TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ CHỦ ĐỀ CẠNH TRANH SO SÁNH VỚI CẤU KẾT THẾ KHÓ XỬ CỦA NHỮNG NGƯỜI TÙ VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ Giảng viên hướng dẫn ThS Trần Thị Thùy Dung Môn Kinh tế vi mô 2 Lớp D01 NHÓM BẢNG ĐIỂM Bằng số Bằng chữ TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022 BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Họ và tên Nhiệm vụ Tiến độ 1 Trưởng nhóm, nội dung chương 4, thuyết trình 100% 2 Nội dung và powerpoint chương 3 100% 3 Nội dung chương 2, thuyết trình 100% 4 Nội dung và powerpoint chương 4 100.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-
-CHỦ ĐỀ: CẠNH TRANH SO SÁNH VỚI CẤU KẾT: THẾ KHÓ XỬ CỦA NHỮNG NGƯỜI TÙ VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ
Giảng viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Thùy Dung Môn : Kinh tế vi mô 2
Lớp : D01
NHÓM:
BẢNG ĐIỂM
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
chương 4, thuyết trình
100%
chương 3
100%
trình
100%
chương 4
100%
chương 3
100%
chương 5
100%
Chương 1&2
100%
Trang 3MỤC LỤC CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ CẠNH TRANH VÀ CẤU KẾT TRONG THỊ TRƯỜNG
ĐỘC QUYỀN NHÓM 4
CHƯƠNG 2: CẠNH TRANH TRONG ĐỘC QUYỀN NHÓM - MÔ HÌNH ĐƯỜNG CẦU GÃY KHÚC 4
2.1 Lý thuyết 4
2.2 Mô hình đường cầu gãy khúc 5
CHƯƠNG 3: CẤU KẾT TRONG ĐỘC QUYỀN NHÓM 6
3.1 Khái niệm 6
3.2 Các hình thức cấu kết trong thị trường độc quyền nhóm 6
3.2.1 Cấu kết công khai (Formal collusion) 6
3.2.2 Cấu kết ngầm (Tacit collusion) 7
3.2.3 Dẫn dắt giá (Price Leadership) 7
CHƯƠNG 4: LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ THẾ KHÓ XỬ CỦA NGƯỜI TÙ 8
4.1 Lý thuyết trò chơi 8
4.2 Thế khó xử của những người tù và hệ quả của nó 8
4.3 Liên hệ thực tế với các doanh nghiệp độc quyền nhóm 10
CHƯƠNG 5: TỔNG KẾT 11
Trang 4CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ CẠNH TRANH VÀ CẤU KẾT TRONG THỊ
TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN NHÓM
Sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm khiến cho các doanh nghiệp phải lựa chọn giữa hai phương án: hoặc chúng cạnh tranh với nhau để gạt dần các đối thủ ra khỏi thị trường, hoặc cấu kết, hợp tác với nhau nhằm tránh những tổn thất do cạnh tranh gây ra Số lượng doanh nghiệp càng nhiều, việc cấu kết càng khó khăn do chi phí giao dịch nhằm hình thành một thỏa thuận công khai hoặc ngấm ngầm và đảm bảo cho nó có hiệu lực thường lớn Khả năng cấu kết cũng khó thành hiện thực hơn khi sản phẩm của các doanh nghiệp khác biệt nhau, hay khi các điều kiện thị trường (nhu cầu và chi phí) thay đổi nhanh Nếu các doanh nghiệp không cấu kết được với nhau, đường cầu của mỗi doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào hành vi phản ứng của các đối thủ Mô hình đường cầu gãy khúc đưa ra một sự giải thích đơn giản
về sự phụ thuộc lẫn nhau này
CHƯƠNG 2: CẠNH TRANH TRONG ĐỘC QUYỀN NHÓM - MÔ HÌNH ĐƯỜNG CẦU GÃY KHÚC
2.1 Lý thuyết
Cạnh tranh trong độc quyền nhóm hay các doanh nghiệp độc quyền nhóm không cấu kết với nhau xảy ra khi các doanh nghiệp không liên lạc, không thương lượng với nhau, không có những hợp tác ràng buộc mà cạnh tranh với nhau
Khi các doanh nghiệp không cấu kết được với nhau, đường cầu của mỗi doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào hành vi phản ứng của các đối thủ Và mô hình đường cầu gãy khúc sẽ đưa ra một sự giải thích đơn giản về sự phụ thuộc lẫn nhau này
Mô hình đường cầu gãy dựa trên các giả sử:
- Nếu hãng tăng giá bán, các hãng đối thủ sẽ không phản ứng gì và hãng sẽ bán được ít hàng hóa theo quy luật cầu
Trang 5- Nếu hãng giảm giá xuống với hy vọng lượng cầu sẽ tăng lên, các hãng sẽ phản ứng bằng cách giảm giá xuống làm cho lượng cầu của hãng tăng ít hơn so với kỳ vọng, tạo nên đường gãy khúc
2.2 Mô hình đường cầu gãy khúc
Trên một thị trường độc quyền nhóm, giả sử doanh nghiệp đang sản xuất với sản lượng là QA và định giá P2 cho mỗi đơn vị sản lượng Nếu doanh nghiệp này quyết định tăng giá từ P2 lên P1 thì sẽ bán được ít sản phẩm hơn, lượng cầu tương ứng sẽ giảm từ QA sang QB Tuy nhiên, khi hãng quyết định giảm giá từ P2 xuống P3, đáng ra lượng cầu sẽ tăng từ QA sang QD, nhưng trên thực tế lượng cầu chỉ tăng một lượng nhỏ từ QA sang QC Tức tăng giá thì sản lượng giảm nhiều còn giảm giá thì sản lượng giảm ít, tạo nên đường cầu gãy như mô hình
Điển hình như khi doanh nghiệp Viettel tăng giá thì người tiêu dùng của Viettel ít
đi Vậy điều đó sẽ ảnh hưởng đến các đối thủ của Viettel như thế nào? Khi Mobifone không làm gì thì Mobifone sẽ không làm gì để được lợi, người tiêu dùng sẽ chuyển sang dùng Mobifone nên lượng cầu sẽ giảm nhiều Nhưng nếu Viettel giảm giá, nếu Mobifone không làm gì thì lượng cầu sẽ tăng cao (như trên mô hình sẽ tăng từ QB sang QD) Tuy nhiên nếu Mobifone không làm gì thì khiến những người tiêu dùng tăng lượng cầu của
Trang 6Viettel và khách hàng của Mobifone cũng có khả năng cao sẽ chuyển sang dùng Viettel Vậy ở trường
Trang 7hợp này Mobifone sẽ bị thiệt do đó chắc chắn sẽ có phản ứng, Mobifone cũng sẽ giảm giá xuống để khách hàng sẽ không chuyển từ Mobifone sang Viettel, do đó số lượng khách hàng tăng lên ở thị trường Viettel sẽ không cao ( chỉ từ QA sang QC)
Rõ ràng, mô hình đường cầu gãy khúc cho thấy, trên thị trường độc quyền nhóm, các doanh nghiệp riêng biệt có xu hướng giữ ổn định sản lượng và giá cả trong một giới hạn nhất định, bất chấp sự thay đổi của chi phí Mức giá xuất phát P2 có thể được coi là mức giá cấu kết, được sự chấp nhận chung của các doanh nghiệp khác trên thị trường Vì
nó được hình thành trên cơ sở các thỏa thuận, các doanh nghiệp đối thủ sẽ phản ứng theo kiểu trả đũa hay trừng phạt nếu một doanh nghiệp riêng biệt muốn thay đổi mức giá này Chỉ khi toàn bộ đường cầu chung của thị trường hay chi phí chung của ngành thay đổi, mức giá cấu kết P mới thay đổi Khi đó, đường cầu gãy khúc của mỗi doanh nghiệp riêng biệt sẽ dịch chuyển vì điểm giá P đã thay đổi
CHƯƠNG 3: CẤU KẾT TRONG ĐỘC QUYỀN NHÓM
3.1 Khái niệm
Cấu kết (Thông đồng) trong tiếng Anh là Collusion.
Cấu kết là một thỏa thuận không cạnh tranh, bí mật và đôi khi bất hợp pháp giữa các đối thủ, nhằm phá vỡ trạng thái cân bằng của thị trường Hành động cấu kết liên quan đến những người hoặc công ty thường cạnh tranh với nhau, nhưng họ âm mưu hợp tác để giành lợi thế thị trường một cách không công bằng
Các bên cấu kết với nhau có thể lựa chọn để tác động đến nguồn cung thị trường của hàng hóa hoặc đồng ý thiết lập một mức giá cụ thể giúp tối đa hóa lợi nhuận của họ, trong khi các đối thủ khác chịu thiệt hại
3.2 Các hình thức cấu kết trong thị trường độc quyền nhóm
3.2.1 Cấu kết công khai (Formal collusion)
Các công ty thỏa thuận công khai về giá cả, sản lượng và các quyết định khác nhằm đạt được lợi nhuận độc quyền Các công ty hình thành một Cartel - Một nhóm các doanh
Trang 8nghiệp hoạt động vì mục tiêu chungđể đạt được quyền lực độc quyền Cartel nổi tiếng nhất là OPEC - một tổ chức liên quan đến việc định giá dầu
⇨Ví dụ : OPEC - tổ chức định giá dầu
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), có lẽ là cartel nổi tiếng nhất, bao gồm 13 quốc gia sản xuất dầu Trong những năm 1970, OPEC đã hoạt động thành công như một tổ chức độc quyền bằng cách hạn chế sản lượng khai thác dầu của các nước thành viên và tăng giá, qua đó có thể khống chế giá dầu mỏ trên thế giới Tuy nhiên, vào giữa những năm 1980, sức mạnh độc quyền của các-ten đã bị suy yếu do sự mở rộng sản lượng của các nhà sản xuất
3.2.2 Cấu kết ngầm (Tacit collusion)
Một giải pháp thay thế cho thông đồng công khai là thông đồng ngầm, các công ty thực hiện các thỏa thuận không chính thức hoặc thông đồng với nhau mà không công khai thường để tránh bị phát hiện bởi các cơ quan quản lý của chính phủ
⇨ Ví dụ: Ấn định giá của British Airways và Virgin
Năm 2007, British Airways bị phạt 270 triệu bảng Anh vì thỏa thuận ấn định giá bất hợp pháp với Virgin trên các chuyến bay đường dài Hai công ty đã gặp nhau để thống nhất và thông đồng về việc tăng giá phụ phí xăng dầu trước tình hình giá dầu tăng Từ năm 2004 đến 2006, phụ phí vé máy bay đã tăng từ £ 5 lên £ 60 mỗi vé Khoản tiền phạt
270 triệu bảng so với lợi nhuận hàng năm là 611 triệu bảng cho BA
3.2.3 Dẫn dắt giá (Price Leadership)
Có thể các công ty có thể cố gắng thông đồng một cách không chính thức bằng cách tuân theo các mức giá do công ty dẫn đầu thị trường đặt ra Điều này cho phép họ giữ giá cao mà không gặp phải các công ty đối thủ Khó có thể chứng minh được đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay chỉ là hoạt động tự nhiên của thị trường
⇨ Ví dụ: Công ty Viễn thông Ấn Độ
Trang 9Công ty Viễn thông Ấn Độ (Reliance JIO) đã cung cấp Internet và thiết bị gọi điện miễn phí hơn sáu tháng sau khi ra mắt trong khi các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác đang tính phí cho cả Internet và cuộc gọi
Trước đây khách hàng thường giới hạn dung lượng sử dụng Internet là 2GB mỗi tháng Sau khi ra mắt JIO, khách hàng bắt đầu sử dụng dữ liệu không giới hạn hàng ngày
và cuộc gọi được thực hiện hoàn toàn miễn phí
Nó đã dẫn đến một sự thay đổi lớn trong ngành viễn thông của ẤN ĐỘ.Từ khi JIO bắt đầu tính giá rẻ từ khách hàng hàng tháng, các nhà cung cấp khác phải tuân theo cơ chế định giá của JIO để tồn tại hoặc thoát khỏi thị trường
CHƯƠNG 4: LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ THẾ KHÓ XỬ CỦA NGƯỜI TÙ
Đầu tiên có thể nhận định rằng các doanh nghiệp độc quyền nhóm sẽ muốn đạt được kết quả độc quyền, nhưng làm như vậy đòi hỏi sự hợp tác, một điều khó có thể thực hiện và duy trì Qua một ví dụ kinh điển trong lý thuyết trò chơi , giúp xem xét kỹ hơn những vấn đề sẽ xuất hiện khi sự hợp tác giữa các chủ thể kinh tế là một điều mong muốn nhưng lại rất khó thực hiện Để phân tích dưới góc độ kinh tế học về sự hợp tác, chúng ta cần phải tìm hiểu về lý thuyết trò chơi
4.1 Lý thuyết trò chơi
Lý thuyết trò chơi (game theory) là kỹ thuật sử dụng suy luận logic để tìm ra hậu quả của những chiến lược được các đối thủ tham gia trò chơi chấp thuận Lý thuyết trò chơi có thể áp dụng trong kinh tế để phân tích những vấn đề có liên quan đến sự hình thành chiến lược thị trường của các đối thủ cạnh tranh phụ thuộc lẫn nhau
4.2 Thế khó xử của những người tù và hệ quả của nó
“Thế khó xử của những người tù” Là một bài toán điển hình trong lý thuyết trò chơi
mô tả sự tiến thoái lưỡng nan của những người tham gia vào một trò chơi phụ thuộc lẫn nhau trong việc lựa chọn giữa hợp tác (cấu kết) hay bất hợp tác
Tình huống: “Thế khó xử của những người tù”
Trang 10Tình huống này sẽ giải thích lý do tại sao sự hợp tác lại khó có thể để đạt được Có thể rất nhiều lần trong đời, mọi người thất bại trong việc hợp tác với người khác ngay cả khi sự hợp tác đó sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên Thế khó xử của người tù” hay còn được biết đến là “tình thế tiến thoái lưỡng nan của tù nhân”, minh họa vấn đề mà các doanh nghiệp độc quyền nhóm phải đối mặt Không những thế, đây là một câu chuyện chứa đựng một bài học chung, có thể áp dụng cho bất cứ nhóm nào đang cố gắng duy trì
sự hợp tác giữa các thành viên
Nó diễn ra như sau: Hai tù nhân A và B bị buộc tội khi đã cùng nhau thực hiện một hành vi phạm tội Họ ở trong các phòng giam riêng biệt và không thể giao tiếp với nhau Từng người được yêu cầu thú nhận
Nếu cả hai tù nhân thú tội, mỗi người sẽ nhận án tù 4 năm
Nếu cả hai đều không thú nhận, trường hợp của cơ quan công tố sẽ khó được thực hiện, vì vậy các tù nhân có thể mong đợi mặc cả và nhận án tù 1 năm
Ngược lại, nếu một tù nhân tự thú và người kia không thú nhận, người nào thú nhận sẽ chỉ nhận được một thời hạn là một năm, trong khi người kia sẽ phải ngồi tù 10 năm
B ở tù 4 năm
A ở tù 10 năm
B ở tù 1 năm
B không thú tội A ở tù 1 năm
B ở tù 10 năm
A ở tù 1 năm
B ở tù 1 năm
Bảng 1: Ma trận thành quả cho thế khó xử của những người tù
Trang 11Như bảng cho thấy, các tù nhân phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan Nếu
cả hai có thể đồng ý không thú nhận (theo cách có thể ràng buộc), thì mỗi người sẽ chỉ phải
Trang 12ngồi tù một năm Nhưng họ không thể nói chuyện với nhau, và ngay cả khi họ có thể, họ
có thể tin tưởng nhau không? Nếu phạm nhân A không tự thú, anh ta có nguy cơ bị đồng phạm cũ lợi dụng Rốt cuộc, Bất kể Tù nhân A làm gì, Tù nhân B sẽ ra đầu thú bằng cách
tự thú Tương tự như vậy, phạm nhân A luôn ra đầu thú bằng cách thú nhận, vì vậy, phạm nhân B phải lo lắng rằng không thú nhận mình sẽ bị lợi dụng Do đó, cuối cùng cả hai tù nhân có thể sẽ thú tội và phải ngồi tù 4 năm
Nhận xét:
Cả A và B đều có thể thú tội và phải ở tù 4 năm Tuy nhiên, từ quan điểm của họ thì đây là một kết cục tồi tệ Vì nếu như cả hai đều giữ im lặng, họ sẽ có lợi hơn vì chỉ ngồi
tù 1 năm Bởi vì họ chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân nên cả hai phải nhận một kết cục xấu hơn
4.3 Liên hệ thực tế với các doanh nghiệp độc quyền nhóm
Đối với các doanh nghiệp độc quyền nhóm, họ thường thấy mình trong tình thế tiến thoái lưỡng nan của các tù nhân
Quyết định xem có nên cạnh tranh mạnh mẽ, cố gắng chiếm thị phần lớn hơn với chi phí của đối thủ cạnh tranh
Hay “hợp tác” và cạnh tranh thụ động hơn, cùng tồn tại với đối thủ và tranh giành thị phần hiện tại, và thậm chí có thể ngầm thông đồng
Nếu các doanh nghiệp cạnh tranh thụ động, đặt giá cao và hạn chế sản lượng, họ
sẽ kiếm được lợi nhuận cao hơn nếu họ cạnh tranh gay gắt
Tuy nhiên, giống như các tù nhân, mỗi doanh nghiệp có động cơ để “bắt chước” và cắt giảm đối thủ cạnh tranh của mình, và mỗi công ty đều biết rằng các đối thủ cạnh tranh của mình cũng có động cơ giống nhau Mỗi công ty đều lo lắng với lý do chính đáng nếu
họ quan tâm một cách thụ động, đối thủ cạnh tranh của họ có thể quyết định cạnh tranh mạnh mẽ và giành lấy thị phần lớn nhất trên thị trường
Trang 13Hãng C tuân thủ cấu kết
Hãng C không tuân thủ cấu kết
Hãng D tuân thủ cấu kết Hãng C lời 225tr
Hãng D lời 225tr
Hãng C lời 300tr Hãng D lời 75tr
Hãng D không tuân thủ cấu
kết
Hãng C lời 75tr Hãng D lời 300tr
Hãng C lời 150tr Hãng D lời 150tr
Bảng 2: Ma trận thành quả cho chiếc lược giá
Trong vấn đề định giá được minh họa trong Bảng 2, cả hai công ty đều làm tốt hơn bằng cách “hợp tác” và tính giá cao Nhưng các công ty đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan của tù nhân, họ đều có thể sẽ không tin tưởng đối thủ cạnh tranh của mình để đặt giá cao và đều muốn chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường về phía mình
CHƯƠNG 5: TỔNG KẾT
Cơ sở của
sự khác
biệt
Tên gọi Độc quyền hợp tác nhóm Độc quyền phi hợp tác/ Cạnh tranh Định nghĩa Nó đề cập đến một dạng thị
trường trong đó người bán loại
bỏ sự cạnh tranh thông qua một hợp đồng chính thức
Nó đề cập đến một dạng thị trường trong đó mỗi công ty có chính sách giá
và sản lượng riêng độc lập với các công
ty đối thủ
Trang 14Thông đồng Ở đây, một số người bán thông
đồng với nhau để tránh sự cạnh
tranh
Ở đây, cạnh tranh được ưu tiên hơn là thông đồng như một phương tiện tối đa
hóa lợi nhuận
Mục đích Tối đa hóa lợi nhuận của doanh
nghiệp hợp tác hơn là lợi nhuận
của cá nhân
Tối đa hóa lợi nhuận của cá nhân và quyết định mức sản lượng cung cấp ra
thị trường
Quyết định
giá cả và sản
lượng
Các quyết định về giá cả và sản lượng là phụ thuộc lẫn nhau
Mỗi công ty có các quyết định về giá thành và sản lượng của mình
Phụ thuộc Các quyết định của các công ty
phụ thuộc lẫn nhau
Các quyết định của các công ty độc lập với các công ty đối thủ trên thị trường Tính cạnh
tranh Không có sự cạnh tranh trên thị
trường do thông đồng
Có sự cạnh tranh gay gắt giữa các công
ty
Chi phí bán
hàng Không cần phải chịu chi phí để
tạo ra sự trung thành với thương hiệu
Quảng cáo tích cực phát triển lòng trung thành với thương hiệu
Kết quả Thị trường là độc quyền vì
doanh nghiệp toàn quyền điều khiển giá và tăng lợi nhuận
Không có khả năng điều khiển độc
quyền về giá