1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp tạm giữ theo luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

80 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 542 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì biện pháp tạm giữ là một trong những biện pháp ngănchặn nên có thể hiểu biện pháp tạm giữ ở những gốc độ như: Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Thành phố Hồ ChíMinh đư

Trang 1

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIỮ THEO

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ 7

1.1.1 Khái niệm biện pháp tạm giữ 7

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ 10

1.2 Khái quát về quá trình lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về biện pháp tạm giữ 13

1.2.1 Quá trình lập pháp tố tụng hình sự ở Việt Nam về biện pháp tạm giữ 13

1.2.2 Pháp luật về biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIỮ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ 26

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giữ 26 2.1.1 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ 26

2.1.2 Đối tượng, thẩm quyền quyết định 27

2.1.3 Thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ 31

2.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sư Việt Nam về biện pháp tạm giữ 36

2.2.1 Kết quả áp dụng biện pháp tạm giữ trong thời gian qua 36

2.2.2 Về căn cứ, thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ 38

2.2.3 Về thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ 47

2.2.4 Thay đổi, hủy bỏ và trả tự do cho người bị tạm giữ 51

2.3 Hạn chế và nguyên nhân 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

Trang 2

PHÁP TẠM GIỮ 59

3.1 Những định hướng hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự trong thời gian tới 59

3.1.1 Cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đấu tranh xử lý tội phạm 59

3.1.2 Bảo vệ quyền con người trước hết và trên hết, trong đó có quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ 61

3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về biện pháp tạm giữ và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng 63

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về biện pháp tạm giữ 63

3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng biện pháp tạm giữ 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêng là một chếđịnh quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự Việc áp dụng biện pháp ngăn chặnđúng có sức ảnh hưởng lớn của quá trình tố tụng hình sự, góp phần đấu tranh phòng,chống tội phạm

Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về cácbiện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giữ nói riêng, tại Bộluật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, biện pháp tạm giữ đã được hoàn thiệnrất nhiều trong kết cấu của mình như về căn cứ áp dụng, đối tượng bị áp dụng, thẩmquyền ban hành, thời hạn và trình tự thủ tục ban hành đảm bảo làm sao đầy đủ vàhoàn chỉnh nhất để là cơ sở áp dụng trên thực tiễn được hoàn thiện, tránh thực tế cóhành vi nhưng trong quy định pháp luật tố tụng hình sự lại không có quy định,nguyên tắc để điều chỉnh Tuy nhiên không phải cứ sửa đổi, cứ bổ sung là quy định

sẽ đầy đủ hoàn toàn vì theo quy luật vận động chung của toàn xã hội và cùng với sựvận động phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội hiện nay thì không có gì gọi

là đủ Cụ thể về căn cứ áp dụng đến BLTTHS năm 2015 (tức trải qua 03 lần sửa đổi)thì căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ vẫn còn chung chung, chưa có điều khoản quyđịnh một căn cứ cụ thể, dành riêng cho tạm giữ, do đó những vi phạm từ quá tình ápdụng có thể kể đến như: tạm giữ người không có căn cứ theo quy định củaBLTTHS, áp dụng biện pháp tạm giữ không đúng thẩm quyền, không tuân thủ quyđịnh về trình tự và thủ tục và còn xảy ra tình trạng quá hạn tạm giữ theo quy địnhcủa pháp luật Thậm chí cơ quan điều tra (CQĐT) còn lạm dụng việc áp dụng biệnpháp tạm giữ như một giải pháp để tạo thuận lợi cho hoạt động điều tra, thu thậpchứng cứ Từ những phân tích trên cho thấy, quy định về biện pháp tạm giữ còn tồntại những bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu bảo vệ công lý

Từ yếu tố về quy định pháp luật và yếu tố nhận thức thực tiễn có thể thấy việc quyđịnh chưa đầy đủ, cách hiểu chưa thống nhất, chưa có sự tuyên truyền, phổ biến vềbiện pháp tạm giữ sẽ dẫn đến những hạn chế của quá trình áp dụng pháp luật từ đólàm giảm hiệu quả áp dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động tố tụng, đếnquyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trước tình hình đó, tác giả nhận thấy việcnghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật cũng như đánh giá, bìnhluận những tình huống từ thực tiễn liên

Trang 4

quan đến biện pháp tạm giữ nhằm chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và bất cập vàđưa ra các kiến nghị để hoàn thiện biện pháp này khi áp dụng vào thực tiễn là việclàm cần thiết.

Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Biện pháp tạm giữ theo luật tố tụnghình sự Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đối với đề tài về biện pháp ngăn chặn tạm giữ qua khảo sát tác giả nhận thấy

đã có một số tác giả nghiên cứu, tuy nhiên việc nghiên cứu riêng rẽ đối với biệnpháp tạm giữ thì chỉ tập có số ít tác giả đã nghiên cứu mà đa phần các tác giả nghiêncứu về các biện pháp ngăn chặn và trong đó sẽ lồng ghép biện pháp tạm giữ cùngnhững biện pháp khác hoặc một số đề tài chọn cách so sánh giữa tạm giữ và mộtbiện pháp khác nhằm làm nổi bật vai trò, vị trí của một biện pháp khác tùy vào mụcđích của từng đề tài, từng tác giả Cụ thể ở các đề tài như:

- Luận văn Thạc sỹ luật học “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giam trong

Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, năm 2004 của tác giả Lê Đông Phong; “Các biện pháp ngăn chặn và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tại Thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2003 của tác giả Lê Ngọc Tiến;

“Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc”, năm 2018 của tác giả Khổng Minh Quân Nhìn chung, các công trình

nghiên cứu về những vấn đề cơ bản của biện pháp ngăn chặn nói chung và trong đólồng ghép giới thiệu về biện pháp tạm giữ Những công trình này đã đề cập từnhững quy định chung nhất như về khái niệm biện pháp ngăn chặn đến những căn

cứ áp dụng, đối tượng áp dụng, thời hạn và thẩm quyền áp dụng của biện pháp tạmgiữ tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khái quát về mặt lý luận, chưa cóđánh giá tổng quan và cũng nêu được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn

- Luận văn Thạc sỹ luật học “Biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi

theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”, năm 2020 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn

nghiên cứu về mặt lý luận cũng như có lồng ghép đánh giá thực tiễn áp dụng quyđịnh của pháp luật về biện pháp tạm giữ Trong đó, công trình đã đề cập đến căn cứ,thẩm quyền và thời hạn tạm giữ những chỉ tập trung trong giới hạn đối với chủ thể

áp dụng là người dưới 18 tuổi

- Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật “Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

trong pháp luật tố tụng hình sự” năm 2009 của Trần Thanh Bình nghiên cứu về mặt

Trang 5

lý luận, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn của quy định pháp luật tốtụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn cụ thể trong đó có vấn đề vềcăn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ.

- Bài viết về “Hoàn thiện quy định về tạm giữ trong Bộ luật tố tụng hình sự

Việt Nam” của tác giả Hoàng Văn Hạnh trên Tạp chí Luật học (số 7) năm

2008; bài viết “Phân biệt tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữ

người theo thủ tục hành chính” của tác giả Mai Bộ trên Tạp chí Kiểm sát (số 01)

năm 2006

- Bài viết “Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự Cộng hòa liên bang Đức” của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi trên Cổng thông tin

điện tử của Viện khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bài viết “Báo

cáo tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới” do Viện

kiểm sát nhân dân tối cao ban hành vào tháng 4, năm 2015; bài viết “Thời hạn

trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới” của tác giả Hoàng Anh

Tuyên trên Tạp chí Khoa học kiểm sát (số 3) năm 2014 Các bài viết đã cơ bản giới

thiệu được những quy định liên quan đến biện pháp ngăn chặn nói chung của một sốquốc gia Tuy nhiên, đối với biện pháp tạm giữ (BPTG) chỉ giới thiệu không giớithiệu toàn diện mà chỉ tập trung vào những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền củangười bị áp dụng biện pháp ngăn chặn

- Tài liệu hội thảo về “Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự” của

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ban hành (Tháng 10) năm 2020; Tài

liệu tập huấn “Một số kinh nghiệm và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát tạm

giữ, tạm giam và thi hành án hình sự” của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 2 ban

hành năm 2018 Đây là những tài liệu liên quan đến biện pháp tạm giữ Tuy nhiên,các tài liệu chỉ mới dừng lại ở gốc độ phân tích những quy định, bình luận một sốđiểm hạn chế trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời cũng đưa ranhững kiến nghị, giải pháp khắc phục, nhưng nhìn chung vẫn chưa đánh giá mộtcách toàn diện và đầy đủ

Tóm lại, trên tinh thần tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình khoahọc, bài viết, tài liệu hội thảo, tác giả sẽ kế thừa và phát triển, mở rộng với mongmuốn nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện hơn về biện pháp tạm giữnói riêng dưới gốc nhìn từ lý luận đến thực tiễn, từ đó đưa ra những kiến nghị hoànthiện và giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót để đáp ứng mục đích đấu tranhphòng, chống tội phạm

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận, quy định của phápluật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giữ, khảo sát đánh giá thực trạng ápdụng biện pháp này, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật vềbiện pháp tạm giữ, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần đấu tranh phòng,chống tội phạm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích đã nêu ở trên thì tác giả đề ra một số nhiệm vụ

- Kiến nghị bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật về biệnpháp tạm giữ đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thựctiễn thi hành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, quy định của phápluật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ trong Tố tụng hình sự.Tuy nhiên, đề tài hạn chế ở giới hạn nghiên cứu biện pháp tạm giữ dành cho ngườidưới 18 tuổi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam, bên cạnh đó có nghiên cứu, tham khảo pháp luật tố tụng hình sự củamột số nước như: Cộng hòa Liêng bang Nga, Cộng hòa Đức và Cộng hòa nhân dânTrung Hoa ở một số nội dung như căn cứ áp dụng, thẩm quyền và thời hạn áp dụng

- Về không gian, thời gian: Tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng áp dụngcác quy định của biện pháp tạm giữ trên phạm vi cả nước, tuy nhiên do điều kiện

Trang 7

công tác nên tập trung nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian từ năm

2016 đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

Mác-Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như: Khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê và nghiên cứu những vụ án điểnhình trong đó:

- Phướng pháp phân tích, tổng hợp dùng để phân tích, đánh giá các quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giữ Ở kết thúc mỗi chương đều sửdụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt nội dung từng chương và kết luận chung

- Phương pháp nghiên cứu điển hình vụ án cụ thể để nhận xét, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ trên thực tế

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

-Về mặt lý luận: Tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tincủa nhân dân với Đảng và Nhà nước và đặc biệt là với các cơ quan tư pháp

- Về mặt thực tiễn: Từ việc phân tích các quy định của pháp luật đồng thờichỉ ra và đánh giá được những hạn chế, vướng mắc, khó khăn trong quá trình ápdụng các quy định đó giúp nhà làm luật có cái nhìn khách quan, toàn diện và cónhững hướng khắc phục để từ đó quay trở lại điều chỉnh các quy định trên thực tiễnđược đầy đủ, chính xác hơn

- Về mặt lập pháp: Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, khó khăn trongthực tiễn áp dụng để nhằm thúc đẩy các cơ quan xây dựng pháp luật nhanh chónghoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật tố tụng hình sự nói chung và quy định vềbiện pháp tạm giữ nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục đề tài tham khảo thì luận văn được kết cấu như sau:

Chương 1 Nhận thức chung về biện pháp tạm giữ theo pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam

Trang 8

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp

tạm giữ và thực trạng áp dụng biện pháp tạm giữ

Chương 3 Định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và kiến nghị,

giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giữ

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ

1.1.1 Khái niệm biện pháp tạm giữ

Biện pháp tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn (BPNC) được quy định từ rấtlâu trong pháp luật TTHS của nước ta như ở Điều 68 của BLTTHS 1988, Điều 86của BLTTHS 2003 và Điều 117 của BLTTHS năm 2015 Tuy nhiên, đến nay vẫnchưa có một khái niệm chung thống nhất về biện pháp tạm giữ, dẫn đến có nhiềucách hiểu chưa thống nhất Vì biện pháp tạm giữ là một trong những biện pháp ngănchặn nên có thể hiểu biện pháp tạm giữ ở những gốc độ như:

Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Thành phố Hồ ChíMinh đưa ra khái niệm BPNC thì: “BPNC là những biện pháp cưỡng chế do phápluật tố tụng hình sự quy định và được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc ngườichưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xãhội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành động gây khó khăncho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”1 Khái niệm này đã chỉ rađược đối tượng có thể bị áp dụng và mục đích của việc áp dụng BPNC, tuy nhiênkhông nêu ra những chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC

Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệmBPNC như sau: “BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với

bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợpkhẩn cấp, phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ,ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi cản trở choviệc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”2 Khái niệm này đã trình bày đượcnhững đối tượng có thể bị áp dụng, mục đích và căn cứ của việc áp dụng BPNCnhưng lại chưa nêu được những chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC

Quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Mai cho rằng: “BPNC là những biệnpháp tố tụng do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội(bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) khi có căn cứ do Bộ luậtnày quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó

1Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Luật TTHS, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 259

2Trường đại học Quốc Gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội.

Trang 10

khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tụcphạm tội”3.

Quan điểm của tác giả Phạm Mạnh Hùng cho rằng: “BPNC là biện pháp do

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị nghi làthực hiện tội phạm, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó bỏ trốn, tiêu hủychứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếptục phạm tội”4

Qua các quan điểm khoa học nêu trên tác giả đưa ra một nhận xét rằng nhìnchung các tác giả đã nêu ra được các yếu tố cần có của một biện pháp ngăn chặnnhư về chủ thể áp dụng, đối tượng áp dụng, mục đích và ý nghĩa của việc áp dụngBPNC Vây nên, tổng hòa của các quan điểm trên khái niệm về BPNC được hiểunhư sau:

BPNC là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật TTHS, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã, người bị kết án hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội mới, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Xét trên phương diện pháp lý (từ BLTTHS năm 1988 đến khi BLTTHS năm

2015 có hiệu lực) thì cho đến hiện nay pháp luật tố tụng hình sự nước ta vẫn chưa

có một khái niệm chính thức về biện pháp tạm giữ Nghiên cứu các công trình khoahọc cho thấy có nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm tạm giữtrong pháp luật tố tụng hình sự, một số quan điểm tiêu biểu như:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn được quy

định trong BLTTHS do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn người phạm tội không gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, không tiếp tục thực hiện tội mới và khi cần thiết còn đảm bảo cho việc thi hành án”5

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng

hình sự người có thẩm quyền của cơ quan điều tra và các cơ quan khác do pháp luật quy định áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú,

3Nguyễn Đức Mai (2019), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 169.

4Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2015,Nxb Lao động, Hà Nội, tr 221

5Võ Bình Vương (2019), Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Học viện khoa học xã hội, tr.8.

Trang 11

đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn hành vi cản trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để trên

cơ sở đó ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho họ” 6

Theo bài viết đăng trên trang của Tòa án nhân dân tối cao nhận định: Tạm giữ làmột trong những biện pháp ngăn chặn trong TTHS và là một biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc do những người có thẩm quyền quyết định, khi được áp dụng sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, hạn chế tự do thân thể trong mộtthời hạn nhất định đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quảtang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã7

Căn cứ vào các quan điểm về khái niệm tạm giữ trên có thể thấy mỗi cáchtiếp cận đều phản ánh đúng bản chất, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giữtrong pháp luật tố tụng hình sự Quan điểm thứ nhất đã nêu được đầy đủ thẩm quyền

áp dụng và mục đích của biện pháp tạm giữ, tuy nhiên còn thiếu đối tượng áp dụngcủa biện pháp tạm giữ Quan điểm thứ hai đã nêu được đầy đủ hơn về tính chất pháp

lý, thẩm quyền áp dụng, đối tương bị áp dụng và mục đích của biện pháp tạm giữtrong tố tụng hình sự Quan điểm thứ hai cũng đã nêu thêm về thời gian áp dụngbiện pháp tạm giữ “trong thời hạn ngắn”, tuy nhiên đây là nhận định chưa hoàn toànchính xác Theo quy định tại BLTTHS hiện hành thì thời hạn tạm giữ là không quá

ba ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận người hoặc ra quyết định tạm giữtrong trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú Trường hợp cần thiết cơ quan cóthẩm quyền gia hạn hai lần nhưng mỗi lần gia hạn không quá ba ngày Như vậy, đểđảm bảo tính chính xác và ngôn ngữ pháp lý trong khái niệm biện pháp tạm giữkhông nên dùng cụm từ “trong thời hạn ngắn” Song qua quá trình tìm hiểu các quyđịnh pháp luật liên quan đến biện pháp tạm giữ và một số quan điểm trong côngtrình nghiên cứu khóa học cho thấy quan điểm thứ hai nêu trên đã đưa ra một kháiniệm khá đầy đủ, chi tiết, thể hiện được vị trí, vai trò, thẩm quyền áp dụng, đốitượng áp dụng của biện pháp tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự

6Lưu Xuân Lợi (2017), Biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ

thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, tr.10.

7Tòa án nhân dân tối cao “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet? p_page_id=1754190&p_cateid=175 1909&article_details=1&item_id=18316812#:~:text=T%E1%BA%A1m

%20gi%E1%BB%AF%20l%C3%A 0%20m%E1%BB%99t%20trong,b%E1%BB%8B%20b%E1%BA%AFt

%20trong%20tr%C6%B0%E1%BB %9Dng%20h%E1%BB%A3p, truy cập ngày 17/8/2020.

Trang 12

Theo đó, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của Trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh nhận định: Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tốtụng hình sự do những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trongtrường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạmtội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã8.

Kế thừa những quan điểm trên cũng với các quy định pháp luật tố tụng hình

sự hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giữ như sau: “Tạm giữ là

biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn luật định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật.

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm

giữ *Mục đích

Tiếp tục thực hiện mục đích của biện pháp bắt người, đó là tiếp tục ngăn chặnngười bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bịtruy nã, người phạm tội tự thú, đầu thú không để họ tiếp tục, tạo điều kiện phạm tội

Tạo điều kiện thời gian và điều kiện khác cho cơ quan điều tra, cơ quan tiếnhành một số hoạt động điều tra làm rõ hành vi phạm tội hoặc vô tội

Bảo đảm thực hiện đúng đắn một số nguyên tắc cơ bản trong TTHS, như:nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13), nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Điều 15),nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 19)

Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định cụ thể tạichương VII BLTTHS 2015 Theo đó, Điều 109 BLTTHS quy định mục đích của biệnpháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi cócăn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xửhoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án” Biện pháp tạm giữ được ápdụng đối với bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người trong trường hợpphạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành

vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, tạo điều kiệncho cơ quan có thẩm quyển có đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ của hành vi;

8Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất

bản Hồng Đức, tr.295.

Trang 13

nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, từ đó có cơ sở để quyếtđịnh khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc các quyết định pháp

lý cần thiết khác như: tạm giam, áp dụng hoặc trả tự do cho người bị tạm giữ

* Ý nghĩa

Với mục đích là để ngăn chặn tội phạm, đảm bảo quá trình điều tra, xét xử thihành án trong tố tụng hình sự, biện pháp tạm giữ có ý nghĩa to lớn trong công cuộcđấu tranh, phòng chống tội phạm, đảm bảo quyền con người, quyền công dân và trật

tự an toàn xã hội

Thứ nhất, biện pháp tạm giữ thể hiện quyền lực Nhà nước trong công cuộcđấu tranh, phòng chống tội phạm

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy định:

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” 9 Nhà nước đại

diện cho nhân dân, thực hiện quyền quản lý trên cơ sở Nhân dân làm chủ, tất cả là củaNhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Trong khi đó, các hành vi phạm tội ảnh hưởngđến sự ổn định và phát triển của Nhà nước, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, quốcphòng an ninh và trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự con người và các lĩnh vực khác Chính vì vậy, đấutranh phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng giúp thúc đẩyphát triển nền kinh tế quốc gia và ổn định trật tự xã hội Công cuộc đấu tranh này đòihỏi phải có sự tham gia của cả các cơ quan chức năng và toàn thể xã hội Trong đó, Nhànước trao quyền quyết định cho các cơ quan tiến hành tố tụng mà nồng cốt là cơ quan

điều tra Điều 18, BLTTHS năm 2015 xác định: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội

phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định

để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội Không được khởi

tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” Trong quá

trình giải quyết, điều tra các hành vi phạm tội, các cơ quan chức năng có thẩm quyềnđược quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêngtheo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Thứ hai, việc quy định biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự có tác dụngtrực tiếp đến quá trình điều tra cũng như giải quyết vụ án hình sự

9Điều 8 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Quốc Hội.

Trang 14

Tạm giữ có ý nghĩa là biện pháp đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án, đặcbiệt là hoạt động điều tra ban đầu Thông qua việc áp dụng biện pháp tạm giữ, các

cơ quan chức năng có điều kiện, thời gian để thu thập thông tin, xác định các tìnhtiết phạm tội để làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc trả tự do chongười bị bắt giữ trong trường hợp không có yếu tố tội phạm Tạm giữ giúp quá trìnhxác định tội phạm diễn ra nhanh chóng, chính xác và làm tiền đề cho hoạt động điềutra, truy tố, xét xử của cơ quan có thẩm quyền

Thứ ba, việc quy định biện pháp tạm giữ thể hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo

vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật

Trong các quyền của con người thì có quyền được sống, được bảo vệ về tínhmạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng Điều 20 Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy định: “Mọi

người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Đồng thời, Nhà nước chỉ được can thiệp vào các quyền con người, quyền

công dân theo đúng quy định của pháp luật bởi Khoản 2 Điều 20 của Hiến pháp đã

xác định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết

định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định”.

Khi áp dụng biện pháp tạm giữ, các cơ quan chức năng phải tuân theo đúngquy định của pháp luật để đảm không xâm phạm trái phép quyền con người, quyềncông dân BLTTHS 2015 cũng có nhiều quy định cụ thể hóa để đảm bảo quyền conngười, quyền công dân như: Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất

kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của conngười (Điều 9, Điều 10 BLTTHS năm 2015); Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, tài sản của công dân, cá nhân, theo đó mọi người (cả người bị tạm giữ)

có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tàisản Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, tài sản của cá nhân đều bị xử lý theo pháp luật (Điều 11 BLTTHS năm 2015);Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát(VKS) ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phảitrả tự do ngay cho người bị tạm giữ (Khoản 4, Điều 117)

Trang 15

Việc quy định và áp dụng biện pháp tạm giữ một mặt thể hiện quyền quản lýcủa Nhà nước đối với những hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật Mặckhác lại là một phương tiện hữu hiệu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội,quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân.

1.2 Khái quát về quá trình lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về biện pháp tạm giữ

1.2.1 Quá trình lập pháp tố tụng hình sự ở Việt Nam về biện pháp tạm

giữ * Giai đoạn từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1988

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã lật đổ hoàn toàn bộ máy nhànước phong kiến và dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Đây là cột mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN Cùng với đó, ngày 09/11/1946 Hiến pháp nước ViệtNam được ban hành Đây chính là khởi đầu cho quá trình lập pháp về biện pháp tạmgiữ trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật tố tụng ở nước ta Điều 11 Hiếnpháp năm 1946 quy định: “Tư pháp chưa quyết định, thì không bắt bớ và giam cầmngười công dân” Cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh13/SL ngày 24/01/1946 ra đời trong đó có một số nội dung quy định liên quan vềbiện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêng, cụ thể như:

- Tại Điều thứ 4 Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 quy định: “Ban tư pháp xãkhông có quyền tịch thu tài sản của ai Cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai trừkhi có trát nã của một thẩm phán, hay khi thấy người phạm tội quả tang”

- Điều thứ 5 của Sắc lệnh quy định về thời gian tạm giữ là “Khi bắt ngườitrong hai trường hợp kể trên, ban Tư pháp phải lập biên bản hỏi cung, và giải bị canlên ngay Toà án trên, trong hạn 24 giờ là cùng”

Mặc dù không quy định cụ thể về biện pháp tạm giữ trong pháp luật tố tụnghình sự nhưng đã có một số quy định về căn cứ áp dụng khi bắt, giam giữ ngườitrong hai trường hợp là trát nã của thẩm phán hay phạm tội quả tang Thời gian bắt,giữ người cũng được Sắc lệnh quy định là không quá 24 giờ10

Ngày 31/12/1959, Quốc hội ban hành Hiến pháp nước Việt Nam dân chủcộng hòa năm 1959 Theo đó, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bất khả xâmphạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được bảo đảm.Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phêchuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”

10

Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, Điều thứ 5.

Trang 16

Tại miền Nam nước ta, ngày 15/03/1976 Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâmthời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 02/SL-76 Theo đó, Sắcluật cũng có một số quy định liên quan đến việc bắt giữ, giam và khám người vànhà ở của công dân như sau: “Việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồvật phải có lệnh viết của cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp phạm tội quả tang

và trường hợp khẩn cấp quy định ở các điều 2 và 3 dưới đây; Viện kiểm sát nhândân là cơ quan có quyền ra lệnh bắt, giam, khám người, khám nhà ở, đồ vật trongnhững vụ án hình sự; Tòa án nhân dân có quyền ra lệnh bắt, giam người phạm tộitrong những vụ án hình sự đang thụ lý; Trưởng, phó cơ quan An ninh từ cấp huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên có quyền ra lệnh bắt giam, khám người,khám nhà ở, khám đồ vật của người phạm tội; lệnh đó phải được sự phê chuẩn trướccủa Viện kiểm sát nhân dân nếu là vụ án hình sự, hoặc Ủy ban cách mạng cùng cấp,nếu là trường hợp tập trung cải tạo”11

Cùng với đó, Điều 69 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

năm 1980 tiếp tục quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.

Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”.

Căn cứ theo quy định trên có thể thấy, Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/03/1976

và Hiến pháp năm 1980 đã cho thấy một bước tiến mới trong quy định pháp luật vềquyền con người, các quy định liên quan đến bắt, giữ, tạm giam và khám xét người,nhà ở, đồ vật Trong đó đã mở rộng thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn vàcưỡng chế trong tố tụng hình sự Ngoài Tòa án và VKSND thì Ủy ban nhân dâncách mạng, TAND và cơ quan An ninh từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh trở lên đối với việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ Cách mạng tháng tám năm

1945 đến năm 1988 cho thấy chưa có quy định cụ thể về biện pháp ngăn chặn nóichung và biện pháp tạm giữ trong giải quyết vụ án hình sự nói chung Các quy địnhliên quan đến bắt giữ, tạm giam được quy định rải rác tại một số văn bản luật nhưngcòn rất sơ sài về căn cứ áp dụng, đối tượng, thẩm quyền cũng như thời hạn áp dụng

* Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003

Bước vào công cuộc khôi phục nền kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều định hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan

11 Hội đồng chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam, Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/5/1976 quy định về việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật, Điều 1.

Trang 17

liêu bao cấp, xây dựng cơ chế xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ.Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới cơ chế chính trị, hệ thống lập pháptrong đó thắt chặt các hành vi phạm tội nhằm mục đích tăng cường an ninh, ổn địnhtrật tự xã hội và phát triển nền kinh tế quốc gia Hiện nay, các quy định pháp luật về

tố tụng hình sự trong đó liên quan đến các thủ tục về điều tra, truy tố, xét xử và thihành án ở nước ta còn rất sơ sài và nằm rải rác tại nhiều văn bản luật khác nhau.Cần thiết phải xây dựng một văn bản chung để điều chỉnh đồng bộ các quan hệ liênquan đến pháp luật tố tụng hình sự Qua nhiều kỳ họp và lấy ý kiến xây dựng, ngày28/6/1988, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, khóa VIII đã thông quaBLTTHS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Theo đó, BLTTHS năm 1988 đã

có quy định cụ thể riêng một chương, với 14 điều luật từ Điều 61 đến Điều 77 đểđiều chỉnh những nội dung cơ bản của hệ thống các BPNC, trong đó có biện pháptạm giữ BLTTHS 1988 bộ luật đầu tiên có quy định cụ thể về biện pháp tạm giữ.Cùng với đó là nhiều điểm mới, ưu việt so với các quy định trước đây về biện pháptạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự

So với các quy định trước đây về biện pháp tạm giữ, BLTTHS 1988 là mộtbước tiến mới trong việc quy định cụ thể và riêng biệt thành một điều luật về biệnpháp này Bộ luật đã quy định cụ thể căn cứ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền và thờihạn áp dụng cụ thể đối với trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ Trước đây cácvăn bản luật chỉ có những quy định chung về việc bắt giữ, giam và khám xét người,nhà ở, đồ vật Tuy nhiên, quá trình thi hành BLTTHS 1988 cũng bộc lộ nhiều điểmvướng mắc, bấp cập như:

Về đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ, BLTTHS 1988 chỉ quy định ápdụng đối với hai trường hợp là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bịbắt trong trường hợp phạm tội quả không để cập đến tạm giữ đối với người bị bắttrong trường hợp truy nã Điều này gây khó khăn cho các cơ quan chức năng khitạm giữ các đối tượng bị bắt theo lệnh truy nã Khắc phục vướng mắc trên, Thông tưliên ngành số 03/TTLN ngày 7/1/1995 ra đời quy định bổ sung quy định áp dụngbiện pháp tạm giữ đối với các đối tượng bị bắt theo lệnh truy nã để đảm bảo côngtác đấu tranh, phòng chống tội phạm được thi hành tốt hơn

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ: Theo quy định tại điều 63 BLTTHSnăm 1988 thì người có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơquan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên, Trưởng Công an, Phó trưởng Công ancấp huyện Tuy nhiên thì thẩm quyền bắt khẩn cấp lại thêm cả người

Trang 18

chỉ huy máy bay, tàu biển khi máy bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng; chỉ huy đơn

vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ởhải đảo, biên giới Như vậy, trong trường hợp bắt người khẩn cấp đối với người chỉ huymáy bay, tàu biển máy bay, bến cảnh chỉ huy đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tươngđương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới luật nhưng BLTTHS khôngquy định cho các đối tượng này được quyền áp dụng biện pháp tạm giữ dẫn đến việcbắt xong lại không biết ai có quyền ra lệnh tạm giữ Để khắc phục hạn chế này, ngày30/6/1990 Quốc hội đã sửa đổi BLTTHS năm 1988, trong đó có sửa đổi Điều 68 Theo

đó, những người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại Khoản 2 Điều 63BLTTHS cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ

* Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2015

Ngày 26/11/2003, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

X đã ban hành BLTTHS 2003 thay thế BLTTHS 1988 Theo đó, BLTTHS 2003cũng có những quy định cụ thể, chi tiết về biện pháp ngăn chặn nói chung và biệnpháp tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự nói chung

Về đối tượng và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ được quy định tạiĐiều 86 BLTTHS 2003:

“1 Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trườnghợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người

bị bắt theo quyết định truy nã

Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của

Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.”

Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ, Điều 87 BLTTHS 2003 quy định:

“Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người

bị bắt Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạmgiữ, nhưng không quá ba ngày Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạmgiữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày”

Kế thừa và phát huy những điểm mạnh của BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 cónhiều quy định mới, gỡ bỏ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng biện pháp tạmgiữ Theo đó, BLTTHS 2003 bổ sung đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ là ngườiphạm tội tự thú, đầu thú Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ cũng bổ sungthêm đối tượng là Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạmgiữ Đồng thời, BLTTHS 2003 quy định cụ thể về thời gian tạm giữ được trừ vàothời hạn tạm giam, theo đó cứ một ngày tạm giữ sẽ được tính bằng một ngày

Trang 19

tạm giam Tuy nhiên sau nhiều năm thi hành, BLTTHS 2003 cũng bộc lộ một số hạnchế, vướng mắc trong đó có một số quy định liên quan đến biện pháp tạm giữ trong

tố tụng hình sự Cụ thể như sau:

Về đối tượng tạm giữ là người phạm tội tự thú, đầu thú: Khoản 1 Điều 86

BLTTHS năm 2003 quy định: "Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người

bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã” Việc quy định người phạm

tội tự thú, đầu thú khi áp dụng biện pháp tạm giữ cần quy định rõ ràng, trường hợpnào cần thiết phải tạm giữ, còn trường hợp nào không cần thiết Bởi vì, trong thực tếnhững trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú luôn ở một mức độ khác nhau, cónhững trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng do lỗi vô ý khi phạm tội, người phạmtội có nhân thân tốt thì không cần thiết phải ra quyết định tạm giữ đối với họ12

Vướng mắc về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ: BLTTHS năm 2003 đã bổsung thêm thẩm quyền ra quyết định tạm giữ cho Lực lượng Cảnh sát biển (khoản 2Điều 86) Tuy nhiên, Điều 81 BLTTHS 2003 năm không quy định thẩm quyền ralệnh bắt khẩn cấp cho lực lượng này Như vậy, việc không được bắt người trongtrường hợp khẩn cấp nhưng lại được ra quyết định tạm giữ là phù hợp với điều kiệnbắt quả tang và tạm giữ

* Giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Để gỡ bỏ những vướng mắc, hạn chế của BLTTHS 2003, ngày 27/11/2015Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành BLTTHS 2015 Theo

đó, BLTTHS 2015 quy định khá cụ thể, rõ ràng về đối tượng, thẩm quyền, thời hạn

và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ Thể hiện cụ thể tại Điều 117, Điều 118BLTTHS năm 2015

So sánh với quy định theo BLTTHS 2003 cho thấy BLTTHS 2015 có một sốđiểm mới nhất định về biện pháp tạm giữ Cụ thể một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, thay thế biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp thành biệnpháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp Theo đó, căn cứ để áp dụng biện pháptạm giữ cũng đổi từ “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp” tại điều 86 BLTTHS

2003 sang cụm từ “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” tại điều 117 BLTTHS

2015 Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, theo

đó Khoản 2, Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có

12 Nguyễn Song Thiết (2019), Biện pháp tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực

tiễn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ, Học viện khoa học xã hội, tr.64.

Trang 20

quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang”.

Thứ hai, BLTTHS 2015 quy định về thời gian phải ra quyết định tạm giữ,lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do khi xét thấy không

có căn cứ giữ người là 12 tiếng thay vì 24 tiếng như BLTTHS 2003 Đồng thời theoBLTTHS 2015, sau khi giữ người trong trường hợp bắt khẩn cấp, bắt người hoặcnhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải raquyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt

Thứ ba, về chủ thể có thẩm quyền áp dụng: BLTTHS 2015 đã mở rộng phạm

vinhững người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp Ngoàinhững chủ thể được quy định tại khoản 2 điều 81 BLTTHS 2003, thì tại điểm b,khoản 2 điều 110 BLTTHS 2015 quy định bổ sung các chủ thể như sau: Đồn trưởngĐồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ độibiên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biênphòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ độibiên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ độibiên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ vàpháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tộiphạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng

Qua phân tích trên có thể thấy BLTTHS 2015 đã có nhiều quy định về biệnpháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêng mở rộng theo hướng nhânvăn, ưu việt đảm bảo quyền tự do của con người Đồng thời, BLTTHS cũng quyđịnh chi tiết, cụ thể hơn về các đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng và mở rộng thẩmquyền cho các cơ quan chức năng áp dụng biện pháp này đảm bảo quá trình giảiquyết vụ án hình sự và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta hiện nay

1.2.2 Pháp luật về biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới

* Pháp luật về biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự của Liên bang Nga

Pháp luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga (BLTTHS Nga) ghi nhận việctạm giữ người người bị tình nghi thực hiện tội phạm với tên gọi là tạm giữ người bịtình nghi và được quy định tại Chương IV bao gồm: Tạm giữ người bị tình nghi(Mục 12); Những biện pháp ngăn chặn (Mục 12); Những biện pháp cưỡng chế tốtụng khác (Mục 14) Theo đó, vị trí của tạm giữ người tình nghi được quy

Trang 21

định nằm ở mục riêng, tách biệt so với những biện pháp ngăn chặn và những biệnpháp cưỡng chế khác điều đó thể hiện vai trò, tầm quan trọng của biện pháp nàytrong hệ thống các biện pháp có khả năng xâm phạm đến quyền của con người ỞBLTTHS Nga quy định tạm giữ người bị tình nghi ở các nội dung như: căn cứ ápdụng, thẩm quyền quyết định, đối tượng áp dụng, trình tự thủ tục và thời hạn tiếnhành.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì theo BLTTHS Nga ghi nhận đây

là người bị tình nghi13

Người bị tình nghi14 là người đối với họ đã khởi tố vụ án hình sự theo nhữngcăn cứ và theo thủ tục quy định tại mục 20 của Bộ luật này; Bị bắt giữ theo quy địnhtại Điều 91 và 92 của Bộ luật này15; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trước khi khởi

tố bị can theo quy định tại Điều 100 của Bộ luật này16

Hiến pháp của Cộng hòa Liên bang Nga ghi nhận và coi trọng quyền tự docủa công dân, coi đó là quyền cơ bản của con người và chỉ hạn chế trong nhữngchừng mực nhất định khi lợi ích chung của cộng đồng bị xâm hại Do đó những quyđịnh của BLTTHS Nga quy định về những biện pháp hạn chế quyền tự do như giamgiữ hoặc quản thúc tại gia, bảo lãnh hoặc những biện pháp khác trong đó có tạm giữthì những quy định trong BLTTHS phải phù hợp với Điều 9 Công ước quốc tế vềquyền dân sự và chính trị, Điều 5 của Công ước bảo vệ quyền con người và cácquyền tự do cơ bản17 và Hiến pháp Liên bang Nga18

Căn cứ để một người tình nghi bị áp dụng biện pháp tạm giữ có hai trườnghợp: Thứ nhất, Khi người bị tình nghi thực hiện tội phạm mà có thể bị xử phạt tù thìcần có những căn cứ như: người đó bị phát hiện trong lúc đang thực hiện tội phạmhoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm; Khi người bị hại hoặc người trực tiếp chứngkiến chỉ rõ người đó là người đã thực hiện tội phạm; Khi trên mặt, quần áo,

13 Tạm giữ người bị tình nghi: biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra ban đầu, Điều tra viên, dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên áp dụng trong thời hạn không quá 48 giờ kể từ thời điểm người bị tình nghi thực hiện tội phạm thực tế bị tạm giữ.

14 Điều 46 BLTTHS Liên bang Nga, được Đuma quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và được quốc hội phê chuẩn ngày 05/12/2001, cập nhật đến ngày 01/10/2006.

15 Điều 91: Căn cứ tạm giữ người bị tình nghi, Điều 92: Thủ tục tạm giữ người bị tình nghi.

Nghị quyểt của Hội nghị toàn thể Tòa án tối cao Liên bang Nga ngày 19/12/2013 (được sửa đổi bổ sung ngày

11 tháng 6 năm 2020) “Về thực hành áp dụng pháp luật của Tòa án về các biện pháp ngăn chặn dưới hình thức giam giữ, quản thúc tại gia, tại ngoại và cấm thi hành một số hành vi.

17 Nghị quyểt của Hội nghị toàn thể Tòa án tối cao Liên bang Nga ngày 19/12/2013 (được sửa đổi bổ sung ngày 11 tháng 6 năm 2020) “Về thực hành áp dụng pháp luật của Tòa án về các biện pháp ngăn chặn dưới hình thức giam giữ, quản thúc tại gia, tại ngoại và cấm thi hành một số hành vi http://www.consultant ru/document/cons_doc_LAW_156184/, truy cập ngày 07/8/2020.

18 Điều 22 Hiến pháp Liên bang Nga.

Trang 22

trong người hoặc nơi ở của người đó rõ ràng sẽ phát hiện được dấu vết của tộiphạm19.Thứ hai, người bị tình nghi có dấu hiệu trốn tránh, gây khó khăn cho quátrình điều tra vụ án cụ thể: “nếu có những tài liệu khác có đủ cơ sở để nghi ngờ mộtngười phạm tội thì có thể tạm giữ họ nếu họ tìm cách trốn tránh hoặc không có nơi

cư trú thường xuyên hay không xác định được nhân thân của họ”20 Bên cạnh đó, ởBLTTHS Nga quy định rất rõ ràng về căn cứ trả tự do cho người bị tình nghi21 vàđây cũng được xem là một ưu điểm so với BLTTHS của Việt Nam trong quy định

về trả tự do

Người có thẩm quyền áp dụng, chỉ có cơ quan điều tra ban đầu, Dự thẩm viênhoặc Kiểm sát viên là chủ thể mới có quyền tạm giữ người bị tình nghi và nói cáchkhác đây là những chủ thể được pháp luật trao cho thẩm quyền ban hành biên bảntạm giữ một người tình nghi

Thời hạn liên quan đến biện pháp tạm giữ: Chỉ được áp dụng biện pháp tạm

giữ “không quá 48 giờ kể từ thời điểm người bị tình nghi thực hiện tội phạm trên

thực tế” 22 và cũng xác định rõ về mốc thời gian bắt đầu của thời hạn tạm giữ là từ

“thời điểm thực tế người bị tình nghi bị tước tự do” Đây được coi là một trong

những quy định bảo vệ người tình nghi bị áp dụng biện pháp tạm giữ nói chung vàcác biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác Ở BLTTHS Nga tác giả thấyđược việc quy định rất chặt chẽ và toàn diện về thời hạn liên quan đến việc tạm giữnhư: Sau khi đưa người bị tình nghi đến Cơ quan điều tra ban đầu thì không quá 03giờ cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản tạm giữ23; trong thời hạn 12 giờ kể từthời điểm tạm giữ thì chủ thể có thẩm quyền phải tiến hành thực hiện việc thông báo

về việc tạm giữ người bị tình nghi cho họ hàng, người thân thích của họ biết, hoặcnếu không có họ hàng thân thích thì báo những người họ hàng khác hoặc để người

bị tinh nghi chủ động tự thông báo24; và phải ra văn bản thông báo cho Kiểm sátviên được biết25 Mặt khác, thời hạn tạm giữ cũng có thể được Tòa án gia hạn theoquy định tại điểm 3, khoản 6 Điều 108 Bộ luật này, theo đó việc gia hạn này là cần

có thời gian và cần hoàn thiện chứng cứ để chứng minh cho việc áp dụng tạm giam

ở giai đoạn tiếp theo Vậy tụ chung lại, có thể thấy

19 Khoản 1 Điều 91 BLTTHS Liên bang Nga (được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 04 tháng 7 năm 2003).

20 Khoản 2 Điều 91 BLTTHS Liên bang Nga.

21 Điều 94 BLTTHS Liên bang Nga.

22 Khoản 11 Điều 5 BLTTHS Liên bang Nga.

23 Khoản 1, 2 Điều 92 BLTTHS Liên bang Nga.

24 Khoản 1 Điều 96 BLTTHS Liên bang Nga.

25 Khoản 3 Điều 92 BLTTHS Liên bang Nga.

Trang 23

BLTTHS Nga ghi nhận cho cơ quan có thẩm quyền được quyền tối đa 120 giờ đểtạm giữ một người tình nghi.

Nhìn chung, vấn đề tạm giữ người bị tình nghi ở BLTTHS Nga đã cơ bản quyđịnh đầy đủ các nội dung cần có như đối tượng, chủ thể áp dụng, thời hạn và thủtục Tuy nhiên, vấn đề về gia hạn tạm giữ lại quy định mang tính tùy nghi26 do Tòa

án có thẩm quyền quyết định khoảng thời gian gia hạn Bên cạnh đó, ở BLTTHSNga không đặt ra vấn đềvề phê chuẩn đối với việc tạm giữ của cơ quan Công tố đốivới người bị tình nghi, chính điều này vô hình chung có thể dẫn đến lạm quyềntrong áp dụng

* Pháp luật về biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự của Cộng hòa liên

bang Đức

Cộng hoà Liên bang Đức là một đất nước có truyền thống pháp luật lục địalâu đời, thủ tục tố tụng hình sự của họ được xây dựng và áp dụng trên mô hình tốtụng thẩm vấn, xét hỏi Trên cơ sở được xây dựng, hình thành từ những năm đầuthập kỷ 90 của thế kỷ trước, qua quá trình dài hoàn thiện, được sửa đổi, bổ sungnhiều lần, cho đến nay Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hòa liên bang Đức(BLTTHS Đức) có thể nói là một Bộ luật đồ sộ

Theo quy định tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức, tạm giữ là một trongnhững biện pháp ngăn chặn27 nhằm đảm bảo quá trình truy tố và thi hành bản án hình sự, được thể hiện qua các yếu tố như:

Căn cứ tạm giữ: Có 02 căn cứ được BLTTHS Đức cho phép để tạm giữ một

người: “có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn” và “không thể xác định được căn

cước của người đó ngay”; có thể bị truy tố khi có kiến nghị 28

Trường hợp bị can không có nơi ở cố định hoặc nơi thường trú trong phạm vilãnh thổ mà Bộ luật có hiệu lực và nếu lệnh bắt chỉ căn cứ vào khả năng bị can cóthể bỏ trốn, thì Toà án có thể huỷ bỏ việc tạm giữ hoặc quyết định tạm giữ nếu thấykhông có khả năng Toà án sẽ tuyên hình phạt tù giam hoặc cải tạo có giam giữ đối

26 Mục 3 Khoản 7 Điều 108 BLTTHS Liên bang Nga đã chỉ ra rằng “Thẩm phán là người có quyền quyết định là gia hạn thời hạn tạm giữ đến ngày nào và thời gian nào”.

27 Biện pháp ngăn chặn là một trong các biện pháp cưỡng chế TTHS được pháp luật TTHS quy định,

do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ, không để họ tiếp tục phạm tội mới hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc nhằm bảo đảm việc thi hành án Với cách hiểu như vậy, các biện pháp ngăn chặn được BLTTHS Đức quy định bao gồm: bắt và tạm giam (Chương IX, Phần một), tạm giữ (Điều 127), bắt người cản trở hoạt động công vụ (Điều 164) và những

28 Điều 127 BLTTHS Đức.

Trang 24

với người phạm tội, hoặc bị can đã nộp tiền đủ cho hình phạt tiền và án phí có khảnăng sẽ được tuyên29.

Đối tượng bị áp dụng: Cũng theo quy định tại Điều 127 thì người bị bắt phạmtội quả tang, người bị bắt khi bị truy đuổi Ngoài ra, trong trường hợp khẩn cấp, Cơquan Công tố và các nhân viên cảnh sát có quyền thực hiện việc tạm giữ nếu có đủcăn cứ cho việc ra lệnh bắt; và việc tạm giữ còn được áp dụng với người cản trợhoạt động công vụ30

Pháp luật tố tụng hình sự Đức ghi nhận và trao quyền cho cơ quan Tòa án làchủ thể có quyền tạm giữ hoặc huỷ bỏ việc tạm giữ trong trường hợp bị can không

có nơi ở cố định hoặc nơi thường trú trong phạm vi lãnh thổ mà Bộ luật có hiệu lực

và nếu lệnh bắt chỉ căn cứ vào khả năng bị can có thể bỏ trốn, thì Toà án có thể huỷ

bỏ việc tạm giữ hoặc quyết định tạm giữ nếu thấy không có khả năng Toà án sẽtuyên hình phạt tù giam hoặc cải tạo có giam giữ đối với người phạm tội, hoặc bịcan đã nộp tiền đủ cho hình phạt tiền và án phí có khả năng sẽ được tuyên31

BLTTHS Đức không quy định cụ thể thời hạn của tạm giữ là bao lâu mà quyđịnh thời hạn dựa trên căn cứ tạm giữ Nói như vậy để hiểu rằng nếu căn cứ tạm giữ

là để cần thời gian xác minh, xác định về căn cước của người tình nghi thực hiện tộiphạm thì thời hạn của tạm giữ sẽ không được vượt quá thời gian cần thiết để xácđịnh căn cước của người đó32 Và việc tướt quyền tự do để phục vụ cho xác địnhcăn cước đã được luật điều chỉnh cụ thể hóa trong quy định tại khoản 3 Điều 163c

Bộ luật này là “không được vượt quá tổng thời hạn là mười hai giờ” Từ quy định

trên tác giả có thể suy luận logic rằng thời hạn tạm giữ đối với một người theoBLTTHS Đức là không quá mười hai giờ Trong quy định cũng không đề cập đếnviệc gia hạn thời hạn tạm giữ, cũng như những quy định về thời gian khác liên quanđến việc tạm giữ

Pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức đã quy định một điềukhoản riêng biệt về biện pháp tạm giữ, trong đó quy định cụ thể đối tượng, căn cứ

áp dụng và hủy bỏ áp dụng Tuy nhiên, BLTTHS hiện hành của Đức lại không quyđịnh thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ Đặc biệt trong trường hợp bắt giữ người

29 Hoàng Thị Quỳnh Chi (2019), Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Cộng hòa liên bang Đức, Viện khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tr 2.

Trang 25

trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt khi bị truy đuổi, BLTTHS quy định bất

kỳ ai cũng có quyền tạm giữ mà không quy định thời hạn tạm giữ, thời hạn bàn giaocho cơ quan chức năng có thẩm quyền, đó cũng là những hạn chế của Bộ luật

* Pháp luật về biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân

dân Trung Hoa

BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (BLTTHS Trung Hoa) ghi nhận biệnpháp tạm giữ là một trong những BPNC được quy định tại Chương VI BLTTHS Cộnghòa nhân dân Trung Hoa Theo đó khi có những chứng cứ về hành vi phạm tội củangười bị tình nghi phạm tội, bị cáo cho rằng người này có thể bị áp dụng hình phạt tùtrở lên đồng thời những BPNC khác như bão lĩnh hoặc giám sát nơi cư trú không đủ đểngăn ngừa hành vi nguy hiểm cho xã hội của người này thì có thể áp dụng biện phápbắt giữ theo quy định của BLTTHS Đối với nghi can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặcđang nuôi con bú hoặc bị bệnh nặng thì không áp dụng biện pháp này BTTHS TrungHoa ghi nhận cơ quan có thẩm quyền quyết định, áp dụng BPNC tạm giữ cụ thể là Cơquan Công an, VKS, bên cạnh đó BLTTHS Trung Hoa có quy định việc thẩm tra vàphê chuẩn trước khi thi hành đối với việc tạm giữ một người

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chưa cósắp xếp khoa học trong các quy định về biện pháp tạm giữ, mà những quy định củabiện pháp tạm giữ nằm rải rác, đan xen với những quy định khác nhau, từ đó làmcho việc tiếp cận trở nên khó khăn, và không làm nổi bật vị trí của biện pháp, đâycũng là một hạn chế trong lập pháp của Trung Hoa

Về thời hạn tạm giữ, không như các quốc gia khác, như đã trình bày các biệnpháp ngăn chặn trong BLTTHS Trung Hoa không đi theo một hệ thống logic, cụ thể

và rạch ròi mà những quy định trong từng biện pháp nằm rải rác, đan xen giữa nhiềuquy định trong BLTTHS Và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ không có một quy

định cụ thể, tuy nhiên từ quy định: “nếu thấy cần phải bắt giam người đang bị tạm

giữ thì trong vòng 03 ngày sau khi tạm giữ”33, có thể nhận định thời hạn tạm giữđược Bộ luật này điều chỉnh là 03 ngày và sau 03 ngày đó nếu không có căn cứchuyển áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn là tạm giữ thì có thể xem xét hủy bỏ,trả tự do hoặc chuyển áp dụng những biện pháp không hạn chế quyền tự do như bảo

lãnh hoặc giám sát nơi cư trú BLTTHS Trung Hoa cũng ghi nhận “trong trường

hợp đặc biệt có thể kéo dài thời hạn đề nghị thẩm tra và phê chuẩn từ một đến bốn

33 Điều 69 BLTTHS Trung Hoa

Trang 26

ngày” Theo đó, với cách quy định như trên tác giả có thể hiểu rằng: sau khi một

người bị Cơ quan Công an áp dụng biện pháp tạm giữ và đã bị tạm giữ bằng lệnhtạm giữ thì trong 03 ngày sau khi tạm giữ nếu có căn cứ cho việc tạm giam để củng

cố hồ sơ, chứng cứ cho việc khởi tố một người về một hành vi phạm tội thì trong 03ngày sẽ có văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn; còn trong trường hợp đặc biệtthì thời gian chờ phê chuẩn nhiều hơn thì thời gian có thể dài hơn đến 04 ngày (tức

có thể kéo dài thời gian chờ Viện kiểm sát thì sẽ nới dài thời gian người bị tạm giữ

bị tạm giữ nhiều hơn) Đối với quy định này, nhà làm luật Trung Hoa không quyđịnh về gia hạn trên ý thức câu chữ thực tế pháp luật quy định, tuy nhiên, nội hàmcủa quy định như đã phân tích ở trên đã thấy có điểm tương đồng với quy định vềthời hạn tạm giữ của BLTTHS Việt Nam, chỉ là những cách thể hiện và trình bày có

sự khác biệt nhau

Trình tự, thủ tục: biện pháp tạm giữ ở BLTTHS Trung Hoa có quy địnhvềthông báo sau khi một người bị tạm giữ nhưng thông báo bằng hình thức nào thìBLTTHS lại không quy định, lại sử dụng thuật ngữ “thông báo cho gia đình”, còngia đình bao gồm những ai thì không được giải thích và quy định cụ thể, tuy nhiên ở

khoản 6 Điều 82 có ghi nhận “họ hàng thân thích có nghĩa là chồng, vợ, cha, mẹ,

con cái, anh chị em ruột” Vậy với quy định này thì có được hiểu rằng những người

quy định trong họ hàng thân thích cũng là gia đình

Như vậy, căn cứ vào quy định trên có thấy pháp luật tố tụng hình sự Cộnghòa nhân dân Trung Hoa đã có quy định về thời hạn tạm giữ, đối tượng áp dụng,thẩm quyền áp dụng biện pháp này Bên cạnh đó, BLTTHS cũng quy định cụ thể vềtrình tự thủ tục sau khi tạm giữ như việc thông báo nguyên nhân tạm giữ và nơigiam giữ cho gia đình hoặc cơ quan nơi làm việc của người bị tạm giữ, thẩm vấnngười bị tạm giữ Ngoài ra, trường hợp cơ quan chức năng xét thấy chưa đủ chứng

cứ thì có thể cho phép người bị tạm giữ có người bảo lãnh tạm hoãn xét xử hoặcgiám sát nơi cư trú của họ Tuy nhiên, cũng như pháp luật tố tụng hình sự của Đức,BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định bất cứ ai cũng có quyền được bắtgiữ khi có căn cứ theo điều 63 nhưng không quy định thời hạn bàn giao lại cho cơquan chức năng có thẩm quyền để xử lý Trường hợp rất dễ dẫn đến tình trạng bắtgiữ người trái phép, quá thời hạn ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân, sức khỏe,tính mạng của con người

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Biện pháp tạm giữ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ ánhình sự, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa, thể hiện được bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể hiện

sự kiên quyết trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; đảm bảo cho trật tự xãhội được ổn định, pháp luật được giữ vũng, chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vàcác quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng và bảo vệ

Trong chương này, tác giả đã nghiên cứu quá trình lập pháp tố tụng hình sựViệt Nam từ giai đoạn sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay về những quyđịnh liên quan đến biện pháp tạm giữ Đồng thời, đã được tiếp cận, nghiên cứu phápluật tố tụng hình sự của một số quốc gia có nền khoa học pháp lý phát triển như:Đức hoặc các quốc gia có thể chế chính trị và điều kiện tương đồng với nước ta nhưTrung Quốc, Nga về biện pháp tạm giữ Qua nghiên cứu các quy định của biện pháptạm giữ giữa quy định trong nước và nước ngoài giúp tác giả có những đối chiếu,đánh giá về quá trình phát triển các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nóichung và quy định về biện pháp tạm giữ nói riêng Trên cơ sở nghiên cứu đó, tác giả

đã đưa ra được khái niệm khoa học thế nào là biện pháp tạm giữ Theo đó, Tạm giữ

là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn luật định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật.

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIỮ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giữ

2.1.1 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ

Pháp luật TTHS nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiệnchính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Do đó, xác định rõ căn cứ mộtcách khách quan, chính xác là nhân tố mang tính quyết định đối với việc áp dụngbiện pháp ngăn chặn Căn cứ được hiểu là “dựa vào, lấy làm tiền đề hoặc cơ sở đểlập luận hoặc để hành động BPNCTG được quy định cụ thể tại Điều 117 BLTTHS

số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 BLTTHS năm 2015 có quy định 8biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp tạm giữ Do đó, việc xác định căn cứtạm giữ trước hết cần phải xuất phát từ căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nóichung Theo Điều 109 BLTTHS năm 2015, biện pháp ngăn chặn được áp dụngtrong các trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạtđộng điều tra, truy tố, xét xử và thi han án Hành vi gây khó khăn cho hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành

viphạm tội người phạm tội có thể bỏ trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ,xóa các dấu vết của vụ án, mua chuộc, dụ dỗ, khống chế người làm chứng, người bịhại mà dẫn đến gây khó khăn cho việc xác định, làm rõ sự thật khách quan vụ án

Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội Để thẩmđịnh bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết và xem xét đánhgiá một cách tổng hợp Những tình tiết đó thường là: Tính chất của tội phạm mà bịcan, bị cáo đã thực hiện; nhân thân của bị can, bị cáo; những biểu hiện cụ thể của bịcan, bị cáo như đe dọa, khống chế, mua chuộc người làm chứng, người bị hại, sửdụng thời gian bất minh, đi lại gặp gỡ với tội phạm có liên quan

Thứ ba, để bảo đảm thi hành án hình sự: Người bị áp dụng BPNCTG trongtrường hợp này là người đã bị Tòa án tuyên có tội và quyết định một hình phạt cụthể nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật Xét thấy nếu không áp dụng biện phápngăn chặn đối với họ thì có thể đối tượng bỏ trốn hoặc có hành vi gây cản trở khôngđảm bảo cho hoạt động thi hành án

Trang 29

Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn có tình nghiêm khắc, hạn chế một sốquyền của người bị tạm giữ do đó xu hướng chung của pháp luật TTHS là chỉ ápdụng khi thật sự cần thiết Mặt khác, cùng là biện pháp mang tính nghiêm khắc, hạnchế một số quyền con người nhưng ở BLTTHS lại không có quy định riêng biệt vềcăn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ Vậy nên trong quá trình hoàn thiện pháp luậtTTHS cần bổ sung, luật hóa quy định về căn cứ tạm giữ để đảm bảo tạm giữ đúngngười, đúng pháp luật và có căn cứ chính xác.

2.1.2 Đối tượng, thẩm quyền quyết định

* Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ

Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ là người bị tạm giữ34 Trong đó chialàm hai nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: Người liên quan đến tội phạm: a) Người bị giữ trong trườnghợp khẩn cấp; b) Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; c)Người phạmtội tự thú; d) Người phạm tội đầu thú Bốn đối tượng này chưa bị khởi tố bị cannhưng đã có cơ sở, căn cứ ở mức độ nào đó để xác định họ có liên quan đến việcthực hiện tội phạm Khi đó, Cơ quan điều tra chưa thu thập được đầy đủ các sự kiệnchính, sự kiện chứng minh và hậu quả do tội phạm gây ra Việc tạm giữ họ để nhằmxác định TNHS đối với mỗi đối tượng

Nhóm thứ hai: Người có hành vi mang dấu hiệu của tội phạm hoặc người bịkết án, người chấp hành án mà bỏ trốn, sau đó bị bắt theo quyết định truy nã, baogồm: a) Bị can; b) Bị cáo; c) Người bị kết án; d) Người chấp hành án Việc tạm giữcác đối tượng này chỉ trong trường hợp Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã khôngthể đến nhận ngay người bị bắt theo quyết định truy nã Và việc tạm giữ trongtrường hợp này là cần thiết bởi lẽ đối tượng bị bắt truy nã đã từng bỏ trốn, gây khókhăn cho hoạt động giải quyết vụ án, nên tạm giữ là điều cần thiết nhằm giúp cơquan có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục chuyển giao đối tượng giữa Cơ quan điềutra đã ra lệnh truy nã và Cơ quan điều tra đã nhận người bị bắt

Như vậy, tạm giữ được áp dụng khi xét thấy cần thiết và thuộc một trongnhững trường hợp được quy định tại Điều 117 BLTTHS năm 2015 như sau:

- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Hiện nay BLTTHS năm 2015 chưađưa ra khái niệm về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà chỉ quy định quyền

34 Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định truy

nã Điều

59 BLTTHS năm 2015.

Trang 30

và nghĩa vụ của chủ thể này tại Điều 58 Tuy nhiên, qua nghiên cứu tổng thể cácquy định của BLTTHS năm 2015 có thể hiểu người bị giữ trong trường hợp khẩncấp là người đã bị các chủ thể có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợpkhẩn cấp khi họ thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều

11035, đó là: có đủ căn cứ để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm;người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người đã thực hiện tội phạm mà xétthấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặctại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tộiphạm va xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy vật chứng

- Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang Theo quy định tại Điều

111 BLTHS năm 2015 người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang là người bịbắt khi họ đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm hoặc bịđuổi bắt Để đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, BLTTHS năm 2015quy định tất cả mọi người đều có thẩm quyền bắt người trong trường hợp phạm tộiquả tang Như vậy, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang cũng là mộttrong các đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ

- Người phạm tội tự thú Theo quy định tại Điều 4 BLTHS năn 2015 thì tựthú là người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tộicủa mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện Mặc dù BLTTHSnăm 2015 không quy định cụ thể về tư cách tham gia tố tụng của người phạm tội tựthú nhưng chúng ta có thể hiểu đây là người đã tự nguyện khai báo với cơ quan, tổchức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị pháthiện Như vậy, sau khi tiếp nhận nguồn tin tội phạm từ việc người phạm tội tự thú,

cơ quan, người có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh việc tự thú của họ BLTTHSnăm 2015 không quy định cụ thể căn cứ tạm giữ đối với chủ thể này mà việc có tạmgiữ đối với chủ thể này hay không sẽ tùy thuộc vào việc đánh giá quyết định của cơquan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

- Người phạm tội đầu thú Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 2015 đầuthú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khaibáo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình Đối với chủ thể nàyluật cũng không quy định cụ thể căn cứ tạm giữ mà cũng tùy thuộc vào việc đánhgiá và quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

35 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Võ Thị Kim Oanh (chủ biên), Nxb Hồng Đức Hội luật gia Việt Nam, tr.154.

Trang 31

- Người bị bắt theo quyết định truy nã Theo quy định của pháp luật, đối tượng

bị truy nã bao gồm: Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Người bị kết ántrục xuất, người chấp hành án phạt tù trục xuất bỏ trốn; Người bị kết án phạt tù bỏ trốn;Người bị kết án tử hình bỏ trốn; Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạmđình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn36 Đối với nhữngngười bị bắt theo quyết định truy nã cơ quan có thẩm quyền sau khi nhận người bị bắt,phải tiến hành lấy lời khai ngay để xác định chính xác đối tượng, phải thông báo cho cơquan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt Việc tạm giữ đối với chủ thể nàychỉ được đặt ra khi cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến ngay để nhận người

bị bắt, và việc tạm giữ sẽ kéo dài thêm thời gian nếu hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan

đã ra quyết định truy nã vẫn chưa thể đến nhận người bị bắt thì việc gia hạn vẫn sẽ ápdụng như thủ tục chung, có Viện kiểm sát cùng cấp xét phê chuẩn dựa trên hồ sơ kèmtài liệu do Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển đến37

Người bị tạm giữ là người bị nghi thực hiện tội phạm và đối với họ đã cóquyết định tạm giữ do cơ quan có thẩm quyền ban hành Và kể từ khi bị tạm giữ thìngười bị tạm giữ sẽ bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ nhất định Tuy nhiên, phải hiểurằng việc tạm giữ này chỉ là tạm thời cách ly người bị tình nghi để họ không tiếp tụcphạm tội, để người bị truy nã không thể trốn gây khó khăn cho hoạt động chấp hành

án và đây là biện pháp hạn chế một số quyền tự do của một con người nên chínhbản thân họ sẽ có ý thức đấu tranh, được đưa ra căn cứ để bảo vệ chính mình, đểloại bỏ những căn cứ để khiến mình bị bắt, bị giữ và bị áp dụng biện pháp tạm giữ

* Thẩm quyền quyết định biện pháp tạm giữ

Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ là quyền của các chủ thể theo quyđịnh của BLTTHS được xem xét, quyết định việc tạm giữ Việc áp dụng biện phápnày sẽ hạn chế một số quyền cơ bản của người bị áp dụng BLTTHS năm 2015 đãquy định cụ thể về chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp này Tại khoản 2 Điều

117 BLTTHS năm 2015 những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trườnghợp khẩn cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 110 có quyền ra quyết định tạm giữ,

cụ thể:

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp Trong số các cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng, CQĐT là cơ quan có vai trò quan trọng trong việc tiếpnhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như khởi tố, điều tra vụ án hình sư

36 Điều 2 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 vè hướng dãn thi hành một số điều quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi ành án hình sự về truy nã.

37 Điều 114 BLTTHS năm 2015.

Trang 32

Trong quá trình tố tụng, CQĐT được quyền ra lệnh giữ người trong trường hợpkhẩn cấp, bắt người hoặc tiếp nhận người bị giữ, bị bắt, tự thú, đầu thú Vì vậy,BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ cho CQĐT làhoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, tạm giữ mang tính nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếpđến các quyền con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Vì vậy, để đảm bảotính có căn cứ và hợp pháp của việc áp dụng biện pháp này, BLTTHS năm 2015 quyđịnh cụ thể chỉ những người đứng đầu CQĐT mới có thẩm quyền áp dụng.

- Người có thẩm quyền trong cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra được quyền ra quyết định tạm giữ bao gồm: Thủ trưởng đơn vịđộc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huytrưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng,Cục trưởng cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởngĐoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùnglực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnhsát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượngCảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng

Cơ quan được giao niệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩmquyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong lĩnh vực

và địa bàn quản lý theo quy định của BLTTHS Tại khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm

2015 quy định Thủ trưởng của một số đơn vị trong Bộ đội biên phòng, Cảnh sátbiển, Kiểm ngư được quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp Sau khi ralệnh, giữ người trong trường hợp khẩn cấp các đơn vi này phải lấy lời khai ngay củangười bị giữ trong thời hạn 12 giờ, sau đó ra quyết định trả tự do cho người bị giữhoặc ra quyết định tạm giữ, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (khoản

4, Điều 110 BLTTHS năm 2015)

- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,bến cảng Để đáp ứng nhu cầu kịp thời ngăn chặn tội phạm, cũng như lắp đầy lỗtrống pháp luật tại BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữtrong điều kiện trên biển thì tại điểm c khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015 đã quyđịnh cụ thể người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,bến cảng được quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp Như vậy, theoquy định tại khoản 2 Điều 117 thì người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàubiển rời khỏi sân bay, cảng biển cũng có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ để

Trang 33

đảm bảo tính kịp thời, ngay tức khắc trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở mọikhông gian, thời gian.

2.1.3 Thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp tạm

giữ * Thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ

Thủ tục là tổng hợp những hành vi tố tụng của chủ thể có thẩm quyền trongphạm vi quyền hạn của mình tiến hành các công việc cần thiết theo quy định của phápluật tố tụng hình sự Biện pháp tạm giữ là một trong những biện pháp có tính nghiêmkhắc vậy nên việc áp dụng biện pháp này phải đảm bảo tuân thủ theo một trình tự vàthủ tục chặt chẽ Trước bản chất của biện pháp tạm giữ thì việc tạm giữ một người, một

cá nhân phải có lệnh hoặc quyết định có hiệu lực của người có thẩm quyền ký banhành Sở dĩ, tác giả nhấn mạnh việc có hiệu lực của quyết định tạm giữ bởi lẽ trong ápdụng biện pháp tạm giữ có những khoảng thời gian đòi hỏi phải có quyết định phêchuẩn của cơ quan có thẩm quyền như: quyết định gia hạn tạm giữ lần 1, quyết định giahạn tạm giữ lần 2 thì khi đó mới có hiệu lực thi hành và áp dụng

Như đã phân tích ở trên sau khi ĐTV nghiên cứu hồ sơ ban đầu và giải quyếtđược tất cả những vấn đề yêu cầu đặt ra thì sẽ đưa ra một trong hai quyết định: một

là, ban hành văn bản đề xuất lãnh đạo CQĐT ban hành quyết định tạm giữ mà cụthể sẽ trình văn bản đề nghị lên Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền để

ký ban hành quyết định tạm giữ, hai là: xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháptạm giữ thì đề xuất lãnh đạo áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn khácnhư: Bảo lãnh, Cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc trả tự do cho người bị bắt, người bị giữ

Thông qua các biên bản về bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắtngười phạm tội quả tang hoặc biên bản nhận người tự thú, đầu thú hoặc biên bảnnhận người bị bắt theo quyết định truy nã Để từ đó đánh giá có hay không sự việcxảy ra trên thực tế, từ đó nhận thức và đối chiếu với quy định của pháp luật có haykhông có hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ đã xảy ra.ĐTV phải đánh giá được tính chất, mức độ của hành vi người bị tình nghi

Trang 34

Nếu có dấu hiệu của tội phạm thì phải xác định rõ phạm tội ở điều, khoản nàotheo quy định của BLHS năm 2015.

Tiến hành xác minh các thông tin liên quan đến cá nhân của người bị tìnhnghi phạm tội như: Họ tên, độ tuổi, hộ khẩu thường trú, xác định nhanh thông quacác bản tự khai về tiền án, tiền sự của người bị tình nghi, để làm căn cứ đánh giákhả năng tuân thủ, chấp hành pháp luật và tuân thủ những yêu cầu của CQĐT khicần thiết

Đánh giá có cần thiết áp dụng biện pháp tạm giữ hoặc thay đổi hoặc hủy bỏbiện pháp này hay không

Trên cơ sở đánh giá toàn diện những vấn đề nêu trên thì CQĐT mới có thểđưa ra kết luận, ban hành những quyết định phù hợp cho quá trình giải quyết vụ án,góp phần hạn chế tội phạm tiếp tục xảy ra, và áp dụng biện pháp tạm giữ đúng đắn,

có căn cứ, cơ sở để giúp CQĐT có thời gian tiếp tục hoàn thiện, củng cố hồ sơ đểđấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn, bên cạnh đó nhằm ngăn ngừangười bị tình nghi tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật để đảm bảo cho các hoạtđộng tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 117 BLTTHS năm 2015 để tạm giữ một người cácchủ thể có thẩm quyền phải ra quyết định tạm giữ Quyết định tạm giữ phải ghi rõ

họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngàyhết thời hạn tạm giữ và các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 132 BLTTHSnăm 20215 Quyết định tạm giữ phải được giao cho người bị tạm giữ Song song đó,quyết định tạm giữ phải tuân thủ theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ Công an trong đó đảm bảo đầy đủ cácnội dung như địa điểm ban hành quyết định tạm giữ, cụ thể là CQĐT có thẩm quyềngiải quyết38 (ví dụ: Công an huyện X, Cơ quan điều tra); Số văn bản ban hành; Địagiới hành chính nơi ban hành quyết định, ngày, tháng, năm ban hành quyết định tạmgiữ (Ví dụ: Củ Chi, ngày 01 tháng 02 năm 2020); căn cứ ban hành quyết định tạmgiữ39, căn cứ vào các điều của Bộ luật tố tụng hình sự; căn cứ thẩm quyền ban hànhquyết định tạm giữ40; Ghi cụ thể số ngày tạm giữ, thời gian bắt đầu và kết thúc (vídụ: tạm giữ 03 ngày, kể từ 10 giờ ngày 01 tháng 02 năm 2020 đến 10 giờ ngày 04tháng 02 năm 2020); họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc

38 Ghi Cơ quan điều tra giải quyết vụ án

39 Ghi rõ căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 117 của BLTTHS

40 Ghi rõ căn cứ thẩm quyền quy định tại Điều 36 hoặc Điều 39 củ BLTTHS

Trang 35

tịch, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, chứng minh nhân dân số, nơi cấp, nơi cư trúcủa người bị tạm giữ; cơ sở giam giữ có trách nhiệm thi hành quyết định tạm giữ41;

họ tên, chức vụ của người ra quyết định tạm giữ; chữ ký của người có thẩm quyềnban hành quyết định tạm giữ và có đóng dấu Do đó, một quyết định tạm giữ có hiệulực thi hành trên thực tế phải hội đủ tất cả các yếu tố vừa nêu và đảm bảo đúng biểumẫu theo quy định Nếu thiếu hoặc vi phạm bất kỳ một trong những điều kiện nhưtrên thì quyết định tạm giữ sẽ không có giá trị thi hành trên thực tế

Sau khi quyết định tạm giữ được ban hành đảm bảo đúng, đủ về nội dung vàthẩm quyền và thể thức thì người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giảithích cho người bị tạm giữ biết về những quyền và nghĩa vu của họ được quy địnhtại Điều 59 BLTTHS năm 2015 Điều này giúp người bị tạm giữ thực hiện tốt cácquyền và nghĩa vụ của mình Đồng thời trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyếtđịnh tạm giữ, quyết định này kèm theo các tài liệu làm căn cứ cho việc tạm giữ phảiđược gửi cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền và Cơ quan chịu trách nhiệmgiám sát, quản lý người bị tạm giữ là Nhà tạm giữ và Trại tạm giam được ghi trongquyết định tạm giữ Ngoài ra ĐTV được phân công phụ trách vụ án phải lưu trong

hồ sơ vụ án một bản chính quyết định tạm giữ

Quyết định tạm giữ sau khi được giao cho VKS có thẩm quyền, nếu xét thấyviệc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định hủy bỏquyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho ngườiđang bị tạm giữ Vậy nên, quyết định tạm giữ không phải sau khi được ban hành thì

sẽ hiển nhiên có giá trị pháp lý thi hành trên thực tiễn, mà còn phải qua một giaiđoạn để kiểm định lại nhận thức, đánh giá của CQĐT về hành vi và quyết định tốtụng của người có thẩm quyền ban hành Vì đây là biện pháp ngăn chặn và pháp luật

tố tụng cũng không có quy định bắt buộc trong mọi trường hợp phải áp dụng màđây là quy định tùy nghi, lựa chọn thông qua cụm từ: “có thế áp dụng”, vậy nênphải tùy từng nội dung vụ án mà có sự áp dụng cho phù hợp Dó đó, sau khi quyếtđịnh tạm giữ kèm tài liệu được chuyển đến VKS cùng cấp, VKS có thẩm quyền thì

ở giai đoạn tiếp theo VKS sẽ phân công Kiểm sát viên (KSV) phụ trách nghiên cứu

hồ sơ và xem xét quyết định tạm giữ ban hành đã đúng hay chưa, có căn cứ, đúngthủ tục, đúng thẩm quyền ban hành hay không Nếu sau khi nghiên cứu mà KSV có

41 Ghi cụ thể tên Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng Ví dụ: Nhà tạm giữ Công an cấp huyện, Nhà tạm giữ Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân; Buồng tạm giữ của đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới xa trung tâm hành chính cấp huyện Xem Khoản 1 Điều 11 và điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Trang 36

quan điểm phù hợp với quan điểm của ĐTV, nhận thấy việc áp dụng biện pháp tạmgiữ trong trường hợp này là có căn cứ, đúng nội dung và hình thức thì sẽ thực hiệnchức năng kiểm sát tiếp tục quá trình giải quyết vụ án; Còn trường hợp sau khinghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án nhận thấy không cần thiết áp dụng biện pháp tạmgiữ do những yếu tố như người tình nghi phạm tội lần đầu thuộc loại tội phạm ítnghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, và có người bảo lãnh, đảm bảo sự có mặt khi cơquan có thẩm quyền yêu cầu và trong một số vụ án cần thời gian để có kết quả địnhgiá tài sản, xác định tỷ lệ thương tật của bị hại, trong trường hợp này KSV sẽ có vănbản đề xuất lãnh đạo VKS hủy bỏ quyết định tạm giữ42, đồng thời thông báo việchủy bỏ quyết định tạm giữ và đề nghị người chủ thể ban hành quyết định tạm giữphải ban hành ngay quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ43.

Sau khi ban hành quyết định tạm giữ 03 ngày đối với một người theo đúngquy định của BLTTHS năm 2015 những vẫn chưa thể đánh giá, kết luận được vụ án

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Cần chờ kết quả xác minh lýlịch, tiền án, tiền sự của người bị tạm giữ do người bị tạm giữ cư trú ở nhiều nơihoặc vụ án phức tạp, có nhiều người tạm giữ bị tình nghi thực hiện tội phạm và cần

có nhiều thời gian hơn để tiến hành lấy lời khai, xác minh hoặc có thể cần chờ kếtquả định giá (các vụ trộm cắp tài sản), giám định tỷ lệ thương tích (các vụ án Cố ýgây thương tích) để có thể kết luận có khởi tố vụ án hay khởi tố bị can hay không.Vậy nên, để có thêm thời gian giải quyết vụ án thì ĐTV căn cứ trên những điều kiệncủa hồ sơ để đề xuất và ban hành quyết định gia hạn tạm giữ lần 1 (trong trườnghợp cần thiết) và quyết định gia hạn tạm giữ lần 2 (trong trường hợp đặc biệt) vớithời hạn 03 ngày nối tiếp thời hạn tạm giữ ban đầu, và nối tiếp thời hạn gia hạn tạmgiữ lần 1, và thời điểm bắt đầu của quyết định gia hạn được tính kể từ mốc thờiđiểm kết thúc ghi trong quyết định tạm giữ của thời hạn trước đó Cụ thể quyết định

42 Theo Mẫu số 33/HS của Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 về ban hành mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

43 Theo Mẫu số 48 của Thông tư liên tịch số 61 /2017/TT-BCA theo đó Quyết định trả tự do phải đáp ứng đầy đủ các nội dung như: Cơ quan có thẩm quyền ban hành Số quyết định trả tự do; Ngày, tháng, năm của Quyết định trả tự do; Họ tên, chức vụ của người có thẩm quyền ban hành quyết định trả tự do; Căn cứ hành vi của người bị tạm giữ; Căn cứ Điều khoản trong BLHS; Căn cứ quyết định/ lệnh tạm giữ nào (Ghi rõ

Số, ngày, tháng, năm của Quyết định tạm giữ hoặc Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Căn cứ để xác định việc trả tự do (Ghi rõ khoản 4 Điều 110, Điều 111, khoản 1 Điều 114, Khoản 4 Điều 117 hoặc khoản 3 Điều 118); Họ tên; Ngày, tháng, năm sinh, Quốc tịch, Dân tộc, Tôn giáo, Nghề nghiệp, Số

CMND/CCCD và nơi cư trú của người được trả tự do;Cơ quan thi hành quyết định trả tự do (Ghi rõ Nhà tạm giữ Công an cấp huyện hoặc Trại tạm giam Công an tỉnh/ thành phố); Chữ ký và có đóng dấu của người có thẩm quyền ban hành.

Trang 37

gia hạn tạm giữ lần 1, 2 cũng phải đảm bảo đúng thể thức tương tự như biểu mẫuquyết định tạm giữ.

* Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ

Thời hạn tạm giữ là một nội dung quan trọng và cần được quy định chặt chẽtrong BLTTHS năm 2015 để đảm bảo việc áp dụng được thống nhất trong thực tiễn

áp dụng pháp luật Theo khoản 1, 2 Điều 118 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ nhiềunhất đối với một người là chín ngày Theo đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ tạm giữ đốitượng để xác định căn cứ, cơ sở truy cứu TNHS hoặc hoàn thành thủ tục chuyểngiao đối tượng Như vậy thời hạn tạm giữ được quy định như sau:

Thời hạn tạm giữ thông thường không quá 03 ngày kể từ khi CQĐT, cơ quanđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bịbắt hoặc áp giả người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi CQĐT

ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú Theo quy định này, thời hạntạm giữ thông thường được quy định theo ngày và thời hạn tạm giữ là không quá 03ngày Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ sẽ khác nhau, phụ thuộcvào các trường hợp tạm giữ, cụ thể như sau:

Đối với trường hợp đối tượng bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trongtrường hợp phạm tội quả tang hoặc bị bắt trong trường hợp truy nã thì thời điểm bắtđầu tính thời hạn tạm giữ được tính như sau: Nếu CQĐT nhận người bị giữ, bị bắt

từ các chủ thể khác thì thời hạn tạm giữ là không quá 03 ngày kể từ khi nhận người

bị giữ, bị bắt; Nếu trường hợp CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra tự mình ra lệnh giữ người, bắt người thì thời hạn tạm giữ làkhông quá 03 ngày kể từ khi áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở CQĐT, cơ quanđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Đối với trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú thì thời hạn tạm giữ làkhông quá 03 ngày kể từ khi CQĐT ra quyết định tạm giữ

Bên cạnh thời hạn tạm giữ thông thường không quá 03 ngày như đã phân tích

ở trên Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 BLTTHS năm 2015 Cơ quan có thẩm quyền có thể gia hạn thời hạn tạm giữ 02 lần, cụ thể:

Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữnhưng không quá 03 ngày Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thểgia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày Mọi trường hợp gia hạn tạmgiữ đều phải được VKS cùng cấp, VKS có thẩm quyền phê chuẩn; trong thời hạn 12giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm

Trang 38

giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Việc quyđịnh quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ phải có sự phê chuẩn của VKS có thẩmquyền để đảm bảo tính có căn cứ, hợp pháp của việc cần thiết phải kéo dài thêmthời hạn tạm giữ, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, hạn chếoan sai trong việc gia hạn tạm giữ.

Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì CQĐT, cơ quanđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay chongười bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì VKS phải trả tự do ngay chongười bị tạm giữ Quy định về thời hạn trả tự do ngay đặt ra yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền phải nhanh chóng, kịp thời tiến hành các hoạt động tố tụng theo quyđịnh của pháp luật để làm sáng tỏ sự thật vụ án

2.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sư Việt Nam về biện pháp tạm giữ

2.2.1 Kết quả áp dụng biện pháp tạm giữ trong thời gian qua

Thông qua các báo cáo kết quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam vàthi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong cácnăm 2016, 2017, 2018, 2019 và năm 2020 thì số lượng người bị tạm giữ vẫn ở mứccao và có chiều hướng tăng qua các năm Cụ thể:

Bảng 2.1 Số liệu người bị tạm giữ đã được xử lý

Nhìn vào số liệu trên, có thể thấy số lượng người bị áp dụng biện pháp tạm giữqua các năm có tăng, có giảm tuy nhiên xu hướng ở những năm gần đây thì con số vẫn

có chiều hướng tăng lên (từ 4.916 người ở năm 2018 và qua năm 2019 tăng lên 336người, đến năm 2020 lại tăng thêm 300 người) Tuy nhiên, nếu so với năm 2016 tức làtrước khi BLTTHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì số lượng người bịtạm giữ đã giảm đáng kể (từ 5.868 người giảm xuống còn 5.553 người) Từ đó có thểnhận thấy rằng nhận thức pháp lý của cơ quan THTT, người THTT đã có sự thay đổi đểphù hợp hơn với cải cách tư pháp mỗi giai đoạn, đã xem biện pháp ngăn chặn nóichung và biện pháp tạm giữ là sự lựa chọn thay thế cho sự ưu tiên tuyệt đối Và chínhnhờ ở lần sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 đã có nhiều quy định được

Trang 39

bổ sung, điều chỉnh, do đó khi cơ quan THTT, người THTT xem xét, quyết định ápdụng biện pháp tạm giữ đều cân nhắc đầy đủ các điều kiện được BLTTHS quy định và

sự cần thiết để áp dụng Song song đó, từ bảng số liệu trên có thể thấy số lượng người

bị tạm giữ được trả tự do qua các năm đều có chiều hướng giảm (từ 274 người giảmcòn 80 người), điều đó nói lên rằng quá trình vận dụng và áp dụng pháp luật của cơquan THTT, người THTT đã có sự tiến bộ vượt bậc, đã hạn chế được tình trạng oan, saitrong bắt, tạm giữ và tạm giam Nhìn chung, vẫn chưa thể hạn chế được hoàn toàn việctrả tự do cho người sau khi bị áp dụng biện pháp tạm giữ, điều đó xuất phát từ nhiềunguyên nhân và tùy vào từng vụ án cụ thể Nhưng tụ chung lại, những số liệu này là kếtquả của cả quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm của Cơ quan điều tra (từ năm2016- 2020), góp phần quan trọng vào việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sựđảm bảo đúng người, đúng pháp luật; giữ vững được trật tự an toàn xã hội và trên hết làbảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Theo khoản 1 Điều 117 tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trongnăm trường hợp Trong đó, trường hợp bị tạm giữ nhiều nhất phải kể đến là người bịbắt khi phạm tội quả tang, cụ thể:

Bảng 2.2 Số người bị tạm giữ từ các trường hợp bắt

phạm tội quả tang

Số người bị giữ trong trường hợp người

bị bắt theo quyết định truy nã

Có thể thấy, từ tổng số người bị tạm giữ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minhgiai đoạn 2016- 2020 thì số lượng người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quảtang chiếm tỷ lệ cao nhất và gia tăng qua mỗi năm ( từ 3.405 người năm 2016 đếnnăm 2020 là 3.539 người, tăng 134 người) Sở dĩ, người bị tạm giữ trong trường hợpnày cao hơn so với bốn trường hợp còn lại do tính chất của phạm tội quả tang là tộiphạm hoặc hành vi phạm tội đã được cơ quan điều tra phát hiện, ghi nhận trực tiếp

Ngày đăng: 21/04/2022, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giamtrong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Năm: 2005
21. Nguyễn Đăng Dũng (2014), Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Luật văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ ánhình sự
Tác giả: Nguyễn Đăng Dũng
Năm: 2014
22. Hoàng Đình Duyên (2021), “Vướng mắc khi áp dụng biện pháp ngăn chặn sau ki bắt người theo quyết định truy nã”, Tạp chí Kiểm sát, Số 02 (tháng 1), tr. 55 -57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc khi áp dụng biện pháp ngăn chặn sau ki bắt người theo quyết định truy nã”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Hoàng Đình Duyên
Năm: 2021
23. Chu Thị Việt Hà (2021), “Về việc trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo”, Tạp chí Kiểm sát, Số 05 (tháng 3), tr. 49 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam vào thời hạnchấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Chu Thị Việt Hà
Năm: 2021
24. Lê Thị Thu Hằng (2019), “Một số yếu tố tranh tụng trong mô hình tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, Số 10 (tháng 5), tr. 47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tranh tụng trong mô hình tố tụng hìnhsự Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Thị Thu Hằng
Năm: 2019
25. Đào Đức Hữu (2019), “Một số ý kiến về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn”, Tạp chí Kiểm sát, Số 17 (tháng 9), tr. 58, 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn”,"Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Đào Đức Hữu
Năm: 2019
27. Vũ Gia Lâm (2019), “Biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, Số 01 (tháng 1), tr. 21 -26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấptheo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 2019
28. Hoàng Kim Ngọc (2019), “Thời hạn và cách tình thới hạn theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, Số 04 (tháng 2), tr. 53 -54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn và cách tình thới hạn theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Năm: 2019
29. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2020), Tài liệu Hội thảo biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, tháng 10, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
Tác giả: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
30. Hoàng Anh Tuyên (2014), “Về thời hạn trong pháp luật tố tụng một số nước trên thế giới”, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 03 (10), tr. 37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thời hạn trong pháp luật tố tụng một số nước trênthế giới”, "Tạp chí Khoa học kiểm sát
Tác giả: Hoàng Anh Tuyên
Năm: 2014
31. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 2 (2019), Tài liệu tập huấn một số kinh nghiệm và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, tháng 6, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn một số kinh nghiệmvà giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành ánhình sự
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 2
Năm: 2019
37. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015), Tài liệu báo cáo Quốc hội về báo cáo tham khảo pháp Tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới (Pháp, Đức, Anh, Hoa kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc), tháng 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu báo cáo Quốc hội về báo cáotham khảo pháp Tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới (Pháp, Đức, Anh,Hoa kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc)
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2015
39. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018), Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, tháng 3, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2018
40. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2019), “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chât lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, Số 16 (tháng 8), tr. 03 -07;Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chât lượng,hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự”, "Tạp chíKiểm sát", Số 16 (tháng 8), tr. 03 -07
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2019
45. Đỗ Đức Hồng, Hoàng Thị Oanh, “Vướng mắc về thời điểm kết thúc của thời hạn tạm giữ và tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/302, truy cập ngày 16/5/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc về thời điểm kết thúc của thời hạntạm giữ và tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
41. Hoàng Thị Quỳnh Chi (2019), Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, http://vksndtc.gov.vn/khac-151,truy cập ngày 14/10/2019 Link
42. Một số điểm đáng lưu ý liên quan đến Tố tụng tại cấp sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Liêng bang Đức, https://vksndtc.gov.vn/khac-152, truy cập ngày 15/01/2020 Link
43. Hoàng Văn Hạnh (2008), Hoàn thiện quy định về tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/84, truy cập ngày 12.12.2019 Link
44. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2019), Tài liệu tập huấn chuyên đề về biện pháp đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, http://vkskh.gov.vn/RSS/tai-lieu-tap-huan-chuyen-de-bien-phap-doi-moi-nang-cao-chat-luong-hieu-qua-cong-tac-kiem-sat-viec_1611_376_2_a.html, truy cập ngày 14/10/2019 Link
15. Bộ luật tố tụng hình sự Liêng bang Nga (Bộ luật tố tụng hình sự Liêng bang Nga được cập nhật đến ngày 01/10/2006, Mastxcơva, 2006), bản tiếng Việt Nam Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w