1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

lạm phát của việt nam qua các năm 2007 2008, 2010 2011, nguyên nhân và giải pháp cũng như triển vọng lạm phát năm 2017 ở việt nam (KInh tế vĩ mô)

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU Nói đến lạm phát là chúng ta liên tưởng ngay đến một nền kinh tế vì nó tồn tại song song với các chế độ khác nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng các biểu hiện của nó vô cùng đa dạng và phức tạp Trên thế giới, các quốc gia dù chọn mô hình kinh tế tập trung bao cấp hay kinh tế thị trường, nếu muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đến tam giác tăng trưởng, thất nghiệp, lạm phát Đây là ba chỉ số quan trọng nhất trong việc đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,.

Trang 1

GIỚI THIỆU:

Nói đến lạm phát là chúng ta liên tưởng ngay đến một nền kinh tế vì nó tồn tại song song với các chế độ khác nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng các biểu hiện của nó vô cùng đa dạng và phức tạp Trên thế giới, các quốc gia dù chọn

mô hình kinh tế tập trung bao cấp hay kinh tế thị trường, nếu muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đến tam giác: tăng trưởng, thất nghiệp, lạm phát Đây là ba chỉ số quan trọng nhất trong việc đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, chúng vừa đối lập nhau vừa liên kết chặt chẽ với nhau Trong đó, Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn

về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ là việc của các doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ

và của tất cả chúng ta.Trong những năm gần đây, đặc biệt là vào năm 2007-2008 Bởi lẽ đó, vấn đề lạm phát được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án Có thể nhận thấy, việc nghiên cứu lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân

và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước Vì thế, em quyết định chọn đề tài “LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2007- 2008, 2010-2011, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP CŨNG NHƯ TRIỂN VỌNG LẠM PHÁT NĂM 2017 Ở VIỆT NAM”

để nghiên cứu và làm tiểu luận

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

1.1 Một số định nghĩa về lạm phát:

Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường ,nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng ,nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hoá ,còn tòn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm Lạm phát đã trở thành mối quan tâm của rất nhiều người Do đó lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiêm cứu của các nhà kinh tế Mỗi người đều đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm ,phương hướng nghiên cứu của mình

Trong bộ tư bản nổi tiếng của mình ,Các Mác viết :”Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình “.Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành vào lưu thông vượt qua số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống ,giá cả tăng vọt và tình trạng lạm phát xuất hiện

Từ đây ,ông cho rằng lạm phát là “bạn đường “của chủ nghĩa tư bản.Không những chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư mà còn gây ra lạm phát giảm tiền lương của người lao động

Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng :”lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì ,dầu xăng ,xe ô tô tăng ,tiền lương ,giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng “.Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả

Trang 2

Còn Milton Friedman lại quan niệm khác :”Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài “.Ông cho rằng lạm phát là một hiện tượng tiền tệ

Một số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes đều tán thành ý kiến đó của Friedman.Họ cho rằng khi thị trường tiền tệ phát triển ,ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kì thời điểm nào Nó chính là một hiện tượng tất yếu của taì chính – tiền tệ

Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó đựoc

sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường :”Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian“

1.2 Phân loại lạm phát:

1.2.1 Lạm phát vừa phải

Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm thường ở mức một con

số Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế

1.2.2 Lạm phát phi mã.

Lạm phát trong phạm vi hai hoặc ba con số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã Khi lạm phát phi mã xảy ra giá trị đồng tiền bị mất giá rất nhanh, mọi người

có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

1.2.3 Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao Siêu lạm phát bắt đầu khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng vượt quá 50% Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là

sự gia tăng quá mức trong cung tiền,nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến, hoặc cách mạng, do sự căng thẳng

về ngân sách chính phủ

2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2008 và 2010-2011

2.1 Lạm phát giai đoạn 2007-2008:

Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng đạt 8,48%, cao hơn mức trung bình 5 năm giai đoạn 2003- 2007, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 2007 và đầu 2008, cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu thô tăng cao, giá cả lương thực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm cố hữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi Năm 2007 còn là năm hội tụ của những “cơn bão” tệ hại cho nền kinh tế nước ta: thiên tai bão lụt, dịch bệnh và đặc biệt là cơn bão tăng giá kéo dài và bất kham, lạm phát của nước ta tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát, tỉ lệ lạm phát cao ở mức 13%, chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt từ hơn 6% năm 2006 lên 12,69% năm 2007 Tính chung cả năm 2007, CPI ước khoảng trên 10,5- 11%, phần nào phản ánh tốc

độ trượt giá và lạm phát của năm nay Theo thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê, tính đến cuối tháng 10/2007, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã lên đến hơn 9.34% so với cùng kỳ năm trước, và khoảng 8,12% so với đầu năm

Những tháng đầu năm 2008, mức lạm phát của Việt Nam đã tăng đến 25,2% trong tháng 5, cao nhất kể từ năm 1992, tạo ra thách thức cho chính phủ khi họ cố gắng

Trang 3

kìm chế nền kinh tế đang phát triển quá nóng Mức tăng giá, ở tháng tư là 21%, vì mức tăng 67,8% của giá gạo – nông sản chủ yếu chịu trách nhiệm cho sự tăng gía 42,8% của hàng hoá và dịch vụ khi chúng ta tinh toán mức lạm phát Chi phí xây dựng và tiền thuê nhà cũng tăng 22,9% so với năm 2007 Đến tháng bảy, tỷ lệ lạm phát lại một lần nữa tăng lên tới 27%,khi giá thực phẩm và nhiên liệu đã kìm hãm nền kinh tế nơi mà Việt Nam đang phải đối phó với trận chiến chống lạm phát tàn khốc nhất vùng Á Châu

2.2 Lạm phát giai đoạn 2010-2011:

Năm 2010 Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11,75% so với tháng 12 năm 2009 Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm gần 5% Tính chung trong cả năm 2010, giáo dục là nhóm tăng giá mạnh nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010 Năm 2011 ,Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm

2011 ước tính tăng 5,76% so với cùng kỳ năm 2010 CPI cả nước tháng 10 tăng 21.59% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng 17.05% so với tháng 12 năm 2010 Tính chung 10 tháng, CPI tăng 18.5% so với cùng kỳ năm trước

Nếu tháng giêng năm 2011, lạm phát Việt Nam khởi điểm 7% so với cùng kỳ năm

2010 thì đúng 3 tháng sau đó, cuối tháng 4/2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam chính thức thông báo lạm phát hay chỉ số giá tiêu dùng (gọi tắt là CPI) nhảy vọt lên mức gần 18% so với một năm trước đó

Nghe các con số thì khô khan, nhưng chỉ cần hình dung thế này, nếu quí vị, tháng tư năm trước bỏ ra 100,000 cho một ký lô thịt heo, thì đến tháng tư năm nay, quí vị phải bỏ ra gần 118,000 đồng cũng chỉ để mua một ký lô thịt heo Trong khi lương tháng vẫn không hề thay đổi, hàng hóa thì tăng, còn tiền lương lại cố định, làm cho quí vị có cảm giác như như mình vừa bị “lấy trộm” mất gần 18,000 đồng

Với mức tăng xấp xỉ gần 18%, tốc độ leo thang của giá cả được cho là tăng nhanh nhất kể từ hồi năm 2008.

Tuy nhiên, lạm phát Việt Nam vẫn chưa dừng lại ở đó Lạm phát tháng 7 lên đến đỉnh điểm, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng xấp xỉ 15% so với ngày

đầu tiên của năm 2011 Lạm phát tháng 7 của Việt Nam lúc này ở mức cao nhất Châu Á và đứng thứ nhì thế giới, chỉ sau Venezuela

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2008 VÀ 2010-2011

2.1 Giai đoạn 2007-2008:

2.1.1 Nguyên nhân bên ngoài:

-Cũng như những quốc gia châu á khác, do đồng USD suy yếu trong những năm gần đây đã tạo ra những cú sốc về tăng giá xăng dầu, giá vàng, giá lương thực thực phẩm… từ đó tác động xấu đến giá cả ở VN Giá cả thị trường thế giới liên tục tăng

Trang 4

cao, xăng dầu tăng (giá dầu thô từ 60 USD/thùng đầu năm 2007 tăng lên trên 100 USD/thùng cuối năm 2007), sắt thép tăng 30%, phân bón tăng 20%, lúa mì tăng 60%, sợi, bông, chất dẻo, … Đồng thời những mặt hàng nước ta xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều…) cũng xuất với giá tăng rất cao, đặc biệt là giá lương thực phẩm tăng trên 30%, nên giá thu mua cũng tăng, từ đó làm ảnh hưởng lớn đến giá cả chung trong nước, vả lại khi tính chỉ số CPI thì trọng số lương thực thực phẩm ở ta chiếm tỷ lệ cao (42,85%), nhà ở vật liệu xây dựng chiếm 10%, giá xăng dầu trong năm 2007 tăng nhanh, giá vàng thế giới v trong nước tăng rất cao, ảnh hưởng gián tiếp là tác động tâm lý đến các loại giá khác, nên CPI tăng mạnh

2.1.2 Nguyên nhân bên trong:

- Chính sách tài khóa không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn bệnh lạm phát ở nước ta Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng) Đầu

tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước nhà – Thiên tai, mưa bão, lũ lụt, những đợt rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc gây thiệt hại năng nề: con người, tài sản, đất trồng, lương thực thực phẩm và dịch bệnh (SARS, cúm gia cầm) ảnh hưởng đến giá cả thực phẩm…ảnh hưởng đến giảm tổng cung

– Chi phí sản xuất hàng hóa dịch vụ chưa hợp lý, sức cạnh tranh các sản phẩm trong nước không cao, hiệu quả kinh tế thấp

– Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh theo giá thị trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện, xăng dầu, than,… làm ảnh hưởng đến việc tăng giá các hàng hóa khác

– Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền (tổng phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%, năm

2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm GDP chỉ tăng 25.09% Chênh lệch giữa cung tiền tăng trong 3 năm qua (134.5%) với tăng trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên giá cả trong nước,

và cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng hưởng bởi lạm phát quốc tế (USD yếu) và thiên tai

2.2 Giai đoạn 2010-2011

2.2.1 Nhà nước chủ trương phát triển kinh tế ở mức độ cao bằng mọi giá.

08/11/2010 chính phủ đặt ra những chỉ tiêu phát triển không thực tế: 7%-7.5% mỗi năm trong 5 năm tới và 7%-8% trong 2011-2020 Trong khi đó, kinh tế Việt Nam trải qua nạn lạm phát 11.75% vào năm 2010 cao hơn tất cả những nước láng giềng

Để đạt được mục tiêu phát triển, chính phủ gia tăng chương trình đầu tư công qua các doanh nghiệp nhà nước và hậu quả là làm tăng mức cầu về tín dụng Do đó có thể nói rằng lạm phát hiện nay phần lớn do sức cầu kéo.và mãi đến 18/10/2011, Chính phủ đề xuất giảm xuống còn 6-6.5% để ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô

2.2.2 Do tính quy luật về quan hệ cung cầu hàng hóa theo mùa trong năm.

Trang 5

Năm 2010: Nhìn vào diễn biến chỉ số CPI giữa các tháng trong năm 2010 cho thấy: chỉ số CPI tăng cao chủ yếu vào đầu năm và cuối năm, tập trung là vào dịp trước và sau Tết Dương lịch cũng như Tết Nguyên đán Đây là khoảng thời gian cầu tăng mạnh do tiêu dùng cuối năm, dịp Tết, nhưng cung hạn chế do thời tiết, do mùa vụ của sản xuất và một số yếu tố khác Riêng tháng 12 – 2010 chỉ số CPI tăng cao nhất, tới gần 2%

Năm 2011: Nhìn trên các chỉ số cụ thể từng tháng, CPI năm 2011 có 3 điểm đáng lưu ý:

Thứ nhất, đây là năm có mức độ tăng giá trong một tháng rất cao, tháng 4 “vọt” lên mức 3,32%

Thứ hai, ngoài mức tăng đột biến, khoảng cách giữa tháng tăng cao nhất và tháng giảm thấp nhất cũng rất lớn, lên đến 2.96% (so sánh mức tăng 3,32% với mức giảm 0.36%)

Thứ ba, diễn biến chỉ số giá năm 2011 phá vỡ tính chu kỳ của các năm 2010 Trong khi những năm 2010, biểu đồ chỉ số giá diễn biến theo hình parabol ngược, tức là tăng cao ở những tháng đầu năm và cuối năm dương lịch, tăng thấp hoặc giảm vào những tháng đầu quý 2 và khá ổn định những tháng giữa năm, thì năm 2011 có sự đột biến mạnh trong quý I và giữa quý II, sau đó giảm tốc mạnh mẽ những tháng cuối năm

2.2.3 Do thiên tai

-Ảnh hưởng đến mùa màng vừa bị thiệt hại, thức ăn và vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị nông nghiệp bị mất hay hư hỏng

- Dịch cúm gia cầm, bệnh dịch lở mồm long móng

- Giá điện, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, lãi suất vốn vay và chi phí vốn vay tăng, chi phí đầu vào tăng

- Trong năm 2010, giá bán lẻ thức ăn chăn nuôi đã tăng tới 14 lần, riêng từ

15/9/2010 đến cuối tháng 12/2010 tăng tới 9 lần Giá thức ăn chăn nuôi tháng 1/2010 còn ở mức

187.500 đồng/bao loại 25 kg, đến tháng 12/2010 đã tăng lên 264.000 đồng/kg nên nhiều vùng trồng rau màu ven các đô thị lớn thu hẹp diện tích gieo trồng, nguồn cung giảm

2.2.4 Do tác động của giá cả trên thị trường thế giới.

- Giá thế giới tăng, giá xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của Việt Nam tăng và giá thu mua trong thị trường nội địa cũng tăng Bình quân 8 tháng năm 2011, giá cả

Trang 6

hàng hóa chung thế giới đã tăng 32,88% so với cùng kỳ năm 2010, cao hơn mức tăng của năm 2010 và 2009, trong khi cán cân thương mại thâm hụt ở mức lớn

- Giá nông sản, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất khác phục vụ nông nghiệp và thuốc thú y trên thị trường thế giới tăng khá cao, giá dầu thô trên thị trường thế giới năm 2010-2011 biến động dữ dội làm cho giá xăng dầu trong nước tăng lên đột biến Các mặt hàng khác có liên quan đến dầu

mỏ như: khí đốt, gas,hóa chất, hạt nhựa, nhựa đường, than đá, chất dẻo, phân bón cũng tăng khá cao

2.2.5 Việc phá giá đồng bạc Việt Nam (VNĐ) và xuất nhập khẩu.

Sự phá giá VNĐ cũng giúp tăng xuất khẩu và giảm chênh lệch cán cân thương mai

vì làm giảm chi phí sản xuất trong nước Tuy nhiên, đồng Việt Nam mất giá cũng làm tăng lạm phát vì giá sản phẩm và nguyên liệu nhập khẩu sẽ gia tăng tính theo VNĐ Đồng nội tệ sẽ lại mất giá mạnh, khi đó sẽ tác động tăng lạm phát cao hơn vì phải bỏ ra nhiều nội tệ hơn để có một đồng ngoại tệ

2.2.6 Do tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng.

Trong xu hướng đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, diện tích đất đai tiếp tục bị thu hẹp Việc thu hồi đất nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác màu mỡ của người dân ở ven các khu đô thị, làm cho diện tích đất trồng trọt giảm Mặt khác, tình trạng

đó làm hạn chế quy mô sản xuất nông nghiệp, giảm nguồn cung ứng nông sản ra thị trường.Xu hướng này càng được đẩy mạnh và mở rộng trong năm 2010, nên tác động đáng kể đến giá cả.Cũng do quá trình đô thị hóa, giá thuê nhà trong năm 2010 bình quân tăng trên 20%, nhất là giá nhà cho người có thu nhập thấp và trung bình thuê, như sinh viên, người lao động

2.2.7 Do tác động của lãi suất.

Lãi suất thị trường liên ngân hàng tạo thành xu hướng đi lên, từ quanh mức 10,25% cuối tháng 8, đến đầu tháng 9 năm 2010 lên mức khoảng 14% và có thời điểm đến 18-20%

Mức tín dụng tăng 27% trong năm 2010, vượt quá mục tiêu 25% Mức tín dụng chỉ tiêu cho năm 2011 là 23%.Mặc dù trong 9 tháng 2011, tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức thấp, lần lượt là 8.87% và 8.16% (ngày 23/9/2011), nhưng ảnh hưởng của tăng trưởng cung tiền và tín dụng tới lạm phát là

có độ trễ Do đó, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến lạm phát tăng cao

2.2.8 Do biến động của giá vàng và diễn biến tâm lý của người dân.

- Yếu tố tâm lý tác động nhiều đến động thái tiêu dùng và phân phối hàng hóa trong nền kinh tế Chính phủ đã nới lỏng mục tiêu lạm phát từ 7% đến dưới 10% đến 15% đến 17% và 18% và các tổ chức quốc tế cũng điều chỉnh tăng dự báo lạm phát Việt Nam khiến cho niềm tin của dân chúng về lạm phát ổn định bị ảnh hưởng và làm

Trang 7

gia tăng mức lạm phát kì vọng, góp phần tăng lạm phát thực tế Trong đó, lạm phát tâm lý trong nền kinh tế đang ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống xã hội, đặc biệt là giá các loại hàng hóa trên thị trường

-Giá vàng tăng và lên cơn sốt vào nhiều thời điểm, cộng với diễn biến thất thường của tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do, tác động lớn đến tâm lý của người dân

về lạm phát,về sự mất giá của đồng tiền Việt Nam, góp phần tác động đến mặt bằng giá chung trên thị trường

2.2.9 Nợ công và chi tiêu công quá mức.

Nợ công

Năm 2011, dự kiến nợ công của Việt Nam ước khoảng 54,6% GDP và theo đánh giá của Chính phủ đang ở ngưỡng an toàn

Về chi tiêu công

Với mức chi tiêu của khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư) trong những năm 2010-2011 luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nước bằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu tư toàn xã hội) là một mức quá cao

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHÀ NƯỚC ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2008 VÀ 2010-2011

3.1 Giai đoạn 2007-2008:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Cho dù do nhiều nguyên nhân,

nhưng lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ Mức cung tiền trong lưu thông và dư

nợ tín dụng tăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyên nhân quan trọng gây lạm phát Nhận thức được tình hình đó, Chính phủ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng ngay

từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp

lý các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằng được yêu cầu này

Điều cần nhấn mạnh là trong khi kiên quyết thắt chặt tiền tệ, cần bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và xuất khẩu phát triển

Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của

doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội Cắt giảm nguồn đầu tư này sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi phí hành chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các công trình kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự điều chỉnh thích hợp Điều này sẽ được thực hiện một cách kiên quyết ngay trong việc phân bổ lại và cân đối nguồn

Trang 8

Cũng trên tinh thần đó, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước, rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả Đồng thời, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất

Ba là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt

Nam đã là thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài

và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ

Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ tịch UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển

Bốn là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu Cân đối cung cầu về hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản

xuất và đời sống nhân dân là tiền đề quyết định để không gây ra đột biến về giá, ngăn chặn đầu cơ

Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng đã và sẽ tiếp tục làm việc với các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, phân bón giao nhiệm vụ cho các đơn vị này phải bảo đảm nguồn hàng, đồng thời có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả

Trong khi kiên trì chủ trương thực hiện cơ chế giá thị trường, xoá bỏ bao cấp qua giá, nhưng trong tình hình hiện nay, mặc dầu giá thế giới tăng cao, Chính phủ đã quyết định: từ nay cho đến hết tháng 6, chưa tăng giá điện, giá than, giá xăng dầu; giữ ổn định giá xi măng, phân bón, nước sạch, thuốc bệnh, vé máy bay, tàu hoả; giao Bộ Tài chính rà soát để cắt, giảm các loại phí thu từ nông dân

Để bảo đảm nguồn cung trên thị trường nội địa, giữ vững an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức của nhóm hàng này, Chính phủ quy định lượng xuất khẩu gạo năm nay ở mức 4 triệu tấn và từ nay đến hết quý 3 không quá 3,2 triệu tấn Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài chính đề xuất phương án nâng thuế xuất khẩu than, dầu thô và nghiên cứu khả năng áp dụng thuế xuất khẩu gạo

Trang 9

Trong điều kiện đồng Đô la Mỹ giảm giá so với đồng tiền các nước là thị trường xuất khẩu lớn của nước ta, việc neo giữ quá lâu tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng Đô la Mỹ không phản ánh đúng quan hệ thực trên thị trường ngoại tệ

Vì vậy, Chính phủ chủ trương áp dụng tỷ giá linh hoạt với biên độ thích hợp, phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường, giúp cho việc kiềm chế lạm phát nhưng không ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu, bảo đảm việc mua bán, chuyển đổi ngoại tệ diễn ra thuận lợi

Cán cân thương mại là một chỉ tiêu vĩ mô rất quan trọng Nhập siêu tăng trong năm

2007 và tăng cao hơn trong quý 1 năm nay, đã đe doạ đến cân đối vĩ mô, đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp kiên quyết để hạn chế tình trạng này trên cơ sở đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu

Để làm việc này, Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp: Ngân hàng Nhà nước bảo đảm đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu cho từng trường hợp cụ thể; tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu; cải cách mạnh thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp khác phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta để giảm nhập siêu, kể cả việc tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu

Năm là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng Hiện nay, tình trạng lãng

phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn Vì vậy, Chính phủ yêu cầu các

cơ quan nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng Đây là giải pháp vừa có tác dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền sản xuất xã hội

Sáu là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến

động trên thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất

và tiêu dùng, như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…; ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng sản

Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thường xuyên kiểm tra giá bán tại các mạng lưới bán lẻ và các đại lý bán lẻ của doanh nghiệp mình Chính phủ đã chỉ đạo các tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện yêu cầu này và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ và đại lý bán lẻ của doanh nghiệp Chính phủ cũng yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực, ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường, giá cả

Trang 10

Bảy là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội Trước tình hình

giá cả tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp, Chính phủ đã chủ trương

mở rộng các chính sách về an sinh xã hội

Chính phủ đã quyết định tăng 20% mức lương tối thiểu cho những người lao động thuộc khối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

- xã hội từ ngày 1 tháng 1 năm 2008 Chính phủ cũng quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng tăng lên đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và

cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động

Riêng với người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề), mức lương tối thiểu quy định cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng Ngoài ra, khoảng 1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đã được tăng lương 20%, hơn 1,5 triệu người có công đã được điều chỉnh trợ cấp lên 20% so với mức chuẩn hiện hành

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân Theo đó, thực hiện cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới; điều chỉnh mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm lên 130.000 đồng/người/ năm; hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; hỗ trợ ngư dân mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản, tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản; hỗ trợ ngư dân để thay máy tàu sang loại máy mới tiêu hao ít nhiên liệu hơn; hỗ trợ về kinh phí bảo hiểm thân tàu cho tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên làm việc theo hợp đồng lao động trên các tàu cá, tàu dịch vụ; hỗ trợ về dầu cho ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản hoặc tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản

Chính phủ đã quyết định giữ ổn định mức thu học phí, viện phí và tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại học, cao đẳng, học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi

để học tập Tiếp tục xuất gạo dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho hộ đồng bào

bị thiên tai, thiếu đói (5) Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng khó khăn, vùng

bị thiên tai Điều quan trọng cần chú ý là phải xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực thi, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng

3.2 Giai đoạn 2010-2011

Từ thực trạng này, Chính phủ thống nhất cao các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới

Ngày đăng: 21/04/2022, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w