1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO THỰC TẬP

20 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 64,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan báo cáo thực tập Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của bản thân, không sao chép kết quả của bất[.]

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan báo cáo thực tập: Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của bản thân, không

sao chép kết quả của bất kỳ báo cáo nào trước đó Báo cáo thực tập có tham khảo các tài liệu, thông tin theo danh mục tài liệu tham khảo của thực tập

Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 2020

Sinh viên thực tập

Trang 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2 Bộ luật Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007

4 Trần Nguyễn Thị Tâm Đan, luận văn thạc sĩ luật học: “Áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội”, PGS TS Nguyễn Văn Cừ

hướng dẫn, Hà Nội, 2017

5 Nguyễn Tuấn Anh, Luận văn thạc sĩ Luật học: “Áp dụng căn cứ ly hôn giải quyết các trường hợp ly hôn theo luật định tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố

Hà Nội”, PGS TS Nguyễn Văn Cừ hướng dẫn, Hà Nội, 2018

6 Nguyễn Lân (2006), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr 243

7 “Ứng xử của phái nữ trước vấn đề ly thân” (Bài viết trên trang báo tuoitre.vn, truy

cập ngày 17/4/2015)

8 “Vợ ngoại tình nhưng đã biết hối cải và thú nhận với chồng” đăng trên báo Gia

đình số ra ngày 12/11/2016

Trang 3

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

HN&GĐ Hôn nhân và gia đình

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3.1 Đối tượng nghiên cứu 1

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 1

4 Kết cấu đề tài 2

NỘI DUNG 2

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2

1.1 Khái quát chung về ly hôn và căn cứ ly hôn 2

1.1.1 Khái niệm về ly hôn 2

1.1.2 Khái niệm về căn cứ ly hôn 3

1.2 Các trường hợp áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 3 1.2.1 Đối với trường hợp thuận tình ly hôn 4

1.2.2 Đối với trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu 5

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 6

2.1 Kết quả đạt được trong việc áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 6

2.2 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên 7

2.2.1 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn khi hai vợ chồng thuận tình ly hôn 7

2.2.2 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn 8

i) Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn mà một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích 9

Trang 5

ii) Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn mà cả hai còn sống 9

Chương 3: NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHI ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 11 3.1 Những vướng mắc khi áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 11

3.1.1 Quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ ly hôn còn chung chung, trừu tượng, khó áp dụng trong thực tiễn xét xử 11 3.1.2 Hiện tượng ly thân đã và đang có xu hướng phát triển ở Việt Nam, có thể được coi là một căn cứ để giải quyết ly hôn 11

3.2 Một số kiến nghị khi áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 12

3.2.1 Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần lượng hóa các tiêu chí về nội dung căn cứ ly hôn theo quy định tại Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 12 3.2.2 Quy định chế định ly thân là căn cứ ly hôn 14 3.2.3 Quy định rõ hơn trường hợp vợ hoặc chồng ly hôn với chồng hoặc vợ đang chấp hành án phạt tù 14

KẾT LUẬN 15

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được tạo thành bởi nhiều chế định khác nhau như chế định kết hôn, chế định ly hôn nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Tuy nhiên, so với các quan hệ trong lĩnh vực pháp luật khác thì quan hệ pháp luật trong hôn nhân gia đình đặc biệt hơn Chế định ly hôn được coi là chế định quan trọng, thiết yếu của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Đời sống hôn nhân và gia đình luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp Hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao Lĩnh vực hôn nhân, gia đình đã được nhà nước ta quan tâm từ rất lâu, thể hiện qua các văn bản Luật điều chỉnh lĩnh vực này Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời đã bảo vệ quyền lợi của mọi thành viên trong gia đình, hướng tới xây dựng hạnh phúc, mô hình xã hội chủ nghĩa, là căn cứ để Tòa án giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình một cách thấu tình đạt lý Bằng các quy định về

ly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật, gọi chung là căn

cứ ly hôn

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hôn xảy ra rất nhiều và có xu hướng tăng mạnh, bên cạnh đó có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyết thỏa đáng, chưa đúng căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này đó là: chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít công chức chưa đạt chuẩn về trình độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách còn thấp Việc thực thi công vụ do đó vừa thiếu tính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu cua người dân

Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng cũng như cho xã hội Ly hôn có thể coi là điểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sự tan rã Dù quan hệ gia đình có đổ vỡ thì sự bình đẳng

về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo

2 Tình hình nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về căn cứ ly hôn

- Nội dung căn cứ ly hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014

- Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn qua một số bản án, quyết định giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

1

Trang 7

- Báo cáo nghiên cứu quy định về căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

- Đánh giá và phân tích thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm

2014 để giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

4 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của báo cáo gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận về căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình

Chương 2: Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện việc áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

NỘI DUNG Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.1 Khái quát chung về ly hôn và căn cứ ly hôn

1.1.1 Khái niệm về ly hôn

Ly hôn là một hiện tượng xã hội, vì vậy nó mang tính giai cấp sâu sắc Cụ thể, đối với quy định của pháp luật về ly hôn ở nhà nước phong kiến, tư sản quy định có thể cấm

ly hôn (không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống tách biệt nhau (biệt cư) bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân; theo độ tuổi của vợ hoặc chồng; hoặc thường quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay cả hai vợ chồng (các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất quan hệ hôn nhân đã tan vỡ) Ngược lại, pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự

do chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả hành vi có ý chí của vợ, chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó hoàn toàn có lợi cho vợ, chồng, con cái và các thành viên trong gia đình

Ly hôn là một hình thức để chấm dứt hôn nhân do Tòa án (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận sự thuận tình ly hôn theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, giải quyết ly hôn; có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật

Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện dưới hai hình thức: Quyết định hoặc bản án ly hôn Nếu hai vợ chồng thuận tình ly hôn (cùng thực sự tự nguyện ly hôn) và đã thỏa thuận được với nhau giải quyết tất cả các nội dung của quan hệ vợ chồng như về tài sản chung và con chung khi ly hôn; xét thấy quyền và lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên được bảo đảm thì Tòa án xông nhận cho vợ chồng thuận tình ly hôn; hoặc ra bản án ly hôn trong trường hợp một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn khi hôn nhân đã tan vỡ

2

Trang 8

(tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được)

Thực chất của ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014

đã giải thích: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bẩn án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.

1.1.2 Khái niệm về căn cứ ly hôn

“Căn cứ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở để lập luận”1 Căn cứ ly hôn được hiểu là những căn cứ do Nhà nước xác định để Tòa án thực hiện giải quyết ly hôn khi có yêu cầu

Để Tòa án giải quyết việc ly hôn, điều tiên quyết là phải xác định là có hay không

có căn cứ giải quyết ly hôn khi nhận hồ sơ yêu cầu ly hôn của đương sự Ý chí của vợ chồng không phải là điều kiện cần và đủ để Tòa án chấp thuận giải quyết yêu cầu ly hôn Việc giải quyết yêu cầu ly hôn phải được dựa trên các điều kiện cần và đủ về phương diện pháp lý của căn cứ ly hôn theo quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014

Các Mác đã viết: “Về mặt hôn nhân, nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó

đã bị phá vỡ rồi Việc Tòa á cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản công nhận sự tan rã bên trong của nó Quan điểm của nhà lập pháp là quan điểm của tính tất yếu” Để chứng minh cho tính tất yếu này, Tòa án cần dựa trên những cơ sở là

những căn cứ nhất định Trên những cơ sở đó, Tòa án nhận định mối quan hệ hôn nhân đó

đã tan vỡ hay chưa, dựa trên việc xem xét, đánh giá thực trạng của mối quan hệ hôn nhân

Nhận định quan hệ hôn nhân tự nó bị phá vỡ là yếu tố mang tính chủ quan, để đánh giá yếu tố chủ quan có chính xác hay không, khi giải quyết yêu cầu ly hôn, Tòa án cần xem xét đến những hiện tượng khách quan phản ánh giữa hiện tượng và bản chất sự việc Những hiện tượng đó phải có mối quan hệ biện chứng với bản chất tan vỡ của quan hệ hôn nhân, phản ánh bản chất của quan hệ hôn nhân Bản chất quan hệ hôn nhân đã “chết” đươhc thể hiện ra bên ngoài bằng nhiều hiện tượng khác nhau, mỗi hiện tượng chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất quan hệ hôn nhân

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Căn cứ ly hôn là tổng hợp các tình tiết, điều kiện do luật định, biểu hiện kahsch quan bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Dựa vào những tình

1.2 Các trường hợp áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014

Kế thừa và phát triển quy định về nội dung căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm

2000 (Điều 89), Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định nội dung căn cứ ly hôn trong các trường hợp vợ, chồng thuận tình ly hôn (Điều 55) và một bên có yêu cầu ly hôn (Điều 56) Mối quan hệ hôn nhân được bắt đầu bằng việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền và chấm dứt khi một trong hai bên vợ, chồng chết hoặc theo quyết định của Tòa án về việc giải quyết cho ly hôn có hiệu lực pháp luật Căn cứ theo ngữ nghĩa và

1 Nguyễn Lân (2006), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr 243

3

Trang 9

cách quy định về căn cứ ly hôn thì có thể thấy rằng Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu bốn căn cứ ly hôn

1.2.1 Đối với trường hợp thuận tình ly hôn

Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Căn cứ ly hôn trong trường hợp này được xác định bao gồm hai yếu tố:

- Yếu tố hình thức: Sự thể hiện ý chí về việc tự nguyện ly hôn (việc cùng yêu cầu

ly hôn của hai vợ chồng)

- Yếu tố nội dung: Sự thống nhất giữa việc thể hiện ý chí và ý chí thực sự của vợ chồng (thực sự tự nguyện)

Thứ nhất, vợ chồng cùng thể hiện ý chí là mong muốn được ly hôn Thuận tình ly

hôn phải là sự tự nguyện ý chí của cả hai vợ chồng, hai bên vợ chồng cùng thể hiện ý chí muốn ly hôn vào cùng một thời điểm và được thể hiện bằng Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn

Thứ hai, để xác định là thuận tình ly hôn còn thể hiện ở việc ý chí mong muốn ly

hôn cần phải thống nhất với ý chí thực sự của vợ chồng Thật sự tự nguyện cần được thể hiện qua việc tự do ý chí, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối và không phải là ly hôn giả tạo Khoản 9, khoản 15 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

“… 9 Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

15 Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân…”

Vợ, chồng chỉ được coi là tự nguyện ly hôn nếu mỗi bên vợ, chồng đều không bị tác động bởi bên kia hay bởi bất kì người nào khác khiến họ phải ly hôn trái với nguyện vọng của mình Mặt khác, nguyện vọng ly hôn phải đến từ những nhận thức đúng đắn của

vợ chồng đối với tình trạng quan hệ hôn nhân của mình Trường hợp một bên vợ, chồng hay cả hai bên bị bên kia hoặc bên thứ ba lừa dối, dẫn đến nhận thức sai lầm về tình trạng quan hệ vợ chồng nên đưa ra yêu cầu ly hôn thì đó cũng là biểu hiện của việc không thực

sự tự nguyện thuận tình ly hôn

Qua thực tế giải quyết các trường hợp ly hôn cho thấy, các cặp vợ chồng thuận tình

ly hôn thường tự thỏa thuận về việc chia tài sản và nuôi con Tuy nhiên, có trường hợp hai bên vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản và việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con hoặc có thỏa thuận những việc thỏa thuận không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con Quan hệ vợ chồng về bản chất đã tan vỡ, các bên chỉ có tranh chấp trong việc giải quyết hậu quả pháp lí của ly hôn Việc không thỏa thuận về chia

4

Trang 10

tài sản và trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là căn cứ để Tòa án xác định thủ tục áp dụng thủ tục áp dụng để giải quyết ly hôn Về bản chất, đây là trường hợp chuyển hóa từ thủ tục giải quyết việc dân sự sang vụ án dân sự do trong quá trình giải quyết xuất hiện tranh chấp Quan hệ nhân thân vợ chồng là quan hệ cốt lõi, không có tranh chấp nên được xác định là việc dân sự, quan hệ đi kèm là chia tài sản, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con xảy ra tranh chấp khi giải quyết vụ án dân sự này, Tòa án vẫn phải xác định rõ đối với vấn đề nhân thân, Tòa án công nhận thuận tình ly hôn của vợ chồng trên cơ sở áp dụng căn cứ giải quyết thuận tình ly hôn

1.2.2 Đối với trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu

Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn

mà hòa giải tại Tòa án không thà nh thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu

ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Theo quy định trên, có thể hiểu đã có ba căn cứ ly hôn được áp dụng cho các trường hợp ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu Các căn cứ ly hôn cụ thể này đã phản ánh tình trạng và bản chất của quan hệ hôn nhân tan vỡ hay chưa, cần phải có hướng dẫn

cụ thể từ phía các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Thứ nhất, vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình.

Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định về hành vi

bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”.

Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2017 quy định về các

hành vi bạp lực gia đình: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả

5

Ngày đăng: 21/04/2022, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Công tác thụ lý và giải quyết các vụ, việc ly hôn sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thị - BÁO CÁO THỰC TẬP
Bảng 2. Công tác thụ lý và giải quyết các vụ, việc ly hôn sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thị (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w