Cũng tương tựnhư trường hợp đình chỉ do đương sự không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sảnhoặc tạm ứng chi phí tố tụng, trường hợp này vụ án đã được giải quyết bằng quyếtđịnh đình chỉ vụ án tức là giải quyết về mặt hình thức, nhưng về mặt bản chất, tranhchấp giữa các bên đương sự vẫn còn tồn tại Tuy nhiên, hậu quả của hai trường hợpnày lại có sự khác biệt, trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc đã đượctriệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, thì đương sự được quyền khởikiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự Vậy, việc cho rằng chỉ cần xem xétviệc khởi kiện vụ án sau khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ phápluật có tranh chấp để trao cho đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giảiquyết lại vụ án dân sự đã thực sự hợp lý chưa?
Ngoài hai trường hợp trên, Điều 218 BLTTDS năm 2015 còn quy định trườnghợp không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự khi sựviệc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, sau khithụ lý vụ án, nếu Thẩm phán phát hiện vụ án đang giải quyết thuộc trường hợp nàythì phải đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015, trừ một số trường hợp pháp luật quy định được quyền khởi
kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự “…S v c ã ược ả quyết ược
ểu là yêu cầu k ở k n, p ản t , yêu cầu ộc l p củ c c bên tron v n d n s (tr n c ấp ữ cc bên ươn s ), oặc yêu cầu củ c ủ t ể tron v c d
a vụ tố tụng; hoặc đương sự có đơn đề nghị áp dụng thời hiệu trước khi Toà án cấp
sơ thẩm ra bản án, quyết định và thời hiệu khởi kiện đã hết hay không Để xác địnhđược tranh chấp đã được giải quyết hay chưa, Toà án cần phải xem xét đến bản
Trang 152Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), tlđd (1), tr.416.
Trang 16chất vụ án và đối tượng tranh chấp của vụ án sau so với vụ án bị đình chỉ trước đó
có giống nhau hay không
Theo quan điểm của tác giả thì cần theo cách hiểu thứ hai, tức là khi xem xétđương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không,cần xem xét đến đối tượng tranh chấp, bản chất vụ án để xác định tranh chấp đãđược giải quyết hay chưa Bởi vì, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, nếuchỉ xem xét về mặt hình thức theo cách hiểu thứ nhất thì trong thực tế đương sựkhông có cách nào bảo vệ quyền và lợi ích của mình đang bị xâm phạm Nếu chỉđơn giản xem xét đến tiêu chí vụ án sau khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn,quan hệ pháp luật có tranh chấp về mặt hình thức câu chữ, mà không xem xét đếnđối tượng tranh chấp, bản chất vụ án liệu có biết được tranh chấp đã được giải quyếthay chưa để xác định đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ
án hay không? Tình huống được nêu trong án lệ số 38/2020/AL3 thể hiện rằng mặc
dù việc khởi kiện sau khác nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp,tức là đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, nhưng hướng giải quyết của án lệ là không thụ
lý vụ án mới, vì dù việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước về nguyên đơn, bịđơn, quan hệ pháp luật tranh chấp, nhưng vụ án đã được giải quyết về mặt bản chất
Quy định “S v c ã ược ả quyết bằn bản n, quyết ịn ã có u l c
p p lu t củ T n …” tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 dường như là
một quy định “sàng lọc” những trường hợp đáp ứng điều kiện việc khởi kiện
3Nội dung Án lệ số 38/2020/AL: “[2] Bản án hôn nhân và gia n phúc t ẩm s 17/H Đ-PT ngày 9-2002, Tòa án nhân dân tỉn Lâm Đồn ã tuyên bà P m T ị H ược quyền sở ữu ½ căn nhà d n tích 40,73m 2 , c uyễn T ị Đ ược quyền sở ữu ½ căn nhà d n tích 40,73m 2 t s 12 A ườn G, p ườn 5, thành p T ư v y, nộ dung k ở k n củ bà M cho rằn căn nhà s 12 A ườn G, p ườn 5, thành p
24-T là củ c H1 và c Đ1 ã có bản án n có u l c xác ịn quyền sở ữu căn nhà ó là củ c Đ vớ bà
H Đ ều 256 Bộ lu t Dân s năm 2005 quy ịn : “C ủ sở ữu, n ườ c ếm ữu ợp pháp có quyền yêu cầu
n ườ c ếm ữu, n ườ s d n tài sản, n ườ ược lợ về tài sản không có căn cứ pháp lu t vớ tài sản
t uộc quyền sở ữu oặc quyền c ếm ữu ợp pháp củ mình p ả trả l tài sản ó,…” ư v y, vớ nộ dung quyết ịn củ Bản án hôn nhân và gia n phúc t ẩm s 17/H Đ-PT nêu trên thì bà M không có quyền c Đ và bà H trả l căn nhà s 12 A ườn G, p ườn 5, thành p T Cho nên p ả xem nộ dung yêu cầu k ở k n củ bà M t uộc trườn ợp “S v c ã ược ả quyết bằn bản án, quyết ịn ã có
u l c pháp lu t củ Tòa n”; nếu bà M không ồn tình vớ Bản án hôn nhân và gia n phúc t ẩm s 17/H Đ-PT thì ề n ị Tòa án nhân dân có t ẩm quyền xem xét l bản án ó theo t ủ t c giám c t ẩm (khi t ờ u còn) oặc tái t ẩm (khi có căn cứ) Do ó, ngày 01-8-2016, Tòa án nhân dân tỉn Lâm Đồn ban hành Quyết n s 03/2016/QĐST-DS n c ỉ ả quyết v án và trả l ơn k ở k n củ bà M là phù ợp vớ quy ịn t ểm c k oản 1 Đ ều 192 và ểm g k oản 1 Đ ều 217 Bộ lu t T t n dân s năm
2015 Quyết ịn s 91/2017/QĐDS-PT ngày 30-5-2017 củ Tòa án nhân dân cấp cao t Thành p Hồ Chí Minh ủy toàn bộ Quyết ịn s 03/2016/QĐST-DS ngày 01-8-2016 nêu trên vì cho rằn quan tranh c ấp trong v án này là “Đ tài sản”, có nguyên ơn, bị ơn khác vớ nguyên ơn, bị ơn trong v án hôn nhân
và gia n ã ược Tòa án nhân dân tỉn Lâm Đồn xét x phúc t ẩm t Bản án hôn nhân và gia n phúc
t ẩm s 17/H Đ-PT ngày 24-9-2002 là không ún ”.
Trang 17vụ án sau khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp theo quy định tại Điều 218 BLTTDS năm 2015, nhưng về mặt bản chất đã được giải quyết thì Toà án sẽ áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hoặc trả lại đơn khởi kiện Như vậy, tại sao khi quy định về quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự, BLTTDS năm 2015 không quy định việc xem xét đến đối tượng tranh chấp, bản chất vụ án cũng là một trong các tiêu chí để xác định việc khởi kiện
vụ án sau khác vụ án trước, trừ những trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 và những trường hợp khác theo quy định của pháp luật để đương sự không mất
thời gian chờ đợi vụ án được thụ lý rồi lại bị đình chỉ giải quyết?
Cũng liên quan đến vấn đề phải hiểu như thế nào là v c k ở k n v n s u
k ôn
c
ó k c vớ v n trước về n uyên ơn, bị ơn, có ý k ến ặt r t n u n
ả ịn rằn k k ở k n l v n, ươn s ảm bớt s lượn n uyên ơn oặc bị ơn t có ược xem là v c k ở k n l v n s u có k c vớ v n trước về
n uyên ơn, bị ơn y k ôn , và ư r qu n ểm rằn tron trườn ợp này Toà
n p ả t lý v n, ồn t ờ ư n ữn n ườ c n l t m vớ tư c c n ườ
có quyền lợ , n ĩ v l ên qu n.4 Đối với việc xác định vụ án sau khác với vụ án
trước về quan hệ pháp luật có tranh chấp, ý kiến này cho rằng còn tồn tại khó khăntrong việc xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp, bởi lẽ đương sự có thể thay đổicách trình bày, cách yêu cầu trong đơn khởi kiện và việc xác định quan hệ tranh chấp
do ý chí chủ quan của mỗi Thẩm phán Điều này dẫn đến quan hệ tranh chấp sẽ đượcxác định khác đi và Toà án phải thụ lý vụ án khi đương sự nộp đơn khởi kiện lại Hơnnữa, hiện nay, việc xác định quan hệ tranh chấp vẫn còn nhiều vấn đề tranh luận Mộtvấn đề nữa được đặt ra là đương sự cố tình khởi kiện ít đi, hoặc nhiều hơn số quan hệtranh chấp đối với vụ án đã bị đình chỉ trước đó, thì có được xem là việc khởi kiện vụ
án sau khác với vụ án trước về quan hệ pháp luật có tranh chấp hay không.5 Như vậy,theo quan điểm trên là cần phải đối chiếu tư cách đương sự và quan hệ pháp luật cótranh chấp giữa hai vụ án để xác định vụ án sau khác vụ án trước hay không
Tác giả không đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ việc so sánh về tư cáchđương sự và quan hệ pháp luật có tranh chấp chỉ là sự so sánh về hình thức bênngoài, nó chỉ đóng một phần vai trò trong việc xác định vụ án sau có khác vụ án
4Trương Thanh Hoà, “Quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, https:// tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-khoi-kien-lai-vu-an-trong-quyet-dinh-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-dan -su, truy cập ngày 28-01-2021.
5Trương Thanh Hoà, tlđd (4), truy cập ngày 28-01-2021.
Trang 18trước hay không Vấn đề khác chúng ta cần phải quan tâm nữa là sự việc đó đã đượcgiải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa Việc so sánh
tư cách đương sự, và quan hệ pháp luật có tranh chấp chỉ phát huy tác dụng trongtrường hợp lý do đình chỉ xuất phát từ việc một trong hai bên đương sự không còntồn tại mà quyền ngh a vụ của họ không được thừa kế; quyền, ngh a vụ của đương
sự sẽ được thực hiện theo thủ tục phá sản bởi vì đã có quyết định mở thủ tục phásản; đã hết thời hiệu khởi kiện Nếu không có sự thay đổi về tư cách đương sự hoặcquan hệ pháp luật có tranh chấp thì đương sự khởi kiện lại vẫn thuộc trường hợpphải đình chỉ, do đó những trường hợp trên cần phải xem xét đến tư cách đương sự
và quan hệ pháp luật có tranh chấp để quyết định đương sự có được quyền khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án hay không Đối với trường hợp đình chỉ donguyên đơn không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theoquy định… thì nguyên nhân đình chỉ xuất phát từ ý thức chủ quan của đương sự và
vụ việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, tuynhiên, vẫn được các nhà làm luật xếp vào nhóm không được quyền khởi kiện yêucầu Toà án giải quyết lại vụ án nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ
án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp6 Trường hợp đìnhchỉ theo điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 dẫn chiếu đến điểm c khoản
1 điều 192 BLTTDS năm 2015, Tòa án cần phải xem xét đến sự việc đã được giảiquyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hay chưa để xem xét đương sự
có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không, thay vìxem xét đến tư cách đương sự và quan hệ pháp luật có tranh chấp Như vậy, việcđương sự thêm hoặc bớt nguyên đơn, bị đơn; thêm hoặc bớt quan hệ tranh chấp khikhởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự, không làm ảnh hưởng đến việcxem xét việc khởi kiện vụ án sau có khác vụ án trước hay không
Để m n ọ c o p n t c ở trên, tron t c t ễn xét x có t n u n c t ể sau : Ngày
19-6-2018, bà Phan Thị Thuý khởi kiện bà Phan Thị Bích Thuỷ và ông Nguyễn Anh Phó,yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đấtđối với nhà đất tại số 348 đường Lê Hồng Phong, Phước Long, Nha Trang, KhánhHòa (Viết tắt là nhà đất tại số 348), hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tàisản gắn liền với đất đứng tên ông Nguyễn Anh Phó, bà Lê Thị Bích Thủy Ngày 24-7-2018, TAND tỉnh Khánh Hòa đã thụ lý vụ án Tuy nhiên,
6Vấn đề liên quan đến quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án của đương sự khi Toà án đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS sẽ được phân tích ở mục 1.2 của luận văn.
Trang 19liên quan đến tài sản tranh chấp trong vụ án là nhà đất tại số 348, trước đây, TANDtỉnh Khánh Hòa đã xét xử bằng Bản án số 16/2009/KDTM-ST ngày 15-12-2009
(Bản án số 16) về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa n uyên ơn là Ngân hàng TMCP
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (nay là Ngân hàng TMCP Việt Nam
Thịnh vượng – VPBank) và bị ơn là Công ty TNHH xây dựng Thiên
Châu, n ườ có quyền lợ , n ĩ v l ên qu n là ông Nguyễn Anh Phó, ông Nguyễn Dư, bà
Phan Thị Trưa Bản án đã tuyên xử trong trường hợp bị đơn không trả nợ choVPBank thì VPBank được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, bán các tàisản thế chấp bảo đảm nợ vay tại VPBank để thu hồi nợ, trong đó, có nhà đất tại số
348 do bà Lê Thị Bích Thủy và ông Nguyễn Anh Phó đứng tên sở hữu7 Quyết địnhcủa Bản án này đã có hiệu lực pháp luật8
Đối với tình huống này, hiện nay có hai quan điểm về đường lối giải quyếtnhư sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng cần đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm g khoản
1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 dẫn chiếu đến điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS
năm 2015“S v c ã ược ả quyết bằn bản n, quyết ịn ã có u l c p p
lu t củ T n” với lý giải: Bản án số 16 có hiệu lực pháp luật đã xác định hợp
đồng thế chấp nhà đất tại số 348 giữa ông Nguyễn Anh Phó, bà Lê Thị Bích Thủyvới VPBank là hợp pháp, và tuyên xử lý tài sản này để thu hồi nợ cho VPBank đồngngh a với việc xác định ông Phó và bà Thủy là chủ sở hữu hợp pháp tài sản thếchấp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông bà là đúng Như vậy, yêucầu khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phó và bà Thủycủa bà Phan Thị Thúy đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật Yêucầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa bên chuyển nhượng ôngNguyễn Hoàng Sơn, bà Phan Thị Thúy với bên nhận chuyển nhượng ông NguyễnAnh Phó và bà Lê Thị Bích Thủy tuy chưa được bản án nào giải quyết, nhưngkhông thể giải quyết tách rời với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đứngtên ông Phó và bà Thủy, đồng thời, nó còn liên quan đến việc xác định hiệu lực củahợp đồng thế chấp tài sản cho VPBank Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, bàPhan Thị Thúy phải làm đơn yêu cầu xem xét lại Bản án số 16 theo thủ tục tái thẩmphần nội dung về hợp đồng thế chấp tài sản là nhà đất tại số 348 và xử lý tài sảnnày Khi giải quyết lại vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án sẽ giải quyết các
7Phụ lục 01: Bản án số 16/2009/KDTM-ST ngày 15-12-2009 của TAND tỉnh Khánh Hoà.
8Phụ lục 02: Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 51/2010/KDTM-QĐ ngày 28-9-2010 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng.
Trang 20yêu cầu khởi kiện của bà Thúy, đồng thời xem xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp
và yêu cầu xử lý tài sản của VPBank
Quan điểm thứ hai cho rằng, Tòa án cần giải quyết yêu cầu khởi kiện của bàPhan Thị Thúy, vì yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng nhà đất vàhủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chưa được giảiquyết tại Bản án số 16, kết quả giải quyết các yêu cầu này không ảnh hưởng tới Bản
án số 16 Việc Bản án số 16 nhận định hợp đồng thế chấp nhà đất tại số 348 giữaông Phó và bà Thủy với VPBank hợp pháp, và tuyên xử lý tài sản bảo đảm nàykhông đồng ngh a với việc xác định nhà đất này là tài sản hợp pháp của ông Phó và
bà Thủy Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất có hiệu lực hay vôhiệu, giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sửdụng đất và tài sản gắn liền với đất chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi, ngh a vụ của cácbên tham gia hợp đồng chuyển nhượng, không ảnh hưởng đến hợp đồng thế chấpvới VPBank, vì VPBank là người thứ ba ngay tình, hợp đồng thế chấp này vẫn cóliệu lực theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005 (luật có hiệu lực tại thờiđiểm ký hợp đồng chuyển nhượng)
Ý k ến n n xét củ t c ả: Nếu chỉ xét đến tư cách đương sự cũng như quan hệ pháp
luật có tranh chấp để xác định việc khởi kiện vụ án sau có khác vụ án trước hay không,thì cả hai vụ án khác nhau cả về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranhchấp, nên có thể khẳng định ngay vụ án mà nguyên đơn là bà Thuý khởi kiện yêu cầuhuỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất; tuyênhủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đứng tên ôngNguyễn Anh Phó, bà Lê Thị Bích Thủy khác với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
mà VPBank là nguyên đơn đã được xét xử bằng Bản án số 16/2009/KDTM-ST ngày15-12-2009 Nhưng chỉ xem xét đến tư cách đương sự và quan hệ pháp luật có tranhchấp mà không xem xét đến nội dung vụ án đã được giải quyết hay chưa liệu có thoảđáng? Bởi vì, nếu chỉ xem xét đến tư cách đương sự và quan hệ pháp luật có tranh chấp
để xác định vụ án sau có khác vụ án trước hay không là chưa xem xét đầy đủ toàn diện
vụ án Giả sử, trong trường hợp này bà Thuý khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng thếchấp giữa ông Phó và bà Thuỷ với VPBank vô hiệu thì rõ ràng quan hệ pháp luật tranhchấp có khác nhau, một bên là tranh chấp hợp đồng tín dụng, một bên là yêu cầu tuyên
bố hợp đồng thế chấp vô hiệu, nhưng Bản án số 16 đã công nhận hiệu lực của hợp đồngthế chấp, trong trường hợp này vụ án mà Thuý khởi kiện không được xem là khác với
vụ án trước do VPBank khởi kiện Hơn nữa, cả hai vụ
Trang 21án đều có liên quan đến nhà đất tại số 348, nếu chỉ dựa vào việc khác về nhau tưcách đương sự và quan hệ pháp luật có tranh chấp để xác định vụ án sau khác vụ ántrước liệu có thoả đáng hay không, khi không xem xét đến việc giải quyết “số phận”của nhà đất tại số 348? Vì vậy, khi xác định việc khởi kiện vụ án sau có khác vụ ántrước hay không, ngoài việc xem xét đến tư cách đương sự, quan hệ pháp luật cótranh chấp thì còn phải xem xét đến vụ án đó đã được giải quyết bằng bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật hay chưa, cụ thể là phải xem xét đến đối tượng tranh chấp
và bản chất vụ án của vụ án sau so với vụ án trước
Cả hai quan điểm nêu trên đều không bàn đến hai vụ án có khác nhau về tưcách đương sự, quan hệ pháp luật có tranh chấp hay không, mà xem xét đến “sốphận” của nhà đất tại số 348 đã được Toà án giải quyết hay chưa Việc xem xét đếnbản chất vụ án, đối tượng tranh chấp của cả hai vụ án để xác định vụ án khởi kiệnsau có khác vụ án trước hay không là hướng tiếp cận vấn đề hoàn toàn hợp lý Tuynhiên, đối tượng tranh chấp của vụ án do VPBank khởi kiện ông Phó, bà Thuỷ làquyền và ngh a vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng, còn đối tượng tranh chấpcủa vụ án do bà Thuý khởi kiện là xem xét hiệu lực đối với hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể là nhà đất tại số 348 Vụ
án do VPBank khởi kiện mặc dù tuyên VPBank có quyền yêu cầu xử lý tài sản thếchấp là nhà đất tại số 348 để thu hồi nợ, nhưng bản án không xem xét đến hiệu lựccủa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữachồng bà Thuý và ông Phó, bà Thuỷ Vì vậy, việc bà Thuý khởi kiện yêu cầu TANDtỉnh Khánh Hoà huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liềnvới đất đối với nhà đất tại số 348 và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tàisản gắn liền với đất là hoàn toàn có căn cứ Vì đây là hai sự việc khác nhau, các chủthể và đối tượng tranh chấp khác nhau nên không thể áp dụng điểm c khoản 1 Điều
192 BLTTDS năm 2015 được Hơn nữa, theo quy định tại Điều 186
BLTTDS năm 2015 thì: “Cơ qu n, tổ c ức, c n n có quyền t m n oặc t ôn qua n ườ d n ợp p p k ở k n v n (s u y ọ c un là n ườ k ở k
n)
t T n có t ẩm quyền ể yêu cầu bảo v quyền và lợ c ợp p p củ m n ”.
Như vậy, ngày 24-7-2018, TAND tỉnh Khánh Hòa đã thụ lý vụ án để giải quyết9 làphù hợp với quy định và hoàn toàn thuyết phục
9
Phụ lục 03: Thông báo thụ lý vụ án số 69/2018/TB-TLVA ngày 24/7/2018 về việc “Yêu cầu ủy ợp ồn c uyển
n ượn quyền s d n ất và ủy ấy c ứn n n quyền s d n ất và tài sản ắn l ền vớ ất” giữa nguyên đơn là bà Phan Thị
Thúy và bị đơn là bà Lê Thị Bích Thủy và ông Nguyễn Anh Phó.
Trang 22Từ vụ việc trên, tác giả đưa ra kiến nghị như sau:
Quốc hội cần bổ sung quy định tại Điều 218 BLTTDS năm 2015 về căn cứxác định việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước, cụ thể:
Khi xem xét, đánh giá việc khởi kiện vụ án sau khác vụ án trước, từ đó xácđịnh đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự haykhông, cần dựa trên tiêu chí về nội dung và hình thức
Về nội dung, việc khởi kiện vụ án sau phải khác vụ án trước về đối tượngtranh chấp, bản chất vụ án; về hình thức, việc khởi kiện vụ án sau phải khác vụ ántrước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp
1.2 Quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án của đương sự khi vụ án bị đình chỉ do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác
Tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định:“1 S u k t lý
v n t uộc t ẩm quyền củ m n , T n r quyết ịn n c ỉ ả quyết v n d n
s tron c c trườn ợp s u y:… ) uyên ơn k ôn nộp t ền t m ứn c p ị
n tà sản và c p t t n k c t eo quy ịn củ Bộ lu t này…” Tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 quy định “K có quyết ịn n c ỉ ả quyết v n
d n s , ươ n s k ôn có quyền k ở k n yêu cầu T n ả quyết l v n d n
s ó, nếu v c k ở k n v n s u k ôn có k c vớ v n trước về n uyên ơn,
bị ơn và qu n p p lu t có tr n c ấp, trừ trườn ợp quy ịn t k oản 3 Đ ều
192, ểm c k oản 1 Đ ều 217 củ Bộ lu t này và c c trườn ợp k c t eo quy ịn
củ p p lu t” Hiện nay, có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc khi vụ án bị đình
chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đương sự có được quyền khởikiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án hay không Do đó, TANDTC đã có công văn
giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, theo đó: “…trườn ợp T n r quyết
ịn n c ỉ ả quyết v n d n s v lý do “ uyên ơn k ôn nộp t ền t m ứn
c p ịn tà sản và c p t t n k c” t n uyên ơn k ôn có quyền k ở
k n l ể yêu cầu T ả quyết t ếp v n n ư vớ trườn ợp rút ơn k ở
k n.” 10 Từ các quy định của BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn của TANDTC nêutrên, ta có thể thấy rằng trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầuToà án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ
án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp
10TANDTC (2021), Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02-8-2021 về v c ả p một s vướn mắc tron xét x
Trang 23Đối với vấn đề này hiện nay có ba quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng trong trường hợp đình chỉ theo điểm đ khoản 1Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầuToà án giải quyết lại vụ án dân sự nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ
án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp Quan điểm nàydựa vào quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015.11
Quan điểm thứ hai cho rằng Thẩm phán cần giải thích rõ hậu quả của việcđình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để đương sự hiểu, cóthể hướng dẫn đương sự rút đơn khởi kiện, trường hợp đương sự không đồng ý thìđình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, vàđương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sựnhư quan điểm thứ nhất.12
Quan điểm thứ ba cho rằng cần phải áp dụng quy định các trường hợp kháctheo quy định của pháp luật theo khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 để xác địnhđương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án.13
Đối với quan điểm thứ nhất, mặc dù phù hợp với quy định của pháp luậtnhưng nó không mang tính hợp lý khi áp dụng trong thực tiễn Bởi lẽ, trong nhiềutrường hợp, vì một lý do nào đó đương sự không thể nộp chi phí đúng hạn theothông báo, dẫn đến vụ án bị đình chỉ, và hậu quả kéo theo là đương sự không đượcquyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự nếu việc khởi kiện vụ ánsau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật cótranh chấp
Đối với quan điểm thứ hai, trong thực tiễn khi có đủ căn cứ để đình chỉ giảiquyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, nhiều Thẩm phánthường sẽ giải thích cho đương sự hiểu hậu quả của việc đình chỉ và hướng dẫnđương sự rút đơn khởi kiện để tránh mất quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyếtlại vụ án Mặc dù đây là cách làm giúp cho đương sự được quyền khởi kiện yêu cầuToà án giải quyết lại vụ án, tuy nhiên, nó lại ảnh hưởng đến quyền tự quyết, tự định
đoạt của đương sự Bởi vì “C c c ủ t ể t ến àn t t n c ỉ t c n c c n m v làm s n t v v c ể
ả quyết trên cơ sở p p lu t c ứ k ôn t y mặt c o
11 Nguyễn Phát Lộc, Châu Thanh Quyền, “Quyền khởi kiện lại của nguyên đơn sau khi bị đình chỉ giải quyết vụ
án do không nộp tạm ứng chi phí định giá”, nguyen-don-sau-khi-bi-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-do-khong-nop-tam-ung-chi-phi-dinh-gia, truy cập ngày 27- 01-2021.
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xet-xu/quyen-khoi-kien-lai-cua-12 Nguyễn Phát Lộc, Châu Thanh Quyền, tlđd (11), truy cập ngày 27-01-2021.
13 Nguyễn Phát Lộc, Châu Thanh Quyền, tlđd (11), truy cập ngày 27-01-2021.
Trang 24ươn s quyết ịn n ữn lợ c củ ọ C n v v y, c c quy ịn củ p p lu t TTDS về k ở k n và t lý DS p ả d trên n uyên tắc này” 14 Do đó, không
thể coi đây là một thủ tục bắt buộc đối với Thẩm phán
Đối với quan điểm thứ ba, tác giả cho rằng “c c trườn ợp k c t eo quy
ịn củ p p lu t” được quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 mặc dù chưa
được hướng dẫn cụ thể Tuy nhiên, việc đưa điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm
2015 vào trường hợp ngoại lệ “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” đểxác định đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án là không thoảđáng Bởi lẽ, không có văn bản nào khác quy định trường hợp đình chỉ theo điểm đkhoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà
án giải quyết lại vụ án Hơn nữa, trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đkhoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 không thuộc những trường hợp ngoại lệ đượcliệt kê trong khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015
Quan điểm của tác giả là cần phải trao cho đương sự được quyền khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án trong trường hợp vụ án bị đình chỉ theo điểm đkhoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Bởi lẽ, xem xét đến những trường hợp luậtđịnh đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân
sự, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bịđơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDSnăm 2015, và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-
2017 của HĐTP TANDTC hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộpđơn khởi kiện lại vụ án thì đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa ángiải quyết lại vụ án bởi một trong các nguyên nhân: Sự việc đã được giải quyết bằngbản án, quyết định đã có hiệu lực; hoặc đương sự không còn tồn tại mà quyền, ngh a
vụ của họ không được kế thừa; hoặc quyền, ngh a vụ của đương sự được thực hiệntheo thủ tục phá sản; hoặc thời hiệu khởi kiện đã hết; hoặc vụ án không thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án, tức là những lý do này không đến từ phía đương sự,
mà nó tồn tại khách quan, luật đã quy định rằng nếu thuộc những trường hợp nhưtrên Toà án phải đình chỉ giải quyết vụ án Nếu cho đương sự quyền khởi kiện yêucầu Tòa án giải quyết lại vụ án thì Toà án lại tiếp tục thụ lý và đình chỉ vụ án, vònglặp này cứ tiếp diễn bởi lý do đình chỉ vẫn còn tồn tại chừng nào luật còn chưa sửa
14Nguyễn Thị Hương (2019), K ở k n và t lý v án dân s - ữn vấn ề lý lu n và t c t ễn, Luận án Tiến s , Trường
Đại học Luật Hà Nội, tr.59.
Trang 25đổi Chỉ duy nhất trường hợp “ uyên ơn k ôn nộp t ền t m ứn c p ịn
tà sản và c p t t n k c t eo quy ịn củ Bộ lu t này ” không thuộc một trong các trường
hợp nêu trên Lý do đình chỉ trong trường hợp này xuất hiện mang tính chất chủquan từ phía đương sự, việc có nộp chi phí tố tụng hay không là do đương sự quyếtđịnh Nó có thể xuất hiện sau khi Toà án thụ lý và ban hành thông báo nộp tiền tạmứng chi phí tố tụng hoặc không xuất hiện Có thể tại thời điểm này đương sự chưa
có khả năng tài chính, nên Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự dođương sự không nộp chi phí tố tụng, nhưng chẳng có lý do gì lại không cho họ cóquyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó cả Bởi vì, xét về mặt luậtđịnh, khi thụ lý vụ án mới không có căn cứ nào để đình chỉ giải quyết vụ án Vậy,tại sao trường hợp vụ án bị đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều
217 BLTTDS năm 2015 “ ) uyên ơn k ôn nộp t ền t m ứn c p ịn
tà sản và c p t t n k c t eo quy ịn củ Bộ lu t này” đương sự lại không được quyền
khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự?
d t n u n c t ể n ư s u: HĐTP TANDTC đã quyết định hủy Quyết định số
66/2018/QĐ-PT ngày 18-4-2018 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, vàQuyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 839/2017/QĐST-DS ngày07-7-2017 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp chia thừa kế”giữa nguyên đơn là bà Trương Thị Mỹ Ngọc với bị đơn là bà Tào Yến và những
người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan khác, với nhận định: “Công văn s
279/TATP-TDS ngày 13-3-2017 củ T n n n d n T àn p Hồ c M n yêu cầu bà ọc t c n v c ón t ền t eo t ôn b o nộp c p ịn l t ể n: “S u k n c ỉ ả quyết v n, bà Trươn T ịMỹ ọc vẫn ược quyền
k ở k n l bằn v k n k c k có yêu cầu” ư v y, T ôn b o này k ôn ú
n t eo quy ịn t k oản 1 Đ ều 218 BLTTDS năm 2015 Đồn t ờ t m c 2
củ Quyết ịn n c ỉ ả quyết v n d n s s 839/2017/QĐST-DS ngày
07-7-2017 nêu trên ã :“Đươn s ược quyền k ở k n l v n d n s k có yêu cầu” cũn tr vớ k oản 1 Đ ều 218 BLTTDS năm 2015.” 15
Ý k ến củ t c ả: Trong tình huống trên, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ
Ngọc đã được tống đạt hợp lệ thông báo nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản, nhưng
đã không thực hiện Do đó, vụ án bị đình chỉ và bà Ngọc không được quyền khởikiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự theo khoản 1 Điều 218 BLTTDS
15 Phụ lục 04: Quyết định giám đốc thẩm số 21/2020/DS-GĐT ngày 23-4-2020 của HĐTP
TANDTC.
Trang 26năm 2015 Nếu đối chiếu với quy định của BLTTDS năm 2015, cấp sơ thẩm vàphúc thẩm tuyên nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự khi có yêu cầu làkhông đúng Vì vậy, HĐTP TANDTC huỷ quyết định của cấp sơ thẩm và phúc thẩm
là hoàn toàn đúng quy định Nhưng, xét về tính hợp lý, chúng ta chưa thấy được sựhợp lý, bởi lẽ, biểu mẫu thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng thể
hiện, thời hạn nộp chi phí tố tụng, “tùy từn trườn ợp, căn cứ quy
ị
n củ p p
lu t mà T n t ờ n ươn s p ả nộp c p t t n ” Đ vớ trườn
ợp mà p p lu t k ôn quy ịn , t ờ n ươn s p ả nộp c p t t n là 15
n ày làm v c, kể từ n ày n n ược t ôn b o củ T n, trườn ợp v s k n bất k ả k n oặc trở n k c qu n t t ờ n có t ể kéo dà n ưn k ôn
qu 20 n ày” 16 Theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Pháp lệnh chi phí giám định, định
giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng thì “trong
t ờ n 05 n ày làm v c, kể từ n ày n n ược t ôn b o củ T n, n ườ yêu cầu T n tr u t p n ườ làm c ứn p ả nộp t ền t m ứn c p c o n ườ làm
c ứn ”; Điều 20 Pháp lệnh nêu trên quy định thời hạn nộp tiền tạm ứng chi phí giám định là “10 n ày làm v c, kể từ n ày n n ược t ôn b o củ T n Trườn ợp v s k n bất k ả k n oặc trở n k c qu n t t ờ n có t ể kéo dà n ưn k ôn qu 15 n ày” Đối với các khoản chi phí tố tụng khác quy
định theo mục 2 Chương IX của BLTTDS năm 2015 thì luật không quy định thờihạn nộp chi phí tố tụng Vì vậy, thời hạn nộp được tính là 15 ngày và có thể kéo dàinhưng không quá 20 ngày Biểu mẫu cũng thể hiện, hết thời hạn nêu trên mà đương
sự không thực hiện, thì Toà án đình chỉ giải quyết theo quy định tại điểm đ khoản 1Điều 217 BLTTDS năm 2015
Có một thực tế rằng không phải đương sự nào cũng có khả năng kinh tế để cóthể nộp chi phí cho Toà án theo đúng thời hạn trong thông báo Trong ví dụ nêu trên,khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã 03 lần gửi Thông báo nộp tiền tạm ứng chiphí định giá nhà đất tới nguyên đơn là bà Trương Thị Mỹ Ngọc Tuy nhiên, bà Ngọcvẫn không thực hiện Quy định của BLTTDS năm 2015 không bắt buộc Toà án phảithông báo cho đương sự nhiều lần, chỉ cần tống đạt hợp lệ thông báo cho đương sự mà
họ không thực hiện, thì được quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm
đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Như vậy, chỉ vì không có khả năng nộp chiphí tố tụng mà đương sự mất quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
16 Biểu mẫu số 04-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm
2017 của HĐTP TANDTC ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
Trang 27mình đang bị người khác xâm phạm Đối với vụ án nêu trên, HĐTP TANDTC huỷquyết định của cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, vì lý do cấp sơ thẩm và phúc thẩmtuyên đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án, điều nàydẫn đến hệ quả bà Ngọc không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại
vụ án nữa, trong khi tranh chấp giữa bà Ngọc và bà Yến vẫn còn tồn tại trên thực tế.Vậy bà Ngọc làm cách nào để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình? Nhìn lạinhững trường hợp được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theoquy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015, quy định tại điểm c khoản 1
Điều 217 BLTTDS năm 2015,“ ườ k ở k n rút toàn bộ yêu cầu k ở k n oặc n uyên ơn
ã ược tr u t p ợp l lần t ứ mà vẫn vắn mặt…” cũng là trường hợp lý do đình chỉ
xuất phát từ nguyên nhân chủ quan của đương sự, xuất hiện sau khi Toà án thụ lý vụ
án, tương tự như trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm đ khoản 1Điều 217 BLTTDS năm 2015, nhưng đương sự vẫn được quyền khởi kiện yêu cầuToà án giải quyết lại vụ án Vậy tại sao trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theođiểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 đương sự lại không được quyền khởikiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án?
Từ những phân tích nêu trên, tác giả kiến nghị nhƣ sau:
Quốc hội cần sớm sửa đổi khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 về quyềnkhởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án của đương sự trong trường hợp đìnhchỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, theo hướngđương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự
Trang 28Kết luận Chương 1
“Quyết ịn n c ỉ ả quyết v n d n s là p ươn t ức ả quyết v n
d n s về n t ức”17, nó được ban hành khi xuất hiện lý do đình chỉ thuộc một trongcác trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Do đó, xác địnhviệc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước hay không đóng vai trò quan trọngtrong việc giúp đương sự tái khởi động lại việc khởi kiện tại Toà án BLTTDS năm
2015 cũng đã quy định về vấn đề này, tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng cho thấy,nếu chỉ áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 để xét sự khácnhau giữa tư cách đương sự, quan hệ pháp luật có tranh chấp để xác định việc khởikiện vụ án sau khác vụ án trước hay không là chưa đầy đủ Do đó Quốc hội cần bổsung quy định tại Điều 218 BLTTDS 2015 theo hướng khi xem xét, đánh giá việckhởi kiện vụ án sau khác vụ án trước, qua đó xác định đương sự có quyền khởi kiệnyêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự hay không, cần dựa trên tiêu chí về nộidung và hình thức Về hình thức, việc khởi kiện vụ án sau phải khác vụ án trước vềnguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp; về nội dung, việc khởi kiện vụ
án sau phải khác vụ án trước về đối tượng tranh chấp, bản chất vụ án
Việc quy định đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giảiquyết lại vụ án dân sự, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước vềnguyên đơn, bị đơn, quan hệ pháp luật có tranh chấp khi vụ án bị đình chỉ theo điểm
đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 là không hợp lý Bởi vì, xét về bản chất thìtrong thực tế tranh chấp giữa các bên vẫn còn tồn tại mà không được giải quyết Lý
do đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này chỉ tồn tại giới hạn trong vụ án đã
bị đình chỉ, khi đương sự khởi kiện lại, việc đương sự không nộp tiền tạm ứng chiphí định giá, chi phí tố tụng vẫn chưa xảy ra chừng nào Toà án chưa ban hành thôngbáo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng, và có thể không xảy ra nếu ở thời điểm này họ
đã đủ điều kiện kinh tế Trong khi những trường hợp còn lại mà pháp luật quy địnhđương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, lý do đểđình chỉ giải quyết vụ án tồn tại xuyên suốt ngay cả trước khi đương sự nộp đơnkhởi kiện lại Do đó, Quốc hội cần sớm sửa đổi khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm
2015 theo hướng trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1Điều 217 BLTTDS năm 2015, đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giảiquyết lại vụ án dân sự
17 Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), tlđd (1), tr.346.
Trang 29CHƯƠNG 2
XỬ LÝ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo BLTTDS năm 2015ngoài việc xác định đương sự có được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại
vụ án hay không, còn phải bàn đến vấn đề tạm ứng án phí được xử lý như thế nào.Tuy nhiên, đối với trường hợp đình chỉ giải quyết theo điểm h khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015 hiện nay chưa có hướng dẫn việc xử lý tiền tạm ứng án phí
Ngoài ra, đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyếtđịnh giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ ánthì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác
có liên quan (nếu có) Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn giải quyết hậu quảcủa việc thi hành án khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án như thế nào
Một vấn đề khác không được quy định tại điều 218 BLTTDS năm 2015nhưng khi đình chỉ giải quyết vụ án, trong một số trường hợp Toà án phải xem xétgiải quyết, đó là những vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Khi vụ án bịđình chỉ, Toà án phải huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đang có hiệu lực, đồngthời phải xem xét xử lý đối với biện pháp bảo đảm trong trường hợp người yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm Như vậy,đây có được xem là hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án hay không, và cóđược thể hiện trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hay không
2.1 Xử lý tạm ứng án phí trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự khi có căn cứ thuộc “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”
Theo khoản 2 Điều 218 BLTTDS năm 2015 và khoản 2 Điều 18 Nghị quyết326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, những trường hợpToà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm a, b khoản 1 Điều
217 BLTTDS năm 2015, hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lầnthứ hai mà vẫn vắng mặt theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, thì sốtiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp bị sung vào công quỹ nhà nước
Ngược lại, theo khoản 3 Điều 218 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 18Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tạiđiểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e, g khoản 1 Điều 217 củaBLTTDS năm 2015 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ
Trang 30Có thể thấy rằng các nhà làm luật quy định hướng xử lý tiền tạm ứng án phí
mà đương sự đã nộp dựa vào căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên,trường hợp vụ án bị đình chỉ theo điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015không được hướng dẫn tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp sẽ được xử lý như thếnào Về kỹ thuật lập pháp, Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định các căn cứ đểđình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo hướng liệt kê, và điểm yếu của phương phápliệt kê là có thể sẽ bỏ sót một căn cứ nào đó hoặc có những tình huống mà các nhàlàm luật chưa dự liệu đến Vì vậy, các nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định mang
tính dự phòng tại điểm h là các trường hợp khác theo quy định của pháp luật “Đ y
là quy ịn cần t ết n ằm ảm bảo s ều c ỉn toàn d n củ p p lu t và
n n quy ịn củ c c văn bản p p lu t l ên qu n và văn bản p p lu t mớ b n
àn ” 18 Trước đây, Điều 24 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủtục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửađổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã
hướng dẫn “2 “C c trườn ợp k c mà p p lu t có quy ịn ” quy ịn t ểm
k k oản 1 Đ ều 192 củ B TTDS là c c trườn ợp làm căn cứ c o Toà n r quyết
ịn n c ỉ ả quyết v n d n s mà tron B TTDS này c ư quy ị n n ưn
ã ược quy ịn tron c c văn bản quy p m p p lu t k c oặc s u k
B TTDS có u l c t àn mớ ược quy ịn tron c c văn bản quy p m p p
lu t ược b n à n s u ó oặc tron c c ều ước qu c tế mà Cộn oà xã ộ
c ủ n ĩ t m là t àn v ên.” Tuy nhiên, quy định này hướng dẫn choBLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã hết hiệu lực thi hành Hiện nay,chưa có hướng dẫn đối với điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để chỉ rõnhư thế nào là các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Chỉ có khoản 3Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định các trường hợp kháctheo quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 như sau,
“…3 "C c trườn ợp k c t eo quy ịn củ p p lu t" quy ịn t ểm d
k oản 3 Đ ều 192 Bộ lu t t t n d n s năm 2015 là c c trườn ợp tron Bộ lu t
T t n d n s năm 2015 c ư quy ịn n ưn ã ược quy ịn tron ị quyết này, c c văn bản quy p m p p lu t k c oặc tron c c ều ước qu c tế mà nước Cộn xã ộ c ủ n ĩ t m là t àn v ên.” Thiết ngh , chúng ta có
18 Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), tlđd (1), tr.337.
Trang 31án phí mà đương sự đã nộp được xử lý như thế nào trong trường hợp đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự với lý do thuộc “Các trường hợp khác theo quy định của phápluật” là có cơ sở Bởi lẽ, “Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” nhưmột sự dự liệu mà các nhà làm luật dành cho các căn cứ cụ thể dẫn đến đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự phát sinh trong tương lai, bởi vì chưa thể xác định được đó lànhững căn cứ gì thì không thể nào đưa ra hướng xử lý cụ thể đối với số tiền tạm ứng
án phí được Tuy nhiên, đối với trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án đã được Nghịquyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6, đây là một căn cứ
cụ thể Vì vậy, không quy định hướng xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương sự đãnộp là một sự thiếu sót
S u y là một t n u n c t ể: TAND tỉnh Bình Thuận đã đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự về việc “Tranh chấp huỷ văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế vàtranh chấp huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Lâm ThịHường và bị đơn ông Đào Thanh Bằng theo điểm h khoản 1 Điều 217 của BLTTDSnăm 2015, tại phần hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án, TAND tỉnh Bình
Thuận tuyên “…Trả l c o bà m T ị Hườn s t ền 600.000 ồn
(S u trăm n àn ồn ) t m ứn n p mà bà Hườn ã nộp…” 19
Ý k ến củ t c ả: Mặc dù Điều 218 BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết
04/2017/NQ-HĐTP chưa quy định trường hợp đình chỉ theo điểm h khoản 1 Điều
217 BLTTDS năm 2015 thì xử lý tiền tạm ứng án phí như thế nào, nhưng việcTAND tỉnh Bình Thuận tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự là hợp lý
19 Phụ lục số 05: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 24/2019/QĐST-DS ngày 19-9-2019 của TAND tỉnh Bình Thuận.
Trang 32Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 218 BLTTDS năm 2015 có ba trường hợp tiền tạmứng án phí bị sung vào công quỹ nhà nước Ba trường hợp nêu trên có thể chia làmhai nhóm Nhóm thứ nhất là hai trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn hoặc bị đơn là cánhân đã chết mà quyền, ngh a vụ của họ không được thừa kế và cơ quan, tổ chức đã
bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, ngh a
vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó Tức là các nhà làm luật dựa trên việc một trongcác bên đương sự không còn tồn tại nữa và quyền, ngh a vụ của họ không được thừa
kế để tịch thu sung công quỹ nhà nước tiền tạm ứng án phí; nhóm thứ hai là trườnghợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không
có đơn xin vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan Trườnghợp này tiền tạm ứng án phí không được trả lại cho đương sự, căn cứ của quy địnhnày dựa trên ý thức chủ quan của đương sự, cụ thể là nguyên đơn có chấp hành theogiấy triệu tập của Toà án hay không Quy định này nhằm đề cao ngh a vụ của đương
sự, tăng trách nhiệm của đương sự trong quá trình tố tụng Như vậy, đình chỉ giảiquyết vụ án theo điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 không thuộc mộttrong hai nhóm nêu trên, nên không thuộc trường hợp tịch thu sung công tiền tạmứng án phí của đương sự Vì vậy, cần tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho họ
Trong tình huống nêu trên, Toà án đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm hkhoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, điểm c khoản 2 điều 6 Nghị quyết04/2017/NQ-HĐTP, bởi vì sau khi thụ lý không tống đạt được thông báo thụ lý cho
bị đơn, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới, Toà án tiến hành xác minhđịa chỉ mới nhưng không có kết quả và không thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ.Như vậy, căn cứ đình chỉ trong vụ án này không thuộc nhóm nào trong hai nhóm màtiền tạm ứng án phí bị tịch thu sung công quỹ nhà nước quy định tại Điều 218BLTTDS năm 2015, vì vậy, tiền tạm ứng án phí cần được trả lại cho đương sự
Từ những phân tích nêu trên, tác giả đƣa ra kiến nghị nhƣ sau:
HĐTP TANDTC cần bổ sung quy định về việc xử lý tiền tạm ứng án phí củađương sự trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm h khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015, điểm c khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-
2017 theo hướng tiền tạm ứng án phí được trả lại cho đương sự Đồng thời, trong tươnglai, khi tiếp tục có hướng dẫn về những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án cụ thể thuộc
“những trường hợp khác theo quy định của pháp luật” tại điểm h khoản 1 Điều 217BLTTDS năm 2015, cần quy định hướng xử lý tiền tạm ứng án phí đối với từng
Trang 33trường hợp, tương tự như cách mà khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP đã quy định về quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự khi đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm h khoản 1 Điều
217 BLTTDS năm 2015, điểm c khoản 2
điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP “Trườn ợp v n bị n c ỉ ả quyết t eo ướn dẫn t ểm c k oản 2 Đ ều này t t eo quy ịn t ểm d k oản 3 Đ ều
192 Bộ lu t T t n d n s năm 2015, n ườ k ở k n có quyền k ở k n l v n
ó k cu n cấp ược ầy ủ và ún ị c ỉ nơ cư trú, làm v c oặc nơ có tr sở
củ n ườ bị k n, n ườ có quyền lợ , n ĩ v l ên qu n”.
2.2 Giải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Trong thực tiễn xét xử, có nhiều trường hợp vụ án đã được giải quyết bằngbản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm,tái thẩm và hồ sơ vụ án được giao lại cho cấp sơ thẩm giải quyết lại từ đầu Bởi vìbản án được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là những bản án đã cóhiệu lực pháp luật Do đó, có thể trong thực tế đã được thi hành án một phần hoặcthi hành án xong Khi quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án đã có hiệulực, và việc giải quyết vụ án quay lại từ cấp sơ thẩm, có nhiều trường hợp nguyênđơn đã đạt được mục đích khởi kiện, nên họ có đơn rút yêu cầu khởi kiện hoặc trốntránh ngh a vụ không đến Toà án để tham gia tố tụng Vì vậy, Toà án ban hành quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm
2015 Nhưng trường hợp này bản án đã có hiệu lực và được thi hành trước khi bắtđầu giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, nếu chỉ đơn thuần đình chỉ giải quyết vụ án,vậy hậu quả do việc thi hành án theo bản án đã bị huỷ được giải quyết như thế nào?BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 không quy định hướng giải quyếtđối với trường hợp này, nhưng BLTTDS năm 2015 đã có quy định để tháo gỡ vướngmắc nêu trên, khoản 4 Điều 217 BLTTDS năm 2015 đã quy định đối với vụ án đượcxét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm màTòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giảiquyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trườnghợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫnvắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người cóquyền lợi, ngh a vụ liên quan
Để thống nhất thi hành quy định này trong thực tiễn, HĐTP TANDTC đã
hướng dẫn: “…trườn ợp n uyên ơn rút toàn bộ ơn k ở k n oặc ã ược
Trang 34tr u t p ợp l lần t ứ mà vẫn vắn mặt n ưn ọ k ôn ề n ị xét x vắn mặt oặc v s k n bất k ả k n , trở n k c qu n, T n p ả ý k ến củ
bị ơn, n ườ có quyền lợ n ĩ v l ên qu n về v c có ồn ý n c ỉ ả quyết
v n y k ôn , có yêu cầu ả quyết u quả củ v c t à n n, c c vấn ề khác có liên quan k ôn và tùy từn trườn ợp x lý n
ư s
u :
- Trườn ợp bị ơn k ôn ồn ý n c ỉ ả quyết v n, yêu cầu ả quyết u quả củ v c t àn n, c c vấn ề k c có l ên qu n t T n r quyết ịn n c ỉ yêu cầu củ n uyên ơn, x c ịn l tư c c b ị ơn trở t àn
n uyên ơn và n uyên ơn trở t àn
b
ị ơn.
- Trườn ợp bị
ơ
n ồn ý n c ỉ ả quyết v n n ưn n ườ có quyền
lợ , n ĩ v l ên qu n k ôn ồn ý n c ỉ ả quyết v n, yêu cầu ả quyết
u quả củ v c t àn n, c c vấn ề k c có l ên qu n, yêu cầu ộc l
p
n r quyết ịn n c ỉ yêu cầu củ n uyên
ơn , n c ỉ yêu cầu p ản t củ bị
ơn (nếu có); n ườ có quyền, n ĩ v l ên qu n trở t àn n uyên ơn, n ườ nào bị
n ườ có quyền, n ĩ v l ên qu n yêu cầu T n ả quyết t trở t àn bị
ơn T
n t ếp t c ả quyết v n t eo t ủ t c c un
- Trườn ợp bị ơn, n ư ờ có quyền lợ , n ĩ v l ên qu n ồ n ý n c ỉ
ả quyết v n, k ôn yêu cầu ả quyết u quả củ v c t àn n, c c vấn ề
k c có l ên qu n t T n n c ỉ ả quyết v n và ả quyết vấn ề n p ,
k ôn ả quyết vấn ề u quả củ v c t àn n.
- Trườn ợp bị ơn, n ườ có quyền lợ , n ĩ v l ên qu n ã ược T n
tr u t p ợp l ến lần t ứ ể ý k ến về v c có ồn ý n c ỉ ả quyết v
n y k ôn , có yêu cầu ả quyết u quả củ v c t àn n, c c vấn ề k c
có l ên qu n k ôn n ưn vẫn vắn mặt k ôn v s k n bất k ả k n , trở n
k c qu n t co n ư ồ n ý n c ỉ v c ả quyết v n”20
Theo hướng dẫn nêu trên, vụ án được thụ lý lại sau khi có quyết định giámđốc thẩm, tái thẩm mà nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện hoặc được triệu tập hợp lệlần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì lý do khách quan, không có đơn đề nghị xét
Trang 35xử vắng mặt thì Toà án phải hỏi ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, ngh a vụ liênquan có đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án hay không, và có yêu cầu giải quyết hậuquả của việc thi hành án hay không Nếu họ đồng ý thì đình chỉ giải quyết vụ án,trường hợp họ không đồng ý thì đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn và thay đổi tư
20
Hội đồng Thẩm phán TANDTC (2019), T ôn b o kết quả ả p tr c tuyến một s vướn mắc về n s , d n s và t t
n àn c n số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019
Trang 36cách tố tụng Đối với việc giải quyết hậu quả của việc thi hành án thì Toà án chỉ giảiquyết khi đương sự có yêu cầu.
Khi bản án được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì sẽ xảy rahai trường hợp, trường hợp đầu tiên là kết quả của quyết định giám đốc thẩm, táithẩm giống với bản án có hiệu lực pháp luật đã được thi hành, và trường hợp thứ hai
là kết quả của quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm khác với bản án có hiệu lực phápluật đã được thi hành Việc giải quyết hậu quả của việc thi hành án chỉ được đặt ratrong trường hợp kết quả của quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm khác với bản án
có hiệu lực pháp luật đã được thi hành HĐTP TANDTC hướng dẫn rằng khi đìnhchỉ giải quyết vụ án, phải hỏi ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi ngh a vụ, liênquan xem họ có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án hay không Hướngdẫn của TANDTC là phù hợp, bởi lẽ, dù giải quyết hậu quả của việc thi hành án thìquyền tự định đoạt của đương sự cũng phải được tôn trọng, họ có quyền tự quyếtđịnh rằng có yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của việc thi hành án hay không
Khi quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án có hiệu lực pháp luật đểxét xử sơ thẩm lại từ đầu, điều đó đồng ngh a rằng những ngh a vụ được đặt ra trongbản án có hiệu lực pháp luật không còn giá trị bắt buộc các bên phải thực hiện Thếnhưng, bản án này đã được thi hành trên thực tế trước khi có quyết định giám đốcthẩm, tái thẩm, vì lẽ đó, BLTTDS năm 2015 quy định trong quá trình xét xử sơ thẩmlại nếu Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì phải giải quyết hậu quả củaviệc thi hành án nhằm khắc phục những sự xáo trộn do bản án có hiệu lực pháp luật
đã được thi hành gây ra Tuy nhiên, hiện nay lại chưa có hướng dẫn cụ thể giảiquyết hậu quả của việc thi hành án như thế nào Bởi vì giải quyết hậu quả của việcthi hành án không chỉ đơn giản là buộc người được thi hành án hoàn trả lại tài sản,
mà trên thực tế có thể người được thi hành án sau khi nhận được tài sản đã chuyểngiao cho người thứ ba, nên không còn tài sản để hoàn trả lại cho người phải thi hành
án ban đầu, cả người phải thi hành án ban đầu cũng như người thứ ba nhận chuyểngiao tài sản đều cần phải được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Vậy trongtrường hợp này người phải thi hành án ban đầu có được nhận lại tài sản từ người thứ
ba hay không hay được bồi hoàn lại giá trị? Và nếu bồi hoàn lại giá trị tài sản thì giátrị tài sản được xác định vào thời điểm nào?
Có quan điểm cho rằng, đây là quy định mới được bổ sung trong BLTTDSnăm 2015 nên hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, do đó, Tòa án có thể
Trang 37áp dụng tương tự theo tinh thần nội dung điều luật quy định tại khoản 2 Điều 136,khoản 3 Điều 135 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 để giảiquyết hậu quả của việc thi hành án khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, cụ thể:Trường hợp tài sản đã thi hành án là động sản phải đăng ký và bất động sản cònnguyên trạng thì Toà án buộc bên đã được nhận tài sản theo bản án bị huỷ phải trảlại tài sản cho bên đã giao theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật bị huỷ;trường hợp tài sản đã bị thay đổi hiện trạng hoặc đã được chuyển dịch hợp pháp chongười thứ ba ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản
án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau
đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa thìToà án tuyên người đã giao tài sản ban đầu được bên nhận tài sản bồi hoàn lại giátrị.21
Tác giả đồng ý đối với hướng xử lý theo quan điểm trên Tuy nhiên, đối vớiđộng sản, ngoài những loại động sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký, còn cónhững loại động sản không phải đăng ký Quan điểm trên chỉ bàn đến tài sản phảithi hành án là động sản phải đăng ký và bất động sản, đối với động sản không phảiđăng ký thì không được nhắc đến Trong thực tiễn, có thể tài sản thi hành án là độngsản không phải đăng ký như trâu, bò…nếu bản án có tài sản tranh chấp là động sảnkhông phải đăng ký bị huỷ, mà bản án này đã được thi hành xong thì vấn đề xử lýhậu quả của việc thi hành án vẫn được đặt ra Do đó, xử lý hậu quả của việc thi hành
án phải bao gồm cả việc xử lý đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, ngoàibất động sản và động sản phải đăng ký
Đối với việc bồi hoàn lại giá trị tài sản, cần phải có quy định rõ giá trị tài sảnđược bồi hoàn là giá trị được xác định vào thời điểm nào để bảo vệ quyền lợi chocác đương sự Theo tác giả, cần phải xác định giá trị bồi hoàn là giá trị của tài sảnvào thời điểm Toà án giải quyết hậu quả của việc thi hành án Bởi lẽ, vì thi hành bản
án có hiệu lực pháp luật nên chủ sở hữu buộc phải chuyển giao tài sản cho ngườiđược thi hành án Nếu không có bản án này, hiện tại họ vẫn là chủ sở hữu của tàisản đó Do đó, giá trị bồi hoàn phải tương đương với tài sản phải thi hành án vàothời điểm Toà án giải quyết hậu quả của việc thi hành án, điều này đảm bảo quyềnlợi cho người phải thi hành án, dù họ không nhận lại được tài sản, nhưng giá trị bồihoàn có thể giúp họ có được tài sản khác có giá trị tương đương
21Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Hải Anh, “Bàn về quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015”, https://tap chitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-quy-dinh-moi-tai-khoan-4-dieu-217-blttds-2015, truy cập ngày 13-7-2021.
Trang 38d v v c c t ể n ư s u: Bà Nguyễn Thị Hai và ông Võ Tấn Đạt khởi kiện đối
với ông Nguyễn Tấn Cường và bà Võ Thị Cân yêu cầu công nhận quyền sở hữu đốivới nhà và đất Sau khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và bản án phúc thẩm đã được thihành xong, cả hai bản án trên đều bị huỷ bởi Quyết định giám đốc thẩm số89/2013/GĐT-DS ngày 11-7-2013 của HĐTP TANDTC để xét xử lại Ngày 14-10-
2013, TAND tỉnh Long An đã thụ lý lại vụ án Phía nguyên đơn được Toà án triệutập nhưng không đến Ngày 22-9-2015 Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã đình chỉgiải quyết vụ án22, ông Cường và bà Cân tiếp tục kháng cáo quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án nêu trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không
chấp nhận kháng cáo với nhận định: “… ết t ờ n uỷ t c tư p p lần 2 n ưn bà
H và ôn Đ t k ôn có ý k ến p ản ồ t eo quy ịn t ểm e k oản 1 Đ ều 192
Bộ lu t T t n D n s Bản n s 12/2010/DSPT n ày 19-01-2010 củ Toà p úc
t ẩm Toà n n n d n t c o ã t àn xon Bà H và ôn Đ t k ôn t c n
c c t ủ t c k ở k n ể ả quyết l v n t eo yêu cầu củ Toà n Bị ơn ôn Cườn và bà C n cũn k ôn t c n t ủ t c p ản t mà Toà n tỉn on n ã ướn dẫn… Do ó Toà n n n d n tỉn on n ã quyết ịn n c ỉ ả quyết v n là có căn cứ…” 23
Một ví dụ khác về trường hợp này là vụ án tranh chấp hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dương và bị đơn ôngPhạm Xuân Long, bà Nguyễn Thị Chinh Ông Dương khởi kiện yêu cầu ông Long
và bà Chinh phải có ngh a vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất Bản án dân sự sơ thẩm24 và phúc thẩm25 đã chấp nhận yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, ngày 04-01-2019 ôngDương đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranhchấp và ngày 29-01-2019 ông Dương đã chuyển nhượng diện tích đất tranh chấpnày cho người khác Ngày 08-8-2019 Viện trưởng VKSND cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh đã có kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên Quyếtđịnh giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố Hồ ChíMinh đã huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án
22 Phụ lục số 06: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 15/2015/QĐ-ST ngày 22-9-2015 của TAND tỉnh Long An.
23 Phụ lục số 07: Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
số 151/2016/QĐPT-DS ngày 14-7-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
24 Phụ lục số 08: Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2017/DS-ST ngày 18-10-2017 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
25 Phụ lục số 09: Bản án dân sự phúc thẩm số 65/2018/DS-PT ngày 11-4-2018 của TAND tỉnh Đồng Nai.
Trang 39cho TAND huyện Long Thành xét xử lại26 Trong quá trình xét xử sơ thẩm lại thì nguyên đơn có đơn đề nghị rút lại đơn khởi kiện.27
Ýkiến nh n xét của tác giả: Trong tình huống thứ nhất, sau khi bản án phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn đã nhận được tài sản theo quyết định củabản án Vì vậy, khi TAND tỉnh Long An thụ lý lại vụ án, nguyên đơn không đến Toà
án nữa vì đã đạt được mục đích khởi kiện, bị đơn vì muốn được hoàn trả lại tài sản
đã giao cho nguyên đơn nên yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết vụ án Tuy nhiên,theo Điều 193 BLTTDS năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011, chỉ cần nguyênđơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có đơn đề nghịgiải quyết vắng mặt hoặc không vì sự kiện bất khả kháng, thì Toà án đình chỉ giảiquyết vụ án mà không bàn đến hậu quả của việc thi hành án được xử lý như thế nào.Chính vì lẽ đó, TAND tỉnh Long An đình chỉ giải quyết vụ án là đúng với quy
định của BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 Theo kết quả thi hành ánthì bản án dân sự phúc thẩm đã được thi hành xong28, dù việc TAND tỉnh Long Anđình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, nhưng hậu quả của việc thihành án đối với bản án đã bị huỷ vẫn còn tồn tại chưa được giải quyết Đây là bấtcập tồn tại của BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 BLTTDS năm
2015 đã có quy định bổ sung tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS năm 2015 rằng trongtrường hợp vụ án được thụ lý xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết địnhgiám đốc thẩm, tái thẩm mà Toà án đình chỉ giải quyết vụ án thì đồng thời phải giảiquyết hậu quả của việc thi hành án và các vấn đề khác có liên quan (nếu có), quyđịnh này đã khắc phục được vướng mắc nêu trên
Khác với tình huống thứ nhất, tình huống thứ hai xảy ra trong thời gianBLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, do đó, khi nguyên đơn đã được thi hành ántheo bản án đã có hiệu lực pháp luật và có đơn rút yêu cầu khởi kiện thì Toà án khiđình chỉ giải quyết vụ án phải đồng thời giải quyết hậu quả của việc thi hành án vàcác vấn đề khác có liên quan (nếu có) Như vậy, TAND huyện Long Thành khi nhậnđược đơn rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phải hỏi ý kiến của bị đơn, người cóquyền lợi, ngh a vụ liên quan có đồng ý việc đình chỉ giải quyết vụ án hay không, và
có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án hay không
26 Phụ lục số 10: Quyết định giám đốc thẩm số 198/2019/DS-GĐT ngày 04-10-2019 Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
27 Phụ lục số 11: Đơn đề nghị rút lại đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dương.
28 Phụ lục số 12: Công văn số 869/CTHA-CHV ngày 16-9-2015 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An về việc cung cấp thông tin.
Trang 40Hướng dẫn của TANDTC chỉ bàn đến trường hợp bị đơn, người có quyền lợi,ngh a vụ liên quan không đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, có yêu cầu giải quyếthậu quả của việc thi hành án; và trường hợp bị đơn, người có quyền lợi ngh a vụliên quan đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, không yêu cầu giải quyết hậu quả củaviệc thi hành án Vậy trường hợp bị đơn đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, nhưngyêu cầu phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ giải quyết vụ ánthì phải giải quyết như thế nào? Thiết ngh , trong trường hợp này Toà án phải ápdụng khoản 4 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án và giảiquyết hậu quả của việc thi hành án Tuy nhiên, hậu quả của việc thi hành án phảiđược giải quyết như thế nào, phải ưu tiên bảo vệ quyền lợi của ai? Cụ thể trong tìnhhuống thứ hai là ưu tiên bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản trước khi bản án cóhiệu lực được thi hành là ông Long và bà Chinh, hay bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình nhận chuyển nhượng tài sản từ ông Dương? Nguyên đơn ông Dương
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó mới chuyển nhượng chongười thứ ba, người thứ ba nhận chuyển nhượng tài sản từ nguyên đơn là hoàn toànngay tình, nên hoàn toàn có lý do để ưu tiên bảo vệ người thứ ba ngay tình Tuynhiên, về phía ông Long và bà Chinh, họ cũng hoàn toàn không có lỗi, bởi vì bản ántuyên họ phải có ngh a vụ thi hành án nên họ buộc phải tuân theo, sau đó có căn cứ
để huỷ bản án có hiệu lực pháp luật này, tức là bản thân họ không còn ngh a vụ nàotheo bản án nữa, nhưng tài sản đã được chuyển nhượng cho người khác, họ hoàntoàn có quyền yêu cầu được nhận lại tài sản của mình
Hiện nay, chưa có quy định hướng dẫn trong trường hợp này cần phải ưu tiêngiao tài sản cho người thứ ba ngay tình là chủ sở hữu hiện nay của tài sản, hay là giaocho chủ sở hữu của tài sản trước khi bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành ngoàiquy định tại điều 135, 136 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
“Đ ều 135 Thi hành quyết ịn m c thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết ịn ún p p lu t của Tòa án cấp dướ ã bị hủy hoặc bị s a
3 Đ i với phần bản án, quyết ịnh của Tòa án hủy, s a bản án, quyết ịnh của Tòa án cấp dướ mà ã t àn ược một phần hoặc ã t àn xon t ươn s có thể th a thu n với nhau về vi c hoàn trả tài sản, ph c hồi l i quyền tài sản.