Chương 2- Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán Chương 2 trình bày hai nội dung chính: Một là các vấn đề cơ bản về ý kiến kiểm toán và BCT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KẾ TOÁN
HÀ NỘI - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI - 2022
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Nghiên cứu sinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
“Đôi khi, ánh sáng của chúng ta vụt tắt và được thắp lại bởi một tia lửa từ mộtngười khác Mỗi chúng ta đều có lý do để suy nghĩ với lòng biết ơn sâu sắc đối vớinhững người đã thắp sáng ngọn lửa trong chúng ta” - Albert Schweitzer
Trong hành trình 4 năm làm nghiên cứu, đã có lúc NCS tưởng chừng như phảidừng lại do gặp nhiều bế tắc và vướng mắc Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân thì nhờ
có những sự gợi ý, động viên của rất nhiều thầy cô giáo và đồng nghiệp mà NCS đãtìm ra đường hướng để trả lời câu hỏi nghiên cứu, có thêm động lực để hoàn thiệncông trình nghiên cứu Tiến sĩ cũng như tiếp tục các nghiên cứu trong tương lai NCSxin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc của mình đến:
PGS TS đã đồng hành và tận
tình hướng dẫn NCS trong hành trình suốt 4 năm qua
TS đã khơi mở và tư vấn phát triển luận án để tăng
chiều sâu nghiên cứu
Các nhà khoa học trong và ngoài trường đã đóng góp các ý kiến cho luận án củaNCS được hoàn thiện hơn
Gia đình đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện để NCS có thể chuyên tâm nghiêncứu
Ban Giám hiệu, Ban Lãnh đạo Khoa Kế toán Kiểm toán, Trường Đại học Kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà Nội qua các thời kỳ đã hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất để NCSđược môi trường nghiên cứu khoa học vô cùng thuận lợi
Ban Giám hiệu, Ban Lãnh đạo Viện Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân qua các thời kỳ đã hỗ trợ NCS có được một môi trường học tập chuyênnghiệp và bài bản, tạo nền kiến thức gốc vững chắc giúp NCS có thể hoàn thành hànhtrình nghiên cứu của mình trong suốt 4 năm qua
Khi bày tỏ lòng biết ơn của mình, NCS không bao giờ quên rằng sự cảm kíchcao nhất không phải là nói ra bằng lời mà là sống theo chúng NCS sẽ không ngừng nỗlực học tập, nghiên cứu và phát triển khả năng nghiên cứu trong tương lai để đóng gópvào kho tàng nghiên cứu của Việt Nam Xứng đáng với sự hỗ trợ và giúp đỡ của cácthầy cô giáo và đồng nghiệp
Không ai đạt được thành công như vậy nếu không có sự giúp đỡ của ngườikhác, NCS xin được trân trọng cảm ơn vì tất cả!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1 2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1 2 1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1 2 2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
1 3 1 Đối tượng nghiên cứu 3
1 3 2 Phạm vi nghiên cứu 3
1 4 Phương pháp nghiên cứu 4
1 5 Đóng góp của đề tài 6
1 6 Kết cấu của luận án 7
Trang 6CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý KIẾN KIỂM TOÁN 11
2 1 Tổng quan nghiên cứu 11
2 1 1 Tổng quan về thực trạng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm
toán của các công ty niêm yết 12
2 1 2 Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính của các công
ty niêm yết 19
Trang 72 1 3 Tổng quan nghiên cứu về ý kiến kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến ý
kiến kiểm toán 20
2 1 4 Khoảng trống nghiên cứu 42
2 2 Những vấn đề cơ bản về báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
43 2 3 Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán
47 2 3 1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 48
2 3 2 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) 50
2 3 3 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 50
2 3 4 Lý thuyết tín nhiệm (Lending Credibility Theory) 52
2 2 5 Báo cáo tài chính và các chỉ số tài chính trong mối liên hệ với ý kiến của kiểm toán viên 53
Kết luận chương 2
56 CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
57 3 1 Quy trình nghiên cứu
57 3 2 Phân tích định tính
59 3 2 1 Mục tiêu phỏng vấn sâu 59
3 2 2 Đối tượng phỏng vấn sâu 59
3 2 3 Kết quả phỏng vấn sâu 59
3 3 Xây dựng giả thuyết khoa học
62 3 3 1 Nhóm các nhân tố tài chính 62
3 3 2 Nhóm các nhân tố phi tài chính 66
3 4 Phương pháp nghiên cứu 71
Trang 83 4 2 Thang đo biến độc lập và phụ thuộc 72
3 4 3 Quy trình, phương pháp và quy mô lấy mẫu 74
3 4 4 Xử lý mẫu 77
Kết luận chương 3
81 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 82
Trang 94 1 Thực trạng về thị trường chứng khoán, tình hình kiểm toán của các công ty
niêm yết tại Việt Nam
82 4 2 Thực trạng về thống kê mô tả mẫu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán trong luận án
85 4 2 1 Thống kê mô tả ý kiến kiểm toán 85
4 2 2 Thống kê giá trị nhỏ nhất - lớn nhất - trung bình và độ lệch chuẩn 90
4 3 Các kết quả kiểm định
93 4 3 1 Ma trận tương quan 93
4 3 2 Kiểm định đa cộng tuyến 93
4 3 3 Kiểm định phương sai thay đổi với các biến ảnh hưởng 94
4 3 4 Kết quả phân tích cho nhóm biến độc lập phi tài chính 95
4 3 5 Kết quả phân tích cho nhóm biến độc lập tài chính 98
4 3 6 Kết quả phân tích cho nhóm biến độc lập chung (phi tài chính và tài chính trong cùng một mô hình) 100
4 3 7 Kết quả phân tích theo ngành dịch vụ 101
4 3 8 Kết quả phân tích theo ngành phi dịch vụ 104
4 3 9 Kết quả phân tích theo ngành riêng biệt 105
Kết luận chương 4
109 CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT KHUYẾN NGHỊ
110 5 1 Thảo luận kết quả nghiên cứu
110 5 1 1 Giả thuyết H1- Hệ số thanh toán ngắn hạn 110
5 1 2 Giả thuyết H2 - Vòng quay hàng tồn kho 110
5 1 3 Giả thuyết H3- Vòng quay tài sản cố định 111
5 1 4 Giả thuyết H4- Tăng trưởng công ty 112
5 1 5 Giả thuyết H5- Tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ (ROE) 112
5 1 6 Giả thuyết H6- Chỉ số nợ 113
Trang 105 1 8 Giả thuyết H8- Độ trễ của báo cáo kiểm toán 115
5 1 9 Giả thuyết H9- Ý kiến kiểm toán năm trước 115
5 1 10 Giả thuyết H10- Chuyển đổi kiểm toán viên 116
Trang 115 1 11 Giả thuyết H11- Quy mô công ty kiểm toán 116
5 2 Bối cảnh hiện tại và đề xuất kiến nghị dựa vào kết quả nghiên cứu 119
5 2 1 Bối cảnh trên thế giới và tại Việt Nam 119
5 2 2 Khuyến nghị với kiểm toán viên 121
5 2 3 Khuyến nghị với các bên liên quan khác 124
5 3 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 127
Kết luận chương 5 129
KẾT LUẬN 130
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NCS 131 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC 143
Trang 12Stt Viết tắt Viết đầy đủ Tiếng Việt
1 BBC Công ty Cổ phần Bibica
2 BBT Công ty CP Bông Bạch Tuyết
3 BBT Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết
4 BCKiT Báo cáo kiểm toán
5 BCTC Báo cáo tài chính
4 BĐS Bất động sản
6 CNTT Công nghệ thông tin
7 DVD Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông
8 HĐQT Hội đồng quản trị
9 HOSE Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
10 KTV Kiểm toán viên
11 NCS Nghiên cứu sinh
1 Big 4 Big 4 4 công ty kiểm toán lớn
2 CEO Chief Executive Officer Giám đốc điều hành
3 GAAP Generally Accepted Accounting
Principles
Nguyên tắc kế toán được chấpnhận chung
4 ISA International Standard on Auditing Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
5 Non Big 4 Non Big 4 Các công ty không phải thuộc
04 công ty kiểm toán lớn
6 ROE Return On Equity Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 137 VSA Vietnamese Standards on Auditing Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Tổng hợp các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến
kiểm toán 30
Bảng 3 1 Cách đo lường các biến nghiên cứu 73
Bảng 3 2 Số lượng mẫu sử dụng trong nghiên cứu 75
Bảng 4 1 Mô tả loại ý kiến kiểm toán chung cả hai sàn năm 2010 - 2019 85
Bảng 4 2 Mô tả loại ý kiến kiểm toán theo Sàn giao dịch 87
Bảng 4 3 Mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 91
Bảng 4 4 Nhân tử phóng đại phương sai 94
Bảng 4 5 Kết quả chạy mô hình với nhóm biến độc lập phi tài chính 97
Bảng 4 6 Kết quả đánh giá khả năng dự báo của mô hình các biến độc lập phi tài chính 98 Bảng 4 7 Kết quả chạy mô hình với nhóm biến độc lập tài chính 99
Bảng 4 8 Kết quả đánh giá khả năng dự báo của mô hình các biến độc lập tài chính 100
Bảng 4 9 Kết quả chạy mô hình với nhóm biến độc lập tài chính 100
Bảng 4 10 Kết quả đánh giá khả năng dự báo của mô hình chung 101
Bảng 4 11 Kết quả phân tích cho ngành dịch vụ 103
Bảng 4 12 Kết quả phân tích cho ngành phi dịch vụ 104
Bảng 4 13 Kết quả phân tích cho ngành riêng biệt 107
Bảng 5 1 Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết 117
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 4 1 Biểu đồ mô tả Ý kiến kiểm toán năm 2010 - 2019 86Hình 4 2 Biểu đồ mô tả Ý kiến kiểm toán toàn phần năm 2010 - 2019 87Hình 4 3 Biểu đồ mô tả Ý kiến kiểm toán năm 2010 - 2019 90
Trang 15DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 1 Khung nghiên cứu của luận án 6
Sơ đồ 2 1 Các hướng nghiên cứu chính về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán trên thế giới 12
Sơ đồ 2 3 Các loại ý kiến kiểm toán 46
Sơ đồ 2 4 Khung lý thuyết nền tảng của luận án 53
Sơ đồ 3 1 Quy trình nghiên cứu 57
Sơ đồ 3 2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán 71
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một phần rất quan trọng trong nền kinh tếcủa một quốc gia Một trong các dấu hiệu để nhận biết một nền kinh tế và TTCK cóphát triển tốt hay không đó là các công ty niêm yết trên TTCK hoạt động hiệu quả vàtạo ra nhiều lợi nhuận Để đánh giá được hiệu quả hoạt động cũng như tình hình tàichính của các công ty niêm yết thì các bên sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) Đây làmột kênh thông tin công khai giúp cho các bên đánh giá được tình hình tài chính củacác công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Các bên khi đánh giá BCTC đặc biệt quan tâm đến ý kiến kiểm toán Ý kiếncủa kiểm toán viên (KTV) về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK có ý nghĩaquan trọng đối với thị trường vốn, các cổ đông và nhà đầu tư Ý kiến kiểm toán đượchình thành từ quá trình kiểm toán tại đơn vị và chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tốkhác nhau Các nhân tố có thể đến từ chính công ty hay đến từ các công ty kiểm toán,
từ các bằng chứng liên quan và cũng có thể đến từ TTCK, kinh tế, từ chính sách vĩ
mô và các thông tin khác Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toánđem lại ý nghĩa thực tiễn không chỉ cho các KTV mà còn hữu ích cho nhiều đối
tượng khác
Tại Việt Nam, dựa trên báo cáo kiểm toán (BCKiT) năm 2019 được công bốcủa 50 công ty lớn niêm yết tại Việt Nam thì có 42 công ty được kiểm toán bởi cáccông ty kiểm toán trong nhóm Big 4, chỉ có 8 công ty được kiểm toán bởi các công tykiểm toán trong nước Điều này có thể thấy mức độ tin tưởng vào các công ty kiểmtoán Big 4 Tuy nhiên ý kiến kiểm toán chưa phù hợp vẫn xảy ra nhiều ở các công tyđược kiểm toán bao gồm cả công ty kiểm toán Big 4 và các công ty không nằm trongnhóm Big 4 như: BBC năm 2002 được kiểm toán bởi Công ty TNHH Kiểm toán và Tưvấn (A&C), BBT năm 2005 Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) và năm
2006, 2007 được kiểm toán bởi Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC),hay Công ty Dược Viễn Đông (DVD) năm 2011 được kiểm toán bởi Công ty Ernst &Young (một trong các công ty kiểm toán thuộc Big 4) Và gần đây là Công ty GỗTrường Thành năm 2015 được kiểm toán bởi Công ty TNHH Kiểm toán DFK ViệtNam Vụ việc của DVD được kiểm toán bởi Big 4 nhưng vẫn xảy ra gian lận này
Trang 17khiến cho chất lượng kiểm toán của Big 4 bị nghi ngờ và dẫn đến câu hỏi các nhân tố
nào là ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán của KTV tại Việt Nam
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Thu (2009) về ý kiến của KTV trên
BCKiT ở Việt Nam có đưa ra thống kê thực trạng trên 90% ý kiến kiểm toán về BCTC
của các công ty cổ phần niêm yết ở Việt Nam phản ánh trung thực và hợp lý trên các
khía cạnh trọng yếu hay thuộc loại ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Trong
nghiên cứu này, luận án cũng thực hiện thống kê loại ý kiến kiểm toán trong 1 880
quan sát từ 2010 đến 2019 cũng cho kết quả tỷ lệ ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn
phần chiếm một tỷ lệ rất cao từ 88% - 97% Thực trạng này cũng dẫn đến một câu hỏi
vậy điều gì làm cho xác suất một công ty nhận được ý kiến chấp nhận toàn phần cao
hơn ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần
NCS đã thực hiện tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý
kiến kiểm toán trước đây và nhận thấy có một số lượng rất lớn các nghiên cứu đến từ
các nước phát triển như: Keasey và cộng sự (1988) tại Vương quốc Anh, Laitinen, E
K và Laitinen, T (1998) ở Phần Lan, Spathis (2003) tại Hy Lạp, Ireland (2006) tại
Vương quốc Anh, Caraman và Spathis (2006) tại Hy Lạp Zureigat (2014) tại Ả Rập,
Yasar và cộng sự (2015) và Ozcan (2016) tại Thổ Nhĩ Kỳ, Zarei H và cộng sự (2020)
tại Iran Tuy nhiên kết quả các nghiên cứu trên thế giới là không đồng nhất Tại Việt
Nam, theo tìm hiểu của NCS, phần lớn các nghiên cứu tập trung ở khía cạnh tổ chức,
xây dựng, vận dụng chuẩn mực hoặc chất lượng kiểm toán… có rất ít nghiên cứu về
các nhân tố ảnh hưởng tới việc hình thành ý kiến của kiểm toán độc lập về BCTC được
kiểm toán Một số rất ít nghiên cứu về chủ đề này thì còn hạn chế ở loại ý kiến kiểm
toán nghiên cứu, hạn chế các biến nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu, cũng như thời gian nghiên cứu
Từ các lý do trên, NCS nhận thấy nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến ý kiến của kiểm toán độc lập về báo cáo tài chính của công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực cả về lí luận và thực
tiễn
1 2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1 2 1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Luận án xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát được hình thành là khám phá
các nhân tố ảnh hưởng cũng như các tác động của các nhân tố này đến xác suất nhận ý
Trang 18kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam từ góc nhìncủa KTV Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các khuyến nghị nhằm mục đích chính là hỗtrợ cho công việc của KTV đồng thời khuyến nghị bổ sung cho các đối tượng quantâm đến ý kiến kiểm toán nhằm mục đích nâng cao chất lượng ý kiến kiểm toán cũngnhư tăng cường tính minh bạch của việc công bố thông tin của các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán của KTV độc lập vềBCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý kiến kiểm toán của KTVđộc lập về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
1 2 2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra: Câu hỏi 1: Các nhân tố tài chính (hệ số thanh toán ngắn hạn, vòng quay hàng
tồn kho, vòng quay tài sản cố định, chỉ số nợ, ROE, tăng trưởng doanh thu) có mốiquan hệ và mức độ ảnh hưởng như thế nào với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
và ý kiến không phải chấp nhận toàn phần về BCTC của các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam
Câu hỏi 2: Các nhân tố phi tài chính (ý kiến kiểm toán năm trước, chuyển đổi
KTV, quy mô công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên không điều hành, độ trễ của BCKiT)
có mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng như thế nào với ý kiến kiểm toán chấp nhận toànphần và ý kiến không phải chấp nhận toàn phần về BCTC của các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam
1 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1 3 1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTCcủa các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
1 3 2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 19(i) Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu các nhân tố tài chính và phi tài chính ảnh
hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết trên góc nhìn
của KTV
(ii) Về mặt không gian: Nghiên cứu này lựa chọn các Công ty phi tài chính niêm
yết trên TTCK Việt Nam Nghiên cứu lựa chọn số lượng mẫu là 188 công ty
niêm yết tại HNX và HOSE Lý do lựa chọn hai sàn này bởi vì đây là hai sàn
uy tín và có các quy định cũng như chế tài để kiểm soát chặt chẽ các công ty
niêm yết Nghiên cứu không đề cập đến các doanh nghiệp là các ngân hàng, tổ
chức tài chính, tín dụng do các đơn vị này đặc thù và đồng thời phải theo quy
định riêng của chính phủ, ngân hàng nhà nước về BCTC
(iii) Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực hiện trên số liệu của các công ty niêm yết
trên TTCK Việt Nam được công bố trong giai đoạn 2010-2019
1 4 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu nêu ra ở phần mục tiêu nghiên cứu, toàn bộ
luận án được thực hiện qua 6 bước cơ bản, cụ thể:
Bước 1, khảo sát sơ bộ vấn đề nghiên cứu Ở bước này, luận án đầu tiên tìm
hiểu và xác định vấn đề cần nghiên cứu trong lĩnh vực kiểm toán Do đó, luận án thực
hiện tìm hiểu sơ bộ theo hai hướng: (1) Tìm hiểu các nghiên cứu trên thế giới và trong
nước để tìm ra các chủ đề được nhiều giới học thuật quan tâm hay còn nhiều hạn chế,
(2) Quan sát thực tế và trao đổi với các KTV để phát hiện các vấn đề còn tồn tại cũng
như đang được các KTV quan tâm Sau khi tổng hợp, phân tích và đánh giá các thông
tin từ hai hướng này, NCS lựa chọn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến
kiểm toán làm đề tài Luận án của mình
Bước 2, tổng quan nghiên cứu Sau khi xác định đề tài nghiên cứu sơ bộ, NCS
thực hiện lựa chọn các bài báo có uy tín và xếp hạng cao có liên quan đến chủ đề Tiến
hành phân loại, đọc và tổng hợp các thông tin liên quan đến: (1) cách phân loại ý kiến
kiểm toán, (2) các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty
niêm yết, (3) các phương pháp nghiên cứu, (4) dữ liệu và cách lấy mẫu, (5) kết quả
nghiên cứu và chiều ảnh hưởng Từ việc tổng quan này NCS tìm ra khoảng trống
nghiên cứu và các lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Trang 20Bước 3, xây dựng giả thuyết liên quan Từ tổng quan nghiên cứu và khung lý
thuyết được trình bày, NCS tiến hành xây dựng giả thuyết nghiên cứu liên quan đến
các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán
Bước 4, phỏng vấn định tính Sau khi tổng quan nghiên cứu, NCS tiến hành
phỏng vấn sâu chuyên gia nhằm 02 mục đích: (1) xác định các biến phù hợp ở Việt
Nam để đưa vào mô hình kiểm định, (2) xác định thang đo và độ tin cậy của thang đo
với các biến này
Bước 5, phân tích định lượng Sau khi phỏng vấn sâu chuyên gia, NCS thực
hiện tổng hợp lại các biến phù hợp để đưa vào mô hình NCS thực hiện lấy mẫu toàn
diện và đa diện dựa trên mô hình cuối cùng ở bước 4 Mã hoá dữ liệu và chạy kiểm
định trên Stata 15
Bước 6, thảo luận kết quả nghiên cứu Từ kết quả tìm ra, NCS tiến hành
thảo luận, phân tích kết quả dựa trên các nền tảng lý thuyết và tổng quan nghiên
cứu của các công trình trước đây cũng như các giả thuyết đã được kỳ vọng Tại
bước cuối cùng này, căn cứ vào phần thảo luận kết quả, NCS tiến hành tổng hợp,
phân tích với thực trạng hiện tại và đề xuất các khuyến nghị dựa trên quy luật ảnh
hưởng của các biến tìm ra
Khảo sát sơ bộ vấn đề nghiên cứu
Khung lý thuyết liên quan và tổng quan tài liệu
khoảng trống nghiên cứu
Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu định tính - phỏng vấn sâu chuyên gia để hoàn thiện sự phù hợp của mô hình
Nghiên cứu định lượng - Kiểm định mô hình sau
hoàn thiện
Thảo luận kết quả nghiên cứu và đưa
Trang 22Sơ đồ 1 1 Khung nghiên cứu của luận án
Nguồn: NCS xây dựng
1 5 Đóng góp của đề tài
Một là, về mặt khoa học và lý luận
Với việc thực hiện tổng quan nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước,
các cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán, luận án đã góp
phần làm giàu thêm nguồn dữ liệu, nguồn tài nguyên cho lĩnh vực kiểm toán nói chung
và chủ đề nghiên cứu về ý kiến kiểm toán nói riêng
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết, luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán và đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm tại
Việt Nam, bổ sung vào hoàn thiện chuỗi nghiên cứu khi mà các nghiên cứu trên thế
giới phần lớn tập trung ở các nước phát triển, thì nghiên cứu ở các nước có nền kinh tếmới nổi sẽ góp phần cho chuỗi nghiên cứu đa dạng hơn
Hai là, nghiên cứu có ý nghĩa đóng góp về mặt thực tiễn Các nghiên cứu trên
thế giới chủ yếu ở các nước phát triển, việc phát triển một nghiên cứu ở Việt Nam sẽ
đóng góp vào việc hoàn thiện chuỗi nghiên cứu về chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến ýkiến kiểm toán Thêm vào đó các nghiên cứu ở Việt Nam về đề tài này vẫn chưa có
một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp nhận ý kiến kiểm
toán chấp nhận toàn phần hay ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần
(hướng thứ 3 được đề cập đến ở mục tổng quan nghiên cứu 2 1 dưới đây) Các nghiên
cứu tiền nhiệm ở nhánh 1 và 2 thì còn hạn chế ở nhiều biến chưa được kiểm định
Nghiên cứu này sau khi thực hiện tổng quan nghiên cứu và phỏng vấn sâu chuyên gia
(được trình bày chi tiết ở chương 3 - phương pháp nghiên cứu) sẽ tiến hành bổ sung
thêm 7 biến chưa từng được kiểm định tại Việt Nam như độ trễ báo cáo kiểm toán, tỷ
lệ thành viên không điều hành, chuyển đổi kiểm toán viên, tăng trưởng doanh thu,
Trang 23ROE, vòng quay hàng tồn kho và vòng quay tài sản cố định Nghiên cứu cũng mở rộngquy mô mẫu trên cả hai sàn giao dịch là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) Và cuối cùng, nghiêncứu cũng phát triển một khoảng thời gian dài hơn để kiểm định lại mức độ ảnh hưởngcủa các biến đã nghiên cứu tại Việt Nam (hệ số thanh toán ngắn hạn, chỉ số nợ, quy
mô công ty kiểm toán và ý kiến kiểm toán năm trước)
Với quá trình phỏng vấn sâu chuyên gia để tìm ra các biến có ảnh hưởng tạiViệt Nam, thu thập thông tin của 1 880 quan sát trải dài từ năm 2010 đến 2019, sửdụng mô hình logit để kiểm định, luận án đã:
(1) Tìm ra mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính với ý kiến kiểm toán baogồm: ROE, tăng trưởng doanh thu, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tài sản cố định
và chỉ số nợ Trong đó vòng quay tài sản cố định có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cácnhân tố còn lại có mức ý nghĩa 10%
(2) Tìm ra mối quan hệ giữa các nhân tố phi tài chính với ý kiến kiểm toán baogồm: Chuyển đổi KTV, quy mô công ty kiểm toán, độ trễ BCKiT và ý kiến kiểm toánnăm trước Trong đó ý kiến kiểm toán năm trước có mức ý nghĩa là 1%, độ trễ BCKiT
và chuyển đổi KTV có mức ý nghĩa 5% và quy mô công ty kiểm toán có mức ý nghĩa10%
(3) Trong các nhân tố được khám phá thì ý kiến kiểm toán năm trước là nhân tốđược xác định có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý kiến kiểm toán Các biến mới được pháthiện có ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán so với các công trình đã nghiên cứu trước đâytại Việt Nam là: Chuyển đổi KTV, tăng trưởng doanh thu, Vòng quay hàng tồn kho,Vòng quay tài sản cố định và Độ trễ BCKiT
Hướng nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ bổ sung và làm đa dạng thêm chuỗinghiên cứu trong chủ đề ý kiến kiểm toán cũng như có những đóng góp nhất định vềmặt thực tiễn và khoa học cho các bên liên quan
1 6 Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1- Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1 giới thiệu tính cấp thiết của nghiên cứu từ đó đề xuất mục tiêu nghiêncứu và câu hỏi nghiên cứu Cũng ở chương này, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiêncứu và sơ lược về phương pháp trong nghiên cứu được đề cập
Trang 24Chương 2- Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán
Chương 2 trình bày hai nội dung chính: Một là các vấn đề cơ bản về ý kiến
kiểm toán và BCTC, các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu, mối quan hệ giữa
BCTC, các chỉ số tài chính với ý kiến kiểm toán Hai là, NCS cũng trình bày về tổng
quan nghiên cứu để từ đó xác định khoảng trống cần nghiên cứu trong luận án
Chương 3- Thiết kế mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
NCS thực hiện xây dựng giả thuyết nghiên cứu dựa trên việc tổng quan ở
chương 2 Chương 3 cũng trình bày phương pháp định tính phỏng vấn sâu chuyên gia
và phương pháp nghiên cứu định lượng về tác động của các nhân tố tài chính, phi tài
chính đến ý kiến kiểm toán NCS cũng trình bày cụ thể thang đo các biến, mẫu
nghiên cứu và phương pháp xử lý dữ liệu
Chương 4- Kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày thực trạng Thị trường Chứng khoán Việt Nam, tình hình
kiểm toán các công ty niêm yết, thực trạng ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết
tại Việt Nam cũng như toàn bộ kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý
kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Chương 5- Thảo luận kết quả nghiên cứu
NCS tiến hành thảo luận và so sánh kết quả thu được với các nghiên cứu
cùng lĩnh vực trước đây đồng thời cũng đưa ra các nhận định chủ quan và dự báo
nguyên nhân dẫn đến kết quả nghiên cứu Trên cơ sở này, NCS đề xuất một số kiến
nghị nhằm mục đích hỗ trợ cho công việc của KTV cũng như các bên liên quan sử
dụng ý kiến trên BCKiT
Trang 26Kết luận chương 1
Chương 1 đã mở đầu cho luận án bằng việc giới thiệu hai động lực mà NCS lựachọn đề tài này để nghiên cứu Một là, về mặt thực tế, việc xác định các nhân tố ảnhhưởng đến ý kiến kiểm toán không chỉ hỗ trợ các KTV trong việc lập kế hoạch, trongquá trình kiểm tra, soát xét mà còn giúp cho các bên quan tâm có thể đánh giá sơ bộcác nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán cũng như ước lượng mộtcách sơ bộ nhất một công ty có xác suất nhận ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn hayxác suất nhận ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần cao hơn Hai là, về mặt lýthuyết, nghiên cứu này bổ sung thêm vào chuỗi nghiên cứu về ý kiến kiểm toán tại bốicảnh Việt Nam
Ngoài ra, Chương 1 cũng đề cập đến mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu,khung nghiên cứu và kết cấu của luận án, cụ thể: (i) Mục tiêu: Tìm hiểu về các nhân tốtài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công typhi tài chính tại Việt Nam, (ii) Câu hỏi nghiên cứu: Luận án đưa ra ba câu hỏi nghiêncứu cụ thể, (iii) Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tài chính và phi tài chính ảnhhưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên Thịtrường Chứng khoán Việt Nam, (iv) Phạm vi nghiên cứu: Luận án trình bày việc giớihạn phạm vi nghiên cứu ở các công ty phi tài chính niêm yết trên Thị trường Chứngkhoán Việt Nam, (v) Những đóng góp của luận án, (vi) Kết cấu của luận án: luận ánbao gồm 5 chương được trình bày lần lượt để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề ra
Trang 27CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý KIẾN KIỂM TOÁN
2 1 Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới, các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán được
nghiên cứu từ khá sớm và ở nhiều nước khác nhau Hiện nay, các công trình chủ yếu
phần lớn vẫn do nước ngoài thực hiện Tại Việt Nam, theo hiểu biết của nghiên cứu
sinh, mặc dù cũng đã có một vài công trình thực hiện nghiên cứu về chủ đề này tuy
nhiên vẫn còn khá manh mún và hạn chế
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán trên
thế giới rất phong phú và đa dạng nhưng chủ yếu tập trung ở 03 hướng chính:
(i) Hướng thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán chấp nhận
(2) Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có các vấn đề quan trọng:
(Key Audit Matter): Catarina Ferreira và cộng sự (2019), Vanstraelen và
cộng sự (2012), Caramanis và Spathis (2006)…
(ii) Hướng thứ hai là các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến không phải loại chấp
nhận toàn phần như: Yasar và cộng sự (2015), Tsipouridou and Spathis
(2014), Spathis và cộng sự (2003), Craswell và cộng sự (2002)…
iii) Hướng thứ ba tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến hai loại ý kiến
chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần như:
Zarei và cộng sự (2020), Zureigat (2014), Spathis (2003)
Trang 2803 hướng nghiên cứu chính
về các nhân tố hình thành loại ý kiến kiểm toán
Ý kiến chấp nhận
toàn phần
Ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần
Ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần
Sơ đồ 2 1 Các hướng nghiên cứu chính về các nhân tố ảnh hưởng đến
ý kiến kiểm toán trên thế giới
Nguồn: NCS tự tổng hợp
Các nghiên cứu trước đây thể hiện một sự đa dạng và phong phú Cùng một
nhân tố nhưng áp dụng các phương pháp khác nhau, kiểm định ở các bối cảnh khác
nhau nên có thể cho ra kết quả khác nhau Để tập trung vào nghiên cứu của mình,
phần tổng quan tiếp theo dưới đây, NCS sẽ trình bày tổng quan về các nhân tố mà có
khả năng ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam mà NCS đ ã xác định thông qua phỏng vấn sâu các
chuyên gia (được NCS trình bày cụ thể ở chương 3)
2 1 1 Tổng quan về thực trạng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến
kiểm toán của các công ty niêm yết
NCS thực hiện trình bày sơ bộ về thực trạng cũng như lịch sử các công trình
nghiên cứu liên quan đến chủ đề ý kiến kiểm toán ở mục này (2 1 1) Các phân tích về
kết quả nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, biến và chiều ảnh hưởng sẽ được phân
tích sâu hơn ở mục 2 1 2 và 2 1 3, từ đó sẽ làm rõ dần khoảng trống nghiên cứu thông
qua 3 phần: 2 1 1, 2 1 2 và 2 1 3
Khởi đầu của các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến
kiểm toán là công trình nghiên cứu của Altman và McGough (1974) Nghiên cứu này
đã phát hiện ra 46,4% trong số lượng mẫu công ty phá sản là đã nhận được ý kiến
kiểm toán có đoạn nhấn mạnh liên quan đến giả định hoạt động liên tục trước khi xảy
ra sự kiện phá sản một năm Mục đích của nghiên cứu dự báo về sự phá sản của công
Trang 29ty Cụ thể, một tập hợp các tỷ lệ tài chính và kinh tế sẽ được điều tra trong bối cảnh
dự báo phá sản, trong đó sử dụng nhiều phương pháp phân tích biệt số Dữ liệu được
sử dụng trong nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các tập đoàn sản xuất Các biến được tácgiả sử dụng trong mô hình bao gồm: vốn lưu động/tổng tài sản, lợi nhuận/tổng tàisản, EBIT/tổng tài sản, vốn hóa thị trường/giá trị sổ sách của nợ, doanh thu/tổng tàisản Như vậy có thể thấy, khởi đầu, nghiên cứu về chủ đề này chỉ được bắt đầu bằngcác biến tài chính và giới hạn quy mô ở các tập đoàn sản xuất ở Hoa Kỳ Mô hìnhnày có khả năng dự báo chính xác lên đến 94% Tiếp theo đó là nghiên cứu của
McKee (1975) về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có đoạn nhấnmạnh liên quan đến giả định hoạt động liên tục Với phương pháp biệt số, tác giả đã
dự báo được một tỷ lệ chính xác đến 87,18% với các nhân tố là các tỷ số tài chính Trong nghiên cứu này, mặc dù vẫn ở bối cảnh nước Hoa Kỳ nhưng tác giả đã mởrộng thêm biến so với nghiên cứu trước đây của Altman
Năm 1985, Mutchler đã sử dụng phương pháp biệt số và thực hiện nghiên cứutrên 119 công ty sản xuất cho mẫu 1 và 42 công ty cho mẫu 2 để nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán Ở nghiên cứu này, Muthcler đã mở rộng thêm biếnphi tài chính bên cạnh biến tài chính so với các công trình nghiên cứu trước Nghiêncứu sử dụng các biến tài chính: chỉ số vốn lưu động/Tổng nợ, chỉ số tài sản ngắnhạn/nợ ngắn hạn, chỉ số tài sản thuần/Tổng nợ, chỉ số nợ dài hạn/tổng tài sản, chỉ sốtổng nợ/tổng tài sản, chỉ số lợi nhuận trước thuế/doanh thu thuần và các biến phi tàichính: ý kiến kiểm toán năm trước, thông tin tốt xấu, sự cải thiện để xác định việc hìnhthành loại ý kiến kiểm toán Mô hình chứa chỉ số tài chính và biến ý kiến kiểm toánnăm trước dự báo chính xác 89 9%, mô hình chứa chỉ số tài chính và thông tin tốt xấu
dự báo chính xác 80 2% Năm 1986, Mutchler tiếp tục mở rộng thêm biến quy môcông ty kiểm toán và quy mô công ty được kiểm toán và tìm ra công ty có quy môkiểm toán không phải Big 8 thường không đưa ra ý kiến kiểm toán không phải dạngchấp nhận toàn phần (cụ thể trong nghiên cứu là ý kiến kiểm toán có giả định hoạtđộng liên tục) với công ty nhỏ có hoạt động tài chính suy giảm
Dopuch và cộng sự (1987) tại Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng phân tích probit vànghiên cứu trên 218 quan sát ngoại trừ và 346 quan sát chấp nhận toàn phần Nghiêncứu chỉ ra lợi nhuận năm hiện tại, sự thay đổi của lợi nhuận trừ đi lợi nhuận ngành ảnhhưởng theo thứ tự đến ý kiến kiểm toán Trong nghiên cứu này tác giả tập trung vàonghiên cứu 12 nhân tố tài chính và mối quan hệ của các nhân tố này tới ý kiến kiểmtoán Kết quả tìm ra biến lợi nhuận giữ lại là biến có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý kiếnkiểm toán Các biến khác cũng ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán bao gồm: vốn chủ sở
Trang 30hữu/tổng nợ phải trả, tổng nợ phải trả/tổng tài sản, thu nhập ròng/vốn chủ sở hữu, thunhập ròng/tổng tài sản, vốn lưu động/tổng tài sản, doanh thu thuần/tổng tài sản Tácgiả mở rộng thêm biến phi tài chính so với công trình trước đây bao gồm: số năm niêmyết đồng thời thêm các biến về chỉ số thị trường như: hệ số beta, thay đổi độ của lệchchuẩn giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư, sự thay đổi của lợi nhuận trừ đi lợi nhuậnngành Như vậy so với công trình của Mutchler thì nghiên cứu không chỉ mở rộng ra ởbối cảnh nước Thổ Nhĩ Kỳ mà còn phát triển thêm các biến phi tài chính mới
Nghiên cứu được phát triển thêm một bước bằng cách bổ sung thêm các biếnphi tài chính trong nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) tại bối cảnh mới Nghiêncứu này được thực hiện trên 540 công ty nhỏ tại Vương quốc Anh trong khoảng thờigian từ 1980-1982 đồng thời sử dụng phân tích logistic đa biến với các biến tài chính
và phi tài chính cho kết quả các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có quy
mô lớn, lợi nhuận giảm, có độ trễ trong phát hành BCKiT, cổ đông không tham giađiều hành ít, có khoản vay đảm bảo, ý kiến kiểm toán năm trước là ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phần thì có nhiều khả năng sẽ nhận ý kiến kiểm toánkhông phải chấp nhận toàn phần hơn Như vậy, so với các công trình nghiên cứu trước(Mutchler) thì nghiên cứu này cũng tìm ra kết quả là biến ý kiến kiểm toán năm trước
có ảnh hưởng cùng chiều với ý kiến kiểm toán năm nay
Laitinen và Laitinen (1998) cũng phân tích logistic đa biến với cả biến tài chính
và phi tài chính và thực hiện nghiên cứu trên số lượng mẫu là 111 BCKiT đã chỉ ra cáccông ty có mức độ tăng trưởng thấp hơn, vốn chủ sở hữu thấp hơn, số lao động ít hơnthì có khả năng nhận ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần cao hơn Độ chínhxác của mô hình là 94 6% So với các công trình trước thì tại bối cảnh Phần Lan, tácgiả đã kiểm định và cũng tìm ra kết quả tương tự với Keasey và cộng sự (1988) tạiAnh là lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều với ý kiến kiểm toán không phải dạngchấp nhận toàn phần Tác giả lần đầu tiên kiểm định thêm biến tăng trưởng được đolường bằng tăng trưởng doanh thu và tìm ra tăng trưởng doanh thu có mối quan hệngược chiều với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Tuy nhiênkết quả tại Phần Lan lại cho ra trái chiều với nghiên cứu Keasey và cộng sự (1988) tạiAnh là độ trễ BCKiT tại Phần Lan không có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán
Spathis (2003) thực hiện phân tích hồi quy logistic và thêm phương pháp OLScho 100 công ty tại Hy Lạp cho ra kết quả tình hình tài chính và bổ sung biến kiệntụng có ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Môhình dự báo chính xác khoảng 78% Kết quả chỉ ra có sự tương đồng với Mutchler tại
Trang 31Hoa Kỳ là hệ số thanh toán ngắn hạn có mối quan hệ ngược chiều với ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phần Ireland (2003) nghiên cứu trên một lượng mẫulớn của các công niêm yết và không niêm yết (9 304 công ty với 8 289 công ty khôngniêm yết và 1 015 công ty niêm yết) tại Anh và cho kết quả về ý kiến kiểm toán chấpnhận toàn phần và có đoạn nhấn mạnh về khả năng tổ chức/pháp nhân hoạt động liên tụccùng với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần Với loại ý kiến này thì các công ty có
tỷ lệ nợ, nhận được ý kiến loại này của năm trước thì nhiều khả năng nhận được cùngloại ý kiến trong năm nay Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét tỷ lệ nợ dài hạn và tìm ramối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Tuy nhiên kết quả về mối quan hệ giữa quy mô công ty kiểm toán với ý kiến kiểm toánlại không được xác nhận như Keasey và cộng sự (1988) tại Anh
Caraman và Spathis (2006) vẫn áp dụng hai phương pháp là hồi quy logistic vàOLS nhưng với mẫu là 185 công ty tại Hy Lạp chỉ ra (i) Phí kiểm toán cũng như loạicông ty kiểm toán không ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán (ii) Ý kiến kiểm toán khôngphải chấp nhận toàn phần có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận hoạt động và tài sản hiệntại Nghiên cứu này cũng tìm ra kết quả tương đồng với Mutchler (1985) tại Hoa Kỳ
và Spathis (2003) tại Hy Lạp về mối quan hệ ngược chiều giữa hệ số thanh toán ngắnhạn với với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Mối quan hệ giữalợi nhuận và ý kiến kiểm toán cũng được tìm ra kết quả tương đồng với Keasey vàcộng sự (1988) và Laitinen, E K , & Laitinen, T (1998) Biến quy mô kiểm toán đượckiểm định không có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán như nghiên cứu của Ireland(2003) tại Anh trong khi đó Keasey và cộng sự (1988) tại Anh lại tìm thấy mối quan
hệ giữa quy mô công ty kiểm toán và ý kiến kiểm toán Điều này cho thấy có một sựkhác biệt về kết quả nghiên cứu ở cùng một bối cảnh và cả khác bối cảnh
Habib (2013) sử dụng phương pháp phân tích meta trên một lượng mẫu lớn từ
73 nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1982 đến 2011 (154 452 quan sát) và kếtluận (i) Độ trễ kiểm toán và liên kết Big N có mối quan hệ tích cực với ý kiến khôngphải dạng chấp nhận toàn phần, (ii) Phí dịch vụ “non-audit” có mối quan hệ tiêu cựcvới ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần Kết quả nghiên cứu của Habib (2013)tại Hoa Kỳ tìm ra cũng tương đồng với Mutchler (1985) tại Hoa Kỳ, Keasey và cộng
sự (1988) tại Anh và Ireland (2003) tại Anh, đều khẳng định ý kiến kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần năm trước có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần năm nay Về biến quy mô kiểm toán thì khác với
Ireland (2003) tại Anh và Caraman và Spathis (2006) tại Hy Lạp kết luận là không có
Trang 32mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, Habib (2013) đã tìm ra mối quan hệ tương đồng vớinghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) tại Anh
Năm 2014, Spathis và Maria Tsipouridoua nghiên cứu trên 845 quan sát từ
2005 - 2011 tại Hy Lạp để tìm kiếm mối quan hệ giữa biến tài chính và phi tài chínhvới ý kiến kiểm toán Kết quả: (1) Tác giả đã phát hiện ra biến vòng quay tài sản cốđịnh có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán Kết quả này là tương đồng với Gaganis vàcộng sự (2007) tại Anh (2) Lỗ có mối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần, tương tự như các công trình nghiên cứu của Keasey vàcộng sự (1988) tại Anh, Laitinen, E K , & Laitinen, T (1998) tại Phần Lan… (3) Chỉ
số nợ không có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, điều này là trái ngược với các kếtquả nghiên cứu của Ireland (2003) tại Anh, Ballesta và GarciaMeca (2007) tại TâyBan Nha, (4) Quy mô công ty kiểm toán có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, tươngđồng với Keasey và cộng sự (1988) tại Anh, Caraman và Spathis (2006) tại Hy Lạp…
Zureigat (2014) nghiên cứu trên 153 công ty niêm yết được thu thập vào cuốinăm 2013 tại Ả Rập với phương pháp hồi quy đã chỉ ra (i) Chỉ số nợ có mối quan hệvới ý kiến kiểm toán như các nghiên cứu của Ireland (2003) tại Anh và Ballesta vàGarciaMeca (2007) tại Tây Ban Nha, (ii) Lợi nhuận không ảnh hưởng đến ý kiến kiểmtoán Kết quả này không tương đồng với các nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988)tại Anh, Laitinen, E K , & Laitinen, T (1998) tại Phần Lan, Caraman và Spathis(2006) tại Hy Lạp, (3) Quy mô công ty kiểm toán cũng được tìm thấy có mối quan hệcùng chiều với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần giống cácnghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) tại Anh, Caraman và Spathis (2006) tại HyLạp…
Năm 2015, Yasar và cộng sự nghiên cứu trên 110 dữ liệu năm từ 2010-2013 tạiThổ Nhĩ Kỳ đã mở rộng nghiên cứu bằng việc sử dụng cả 3 phương pháp là: Phân tíchbiệt số, Hồi quy logit, Mô hình cây quyết định C4 5 cho kết quả với tỷ lệ chính xác lênđến 98 2% Nghiên cứu kết luận: (i) Lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản ảnh hưởng mạnhnhất đến ý kiến kiểm toán Đây là biến hiệu quả để dự báo ý kiến kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần Kết quả này rất tương đồng với đa số các nghiên cứuphía trên, (ii) Chỉ số nợ không có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán Kết quả này khácvới Ireland (2003) tại Anh, Ballesta và GarciaMeca (2007) tại Tây Ban Nha, Zureigat(2014) tại Ả Rập, (iii) Hệ số thanh toán ngắn hạn không có mối quan hệ với ý kiếnkiểm toán Kết quả này khác với các kết quả trong nghiên cứu của Muchler (1985) tạiHoa Kỳ, Spathis (2003) tại Hy Lạp, Ballesta và GarciaMeca (2007) tại Tây Ban Nha
Trang 33Như vậy, các kết quả nghiên cứu lại tiếp tục cho thấy một sự không đồng nhất giữa cácnghiên cứu trong cùng hay khác bối cảnh
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ozcan (2016) đã sử dụng mô hình logit và thực hiện nghiêncứu 180 công ty từ 2005 đến 2014 Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy và cho kếtquả có độ chính xác là 93 89% Nghiên cứu đã thêm vào một biến phi tài chính là tỷ lệthành viên không điều hành và kiểm định tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và cho kết quả cómối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Kết quả này đượcủng hộ bởi Keasey và cộng sự (1988) tại Anh Tác giả cùng tìm thấy mối quan hệ cùngchiều giữa vòng quay tài sản cố định, lợi nhuận có mối quan hệ giống với nghiên cứucủa Maria Tsipouridoua và Charalambos Spathis tại Hy Lạp Điểm mới nữa trongnghiên cứu của tác giả là tiếp tục kiểm định biến mới tăng trưởng tại thị trường ThổNhĩ Kỳ và kết quả cho thấy biến này có ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán như nghiêncứu của Laitinen, E K , & Laitinen, T (1998) tại Phần Lan
Tại Việt Nam, Thuy Thi Ha và cộng sự (2016) tại Việt Nam sử dụng phươngpháp phân tích hồi quy trên quy mô mẫu là 133 công ty từ 2011-2014 Nghiên cứuđược thực hiện bằng phương pháp định lượng các biến được lựa chọn từ tổng quannghiên cứu Nghiên cứu chưa sử dụng phương pháp định tính để xác định các biến ởnước ngoài phù hợp với bối cảnh Việt Nam Nghiên cứu này chỉ tập trung vào xem xétcác nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có giả định về hoạt động liên tục Đồngthời nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở việc khám phá một số biến bao gồm: (1) Chỉ
số nợ có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, kết quả cho ra tương đồng với nghiên cứucủa Ireland (2003) tại Anh, Ballesta và GarciaMeca (2007) tại Tây Ban Nha, Zureigat(2014) tại Ả Rập…, (2) Hệ số thanh toán ngắn hạn không có mối quan hệ với ý kiếnkiểm toán, kết quả này khác với các nghiên cứu của Muchler (1985) tại Hoa Kỳ,Spathis (2003) tại Hy Lạp…nhưng tương đồng với Alpaslan Yasar và cộng sự (2015)tại Thổ Nhĩ Kỳ Nghiên cứu được thực hiện trên một quy mô mẫu khá lớn nhưng trongmột phạm vi thời gian ngắn chỉ từ 2011-2014 Như vậy có thể thấy tại Việt Nam, côngtrình nghiên cứu nổi bật về chủ đề này mới chỉ có rất ít tác giả và vẫn còn nhiều hạnchế trong phương pháp sử dụng, trong biến được kiểm định cũng như thời gian, phạm
vi kiểm định cũng như loại ý kiến kiểm toán được nghiên cứu
Abbaszadeh và cộng sự (2017) sử dụng thuật toán heuristic và hồi quy logistictrên 980 quan sát từ 2009-2015 tại Ba Tư và khám phá ra mô hình dự báo ý kiến kiểmtoán với độ chính xác là 94 98% Kết quả đã chỉ ra: Luân chuyển KTV độc lập, Loại ýkiến kiểm toán của năm trước, Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, Hệ số thanh toán ngắn
Trang 34hạn, Tỷ lệ nợ, Lỗ của công ty và Tỷ lệ lợi nhuận có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc dựbáo loại ý kiến của KTV độc lập
Năm 2019, Saaydah nghiên cứu trên 104 công ty phi tài chính niêm yết tại ẢRập cho năm 2015 để tìm mối quan hệ giữa các nhân tố với ý kiến kiểm toán chấpnhận toàn phần và chỉ ra: (1) ROA có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, đây là chỉ tiêu
về lợi nhuận và có thể thấy các chỉ tiêu về lợi nhuận được khám phá ở nhiều bối cảnhkhác nhau nhưng vẫn cho ra một kết quả tương đồng, (2) Tỷ lệ thành viên không điềuhành có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Kết quả này tươngđồng với nghiên cứu của Ozcan (2016) tại Thổ Nhĩ Kỳ Từ tổng quan có thể thấy ở cácnước kinh tế mới nổi hay phát triển thì kết quả nghiên cứu cho ra kết quả tương đồng ởcác biến về lợi nhuận, tỷ lệ thành viên không điều hành, ý kiến kiểm toán năm trước,tăng trưởng, hiệu quả hoạt động nhưng ở biến khả năng thanh toán, chỉ số nợ, quy môcông ty kiểm toán, độ trễ BCKiT… cho ra kết quả trái chiều
Ở các nước đang phát triển, nghiên cứu về chủ đề này không nhiều, trong đónổi bật là nghiên cứu của Zarei H và cộng sự (2020) Tác giả đã sử dụng mô hình hồiquy với độ chính xác được kiểm nghiệm là 72 9% và trên 480 quan sát từ 2012-2016tại Tehran, Zarei H và cộng sự (2020) đã chỉ ra: (1) Tỷ lệ nợ của công ty có ảnh hưởnglớn nhất trong mô hình Kết quả này được ủng hộ bởi Ireland (2003) tại Anh, Zureigat(2014) tại Ả Rập… (2) Hệ số thanh toán ngắn hạn có mối quan hệ ngược chiều với ýkiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Tương đồng với nghiên cứu củaMuchler (1985) tại Hoa Kỳ, Spathis (2003) tại Hy Lạp… (3) Vòng quay tổng tài sản,lợi nhuận, chỉ số nợ… có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán tương tự như nghiên cứucủa Ozcan (2016) tại Thổ Nhĩ Kỳ hay Maria Tsipouridoua và Charalambos Spathis(2014) của Hy Lạp, (4) Vòng quay hàng tồn kho được xác định không có mối quan hệvới ý kiến kiểm toán, (5) Quy mô công ty kiểm toán được xác định có mối quan hệ với
ý kiến kiểm toán như nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) tại Anh, Habib (2013)tại Hoa Kỳ nhưng khác với Ireland (2003) tại Anh và Caraman và Spathis (2006) tại
Hy Lạp xác định là quy mô công ty kiểm toán không có mối quan hệ với ý kiến kiểmtoán, (6) Chuyển đổi kiểm toán được xác định là có mối quan hệ yếu với ý kiến kiểmtoán giống với Keasey và cộng sự (1988) tại Anh, Haniffa và cộng sự (2006) tại
Malaysia Có thể thấy, ở các nước đang phát triển thì kết quả cho ra có biến tươngđồng với các nước phát triển nhưng có biến thì không tìm thấy mối quan hệ
Zhang và cộng sự (2020) nghiên cứu trên 15 202 quan sát của Sở giao dịchchứng khoán Thâm Quyến và Thượng Hải từ 2007-2015 Ông đã thêm hai biến rấtmới và quan trọng vào trong nghiên cứu của mình đó là biến về hệ thống kiểm soát nội
Trang 35bộ và cạnh tranh Nghiên cứu đã tìm thấy kết quả như sau: (i) Chất lượng hệ thống
KSNB có mối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần (ii) Cạnh
tranh sản phẩm có mối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
(iii) Cạnh tranh sản phẩm làm suy yếu mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống KSNB
với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
2 1 2 Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính
của các công ty niêm yết
Trong lịch sử nghiên cứu về ý kiến kiểm toán có thể thấy có một sự đa dạng và
ngày càng phát triển các mô hình và phương pháp để xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến ý kiến kiểm toán Từ các phương pháp thống kê hiện đại như: Sử dụng máy vecto
hỗ trợ, khai thác dữ liệu mở, phương pháp siêu dữ liệu cho đến sử dụng thống kê mô
tả, mô hình hồi quy logistic hay logit Cụ thể:
(i) Một số nghiên cứu dùng phương pháp thống kê hiện đại như: Mutchler
(1985) bằng phương pháp phân tích biệt số cho kết quả chính xác 83%, Altman (1968)
với phương pháp phân tích biệt số đa biến để dự báo phá sản cho các công ty tại Hoa
Kỳ có độ chính xác 95%
(ii) Phương pháp thống kê mô tả, sử dụng mô hình hồi quy logit hay probit
kiểm tra mối quan hệ là một phương pháp phổ biến và được sử dụng ở nhiều công
trình nghiên cứu từ kinh điển cho đến hiện tại Như: Spathis (2003), Gallizo và cộng
sự (2015), Ozcan (2016), Jouri (2016), Suroto (2017), Saaydah (2019), Zarei H và
cộng sự (2020)…
(iii) Một số nghiên cứu kết hợp cả phương pháp định lượng truyền thống và
hiện đại như: Trong nghiên cứu vào năm 2003, Spathis và cộng sự đã áp dụng
phương pháp phân loại hỗ trợ ra quyết định đa tiêu chuẩn (cụ thể là UTADIS
-Utilites’s Addictives Discriminates), sau đó tác giả thực hiện so sánh với các kỹ
thuật thống kê mới bao gồm: Phân tích biệt số và phân tích hồi quy logit Phương
pháp phân loại này hỗ trợ ra quyết định chiếm ưu thế với độ chính xác khoảng
80% Hay như Yasar và cộng sự (2015) sử dụng ba phương pháp là phân tích biệt
số, phân tích hồi quy logistic và mô hình cây quyết định C5 0 Kết quả cho độ
chính xác theo thứ tự: số 1 là mô hình cây quyết định C5 0 với độ chính xác 98,2%,
số 2 là phương pháp hồi quy với độ chính xác là 92,7% và cuối cùng là phân tích
biệt số 87,3%
Trang 36Các nghiên cứu trước đều sử dụng dữ liệu thứ cấp thu được và phương pháp định lượng để khám phá nhân tố ảnh hưởng Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, NCS nhận thấy:
(i) Đố i với phương pháp biệt số, Deakin (1976) đã chỉ ra hầu hết các tỷ số tài
chính là phân phối không chuẩn do đó việc áp dụng phương pháp biệt số là khó có thể
thực hiện khi mô hình có các nhân tố là các chỉ số tài chính bởi vì phương pháp biệt số
yêu cầu phân phối chuẩn ở các biến độc lập
(ii) Các phương pháp thống kê hiện đại khác: mặc dù việc áp dụng các
phương pháp hiện đại đem lại sự chính xác cao nhưng tương ứng sẽ là yêu cầu các
kỹ thuật cao, mất nhiều thời gian và khá phức tạp khi thực hiện Trong khi đó mô
hình khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán sẽ được sử dụng bởi
KTV làm công cụ kiểm tra bổ sung và như một công cụ giám sát Hơn nữa, mô
hình này có thể được sử dụng bởi cơ quan giám sát như một công cụ giám sát bổ
sung khi tiến hành giám sát hoạt động kiểm toán Mô hình này cũng có thể được sử
dụng bởi các đối tượng khác ví dụ như những người cho vay, các công ty/tổ chức
phân tích dữ liệu để thêm các biến mới vào dữ liệu công khai của họ Và cuối cùng,
học giả, nhà nghiên cứu có thể sử dụng kết quả mô hình như là một biến số mới
trong nghiên cứu của họ (Zdolsek và cộng sự, 2017) Do đó, yếu tố tính chính xác
cao nhưng phải dễ sử dụng được ưu tiên hàng đầu
Việc lựa chọn mô hình trong nghiên cứu phụ thuộc vào đặc điểm của các biến
độc lập cũng như các biến phụ thuộc được sử dụng trong nghiên cứu Nghiên cứu chỉ
có thể lựa chọn một phương pháp nghiên cứu thích hợp Do các hạn chế nêu trên nên
phương pháp sử dụng mô hình hồi quy logit được coi là lựa chọn tối ưu Trong luận án
này, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit nhị phân để kiểm tra mối quan hệ
giữa một số nhân tố và ý kiến của KTV
2 1 3 Tổng quan nghiên cứu về ý kiến kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng
đến ý kiến kiểm toán
BCKiT là công cụ giao tiếp quan trọng nhất được KTV sử dụng để thông báo
cho người ngoài cuộc về các cuộc đánh giá của họ Theo Habib (2013) thì mặc dù
kiểm toán đã có lịch sử lâu đời, nhưng BCKiT độc lập đầu tiên ở Hoa Kỳ đã được
Price Waterhouse cung cấp vào năm 1903 cho Công ty Thép Hoa Kỳ Điều này có
trước khi tuyên bố kiểm toán chính thức đầu tiên ở Hoa Kỳ khoảng 14 năm và rất dài,
rõ ràng và chính xác liên quan đến công việc đã được hoàn thành Một mẫu BCKiT rất
Trang 37ngắn gọn được lập bởi Viện Kế toán Hoa Kỳ (AIA), nay được gọi là Viện Kế toán
Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) theo yêu cầu của Ủy ban Thương mại Liên bang và
được sử dụng cho đến năm 1929 Một đoạn mở đầu quan trọng được công nhận, lầnđầu tiên, cần có nhiều nỗ lực khác nhau trong việc chuẩn bị ý kiến kiểm toán cho cáccông ty khác nhau Vào năm 1934, AIA đã thực hiện các thay đổi hơn nữa đối với
cách diễn đạt của BCKiT bằng cách loại bỏ từ “chứng nhận” và lần đầu tiên kết hợpthuật ngữ “trình bày trung thực và hợp lý” trong đoạn ý kiến Đây cũng là lần đầu tiênmột báo cáo hai đoạn bao gồm các phần phạm vi và ý kiến được giới thiệu
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, mặc dù ý kiến kiểm toán được phân loạithành 05 (năm) loại nhỏ là: ý kiến chấp nhận toàn phần, ý kiến chấp nhận toàn phần
có đoạn nhấn mạnh, ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược và ý kiến từ chối nhưng như
đã trình bày ở sơ đồ 2 3 về các hướng nghiên cứu thì với hướng nghiên cứu thứ 3 màluận án muốn kế thừa và phát triển thì các nghiên cứu đều đồng nhất việc phân loại
biến phụ thuộc ý kiến kiểm toán thành ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý
kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Do đó, Luận án này cũng kế
thừa từ các nghiên cứu tiền nhiệm và thực hiện kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đếnhai loại ý kiến là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không
phải dạng chấp nhận toàn phần
Trong các nghiên cứu về ý kiến kiểm toán trên thế giới, các nhân tố ảnh hưởngđến ý kiến kiểm toán được bàn luận và nghiên cứu trên 02 góc độ: (1) Góc độ dựa trêncác đối tượng liên quan: từ chủ thể kiểm toán là các KTV, từ khách thể kiểm toán làcác công ty được kiểm toán và từ các thông tin bên ngoài (2) Góc độ loại nhân tố: (a)các nhân tố là các biến tài chính và (b) các nhân tố là các biến phi tài chính
Cách thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán được phân chia dựa
trên các đối tượng liên quan, theo đó:
(1) Các nhân tố liên quan đến công ty kiểm toán: (i) Quy mô, chất lượng công
ty kiểm toán: Big 4 (4 công ty kiểm toán lớn) và Non big 4 (các công ty không phảithuộc 4 công ty kiểm toán lớn)
(2) Các nhân tố liên quan đến công ty được kiểm toán: (i) các chỉ số tài chính,(ii) ý kiến kiểm toán năm trước, (iii) các nhân tố về quản trị công ty: tỷ lệ thành viênkhông điều hành, (iv) số năm niêm yết của công ty được kiểm toán, (v) hệ thống
KSNB của công ty được kiểm toán, (vi) độ trễ của BCKiT phát hành sau thời điểm
quy định
Trang 38(3) Các nhân tố bên ngoài: chuyển đổi KTV, nhiệm kỳ KTV…
Cách thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán được phân chia dựa
trên các nhân tố tài chính và nhân tố phi tài chính, theo đó:
(1) Các nhân tố tài chính gồm: (i) các chỉ số thanh toán: hệ số thanh toán ngắnhạn, (ii) các chỉ số hiệu suất hoạt động: vòng quay tài sản cố định, vòng quay hàng tồnkho (iii) các chỉ số hiệu quả hoạt động: tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ (ROE), % tăngtrưởng doanh thu năm nay so với năm trước, (iv) các chỉ số cơ cấu vốn: hệ số nợ
(2) Các nhân tố phi tài chính gồm: (i) ý kiến kiểm toán năm trước, (ii) tỷ lệthành viên không điều hành, (iii) quy mô chất lượng công ty kiểm toán: Big 4 (4 công
ty kiểm toán lớn) và Non Big 4 (các công ty không phải thuộc 4 công ty kiểm toánlớn), (iv) độ trễ của BCKiT phát hành sau thời điểm quy định, (v) chuyển đổi KTV
Trong luận án này, NCS sử dụng cách thức phân loại số hai là các biến tài chính
và phi tài chính để tổng quan cũng như thực hiện nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu
đã được khám phá và được tổng hợp dưới đây:
2 1 3 1 Các nhân tố tài chính
a Hệ số thanh toán ngắn hạn
Muchler (1985) đã chứng minh tỷ lệ khả năng thanh toán có ảnh hưởng đến ýkiến kiểm toán Spathis (2003) nghiên cứu tại Hy Lạp đã kết luận ý kiến kiểm toán cóliên quan chặt chẽ đến thông tin tài chính như: mức độ thanh khoản của doanh nghiệp Nahandi và cộng sự (2013) tại Iran đã khảo sát tính hữu ích của báo cáo dòng tiềntrong việc xác định doanh nghiệp nhận được loại ý kiến kiểm toán nào Các nhà
nghiên cứu đều kết luận về tỷ lệ lưu chuyển tiền mặt đại diện cho chỉ tiêu khả năngthanh toán là một trong số các yếu tố nổi bật và ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán cũngnhư có mối quan hệ giữa số lượng dòng tiền và khả năng nhận được BCKiT có ý kiếnkiểm toán không được chấp nhận toàn phần
Zarei H và cộng sự (2020) nghiên cứu trên 480 quan sát từ 2012-2016 đã chỉ ra
có mối quan hệ ngược chiều và trọng yếu giữa hệ số thanh toán ngắn hạn với tư cách
là một biến độc lập và loại ý kiến kiểm toán Điều này có nghĩa là việc giảm hệ sốthanh toán ngắn hạn sẽ làm công ty gặp khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của công
ty và công ty không có khả năng thanh toán cần thiết để trả các khoản nợ trong ngắnhạn, do đó có khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toànphần là cao Phát hiện này phù hợp với kết quả nghiên cứu được báo cáo bởi Spathis
Trang 39(2003), Caraman và Spathis (2006), Gaganis và cộng sự (2007) trong khi ở một chiều
hướng khác thì Alpaslan Yasar và cộng sự (2015), Thuy Thi Ha và cộng sự (2016)
không tìm thấy mối quan hệ giữa hệ số thanh toán ngắn hạn và ý kiến của KTV
b Nhóm các chỉ số về hiệu suất hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho và vòng quay tài sản cố định là chỉ tiêu đại diện cho
hiệu suất hoạt động kinh doanh của một công ty Hai chỉ tiêu này được đưa vào mô
hình nghiên cứu của nhiều tác giả và cũng cho kết quả không đồng nhất
(i) Vòng quay hàng tồn kho Spathis và cộng sự (2003) nghiên cứu trên 100
công ty tại Hy Lạp đã chứng minh rằng chỉ số tài chính có đóng góp quan trọng đến ý
kiến KTV Tuy nhiên vòng quay hàng tồn kho lại không có mối quan hệ với ý kiến
không phải loại chấp nhận toàn phần Nghiên cứu này được sự ủng hộ của Zarei H và
cộng sự (2020) tại Nhật Bản Trái ngược với Spathis và cộng sự (2003) và Zarei H và
cộng sự (2020) tại Nhật Bản thì thì Willenborg và McKeown (2000) chỉ ra mối quan hệgiữa vòng quay hàng tồn kho và ý kiến kiểm toán
(ii) Vòng quay tài sản cố định Zarei H và cộng sự (2020), Ozcan (2016), Maria
Tsipouridoua và Charalambos Spathis (2014) đều cho ra một kết quả là vòng quay tài sản
cố định có mối quan hệ cùng chiều với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Điều này
có ý nghĩa là công ty có vòng quay tài sản cố định càng tốt thì càng có nhiều khả năng
nhận ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
c Nhóm các chỉ số về hiệu quả hoạt động
c1 ROE
Theo Zarei H và cộng sự (2020) thì lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan
trọng nhất đo lường hiệu quả hoạt động của một đơn vị kinh tế Do đó đây là chỉ tiêu
được xuất hiện rất nhiều trong các nghiên cứu
Phần đa kết quả nghiên cứu đều cho thấy có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa chỉ
tiêu lợi nhuận và ý kiến kiểm toán Dopuch và cộng sự (1987) chỉ ra lỗ năm hiện tại là
một trong những biến có ảnh hưởng mạnh đến ý kiến kiểm toán không phải dạng chấpnhận toàn phần Nghĩa là lợi nhuận doanh nghiệp càng thấp thì xác suất nhận ý kiến
không phải chấp nhận toàn phần càng cao Spathis và cộng sự (2003), Gaganis và cộng
sự (2007), Mutchler (1986) Keasey và cộng sự (1988) kết luận rằng các công ty có thunhập giảm… sẽ có xác suất cao nhận một ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhậntoàn phần Tương đồng, Citron và Taffler (1992) cũng chỉ ra các công ty gặp khó khăn
về tài chính có thể sẽ nhận được các ý kiến kiểm toán bất lợi Trong nghiên cứu của
Trang 40Kirkos và cộng sự (2007), tác giả cũng khám phá ra sự căng thẳng về tài chính (chỉtiêu này được đo lường bởi điểm số Altman Z) có liên quan chặt chẽ với ý kiến kiểmtoán và các công ty có mức sinh lợi thấp nhận được ý kiến không phải dạng chấp nhậntoàn phần Habib (2013) chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và ý kiếnkiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Kết quả trong nghiên cứu của
Penas và cộng sự (2017) tại Tây Ban Nha chỉ ra ROA cao làm tăng khả năng nhậnđược ý kiến kiểm toán thuận lợi Thuy Thi Ha và cộng sự (2016) cũng chỉ ra biến tỷsuất lợi nhuận/doanh thu, ROE có ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán Ozcan (2016)nghiên cứu trên 180 công ty từ 2005 đến 2014 tại Istanbul với mô hình hồi quy
cũng chỉ ra các công ty có lợi nhuận cao hơn sẽ có xác suất nhận ý kiến chấp nhậntoàn phần cao hơn Gần đây nhất là công trình của Zarei H và cộng sự (2020) đã chỉ ra
lợi nhuận gộp như một biến độc lập có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với loại ýkiến kiểm toán Khả năng phát hành một BCKiT ngoại trừ tăng lên cùng với việcgiảm lợi nhuận gộp Vì lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đolường hiệu quả hoạt động của một đơn vị kinh tế, nên có thể kết luận rằng BCKiTchịu ảnh hưởng của lợi nhuận gộp của một đơn vị kinh tế Phát hiện này phù hợpvới kết quả được báo cáo bởi Willenborg và McKeown (2000), Gaganis và cộng sự(2007), Farinha và Viana (2009), Yasar và cộng sự (2015)
Mặc dù nghiên cứu là khá đồng nhất chỉ tiêu lợi nhuận có quan hệ mạnh mẽ với
ý kiến kiểm toán tuy nhiên vẫn có một số ít các nghiên cứu đem lại kết quả khác Zureigat (2014) tại Ả Rập chỉ ra lợi nhuận và ý kiến kiểm toán không có mối quan hệhay như trong nghiên cứu của Suroto (trích dẫn trong Suroto, 2017, tr 80) chỉ ra cáctác giả Aryantika và Rasmini (2015), Hadori và Sudibyo (2014), Wulandari (2014), vàMasyitoh and Se Ak (2010) tại Indonesia cho rằng lợi nhuận không có ảnh hưởng đếncác ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần
c2 Tăng trưởng doanh thu
Erkki K Laitinen và Teija Laitinen (2020) tại Phần Lan sử dụng mô hình logit
và nghiên cứu trên 111 quan sát đã chỉ ra tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ ngượcchiều với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần Tức là doanh nghiệp
có tăng trưởng doanh thu thấp thì có xác suất nhận ý kiến không phải loại chấp nhậntoàn phần cao hơn Ozcan (2016) tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng tìm ra mối liên hệ giữa tăngtrưởng và ý kiến kiểm toán tuy nhiên ông sử dụng thang đo là tài sản thay vì doanh thunhư Erkki K Laitinen và Teija Laitinen (2010)