NHẬN THỨC VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI GIỮA CƯƠNG LĨNH 1991 VÀ CƯƠNG LĨNH 2011 1 Đặt vấn đề Với thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 toàn thắng, miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc đã được thống nhất Trong 10 năm khi cả nước bước vào thời kỳ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước đã gặt hái được nhiều thành tựu Đáng kể đến đó là thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ và chính trị, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước xây dựng và phát tr.
Trang 1NHẬN THỨC VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI GIỮA CƯƠNG LĨNH 1991 VÀ CƯƠNG LĨNH 2011
1 Đặt vấn đề
Với thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 toàn thắng, miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc đã được thống nhất Trong 10 năm khi cả nước bước vào thời kỳ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước đã gặt hái được nhiều thành tựu Đáng kể đến đó là thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ và chính trị, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước xây dựng
và phát triển các quan hệ sản xuất mới, những cơ sở vật chất – kỹ thuật mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Nhưng đồng thời, bên cạnh đó cũng phạm phải nhiều sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan duy ý chí, nóng vội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, duy trì chế độ kinh tế bao cấp trong một thời gian dài, … đã dẫn đến những bước thụt lùi đáng kể
Trước tình hình đó, Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào
sự thật, đánh giá sự thật, nói đúng sự thật đã chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng Đồng thời, cũng tại Đại hội VI, cùng với việc vạch ra đường lối Đổi mới, Đảng đã đề ra việc cần thiết phải hoàn chỉnh một cương lĩnh cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá
độ Đại hội VI nhấn mạnh “Thảo ra một cương lĩnh cách mạng hoàn chỉnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là sự kiến chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự chỉ đạo cách mạng trong một thời kỳ tương đối dài, đặt nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội”1
Trang 2Các sự kiện Đông Âu và Liên Xô từng bước tan rã vào đầu những năm 1990
đã cho thấy sự hỗn loạn về hệ tư tưởng Xã hội chủ nghĩa trong phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế Ra đời trong bối cảnh đấy, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã thực sự trở thành ngọn cờ chiến đấu của Đảng ta Cương lĩnh được trình bày bằng một hệ thống quan điểm cơ bản về một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai mà chúng ta đang hướng tới với các mục tiêu cơ bản và những nhiệm vụ cơ bản đã được đề ra Trong
đó Đảng ta đã thay đổi quan điểm, nhận thức của mình về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (quá độ gián tiếp) sẽ phải là một công việc khó khăn và lâu dài, điều này cũng đánh dấu sự chấm dứt cả một thời kỳ chúng ta quan niệm rằng có thể dựa vào nền công nghiệp nặng của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa mà có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội với tốc độ cao Cương lĩnh 1991 chính là ánh sáng soi đường giúp Đảng ta vượt qua thời kỳ đen tối đó, và cũng là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của cách mạng Việt Nam
2 Những nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta tại Cương lĩnh 1991 và được bổ sung làm rõ thêm từ Đại hội VIII,
IX, X, XI
2.1 Nhận thức về đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Cương lĩnh năm 1991 đã xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đất nước trãi qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại”2
2 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 22/2/2017.
Trang 3Khác với những nhận thức tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam năm 1960 khi nhận thức con đường quá độ ở nước ta là bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa (nửa trực tiếp), có thể dựa vào nền đại công nghiệp của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, thì tại Đại hội VII lần này, chúng ta xác định con đường quá độ ở nước ta chỉ là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (gián tiếp), tức con đường ở một mức độ thấp hơn, bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tần Tư bản chủ nghĩa và áp dụng những thành tựu tiến bộ của nhân loại, trong đó có cả thành tựu của chủ nghĩa tư bản về khoa học kỹ thuật để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế phát triển Chính sự nhận thức này sẽ dẫn đến những phương pháp, cách thức thực hiện cách mạng ở nước ta trong thời kỳ quá độ từ Đại hội VII sẽ phải khác với phương pháp, cách thức thực hiện như hồi Đại hội III, IV, V đã làm
Như vậy, thay vì trước đây chúng ta nhận thức rằng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ có thể làm nhanh, tương đối ngắn nếu dựa vào sức mạnh của nền đại công nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa anh em quốc tế, thì ngày nay chúng ta phải nhận thức đúng rằng, sự nghiệp đó là sự nghiệp rất lâu dài, khó khăn
và đầy phức tạp Đặc biệt, kể từ khi các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông
Âu tan rã, thì quá trình quá độ ở nước ta còn phải khó khăn, phức tạp, và lâu dài hơn nữa vì sự hỗ trợ to lớn đó đã không còn nữa Do đó, Cương lĩnh 1991 là bước ngoặt quan trọng trong sự nhận thức về đặc điểm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là cơ sở cho phương hướng phát triển của công cuộc Đổi mới
2.2 Nhận thức về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
Xác định đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa không phải là nói đến xã hội trong tương lai như thế nào, mà là nói đến những định hướng để chúng ta xây dựng
Trang 4ta hướng tới, và quá trình thực hiện mục tiêu đó chính là công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Do đó, nói đến đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, tức là nói đến những mục tiêu mà chúng ta sẽ từng bước thực hiện trong xuyên suốt thời kỳ quá độ
Những định hướng về xã hội xã hội chủ nghĩa được đặt ra trong Cương lĩnh
19913 là: Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
Qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X và các Nghị quyết Trung ương, thì nhận thức
về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng được làm rõ Trong văn kiện của Đại hội X thì nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa được quan niệm là: xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tương trợ, và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới
Những nhận thức mới được biểu thị tại Đại hội X đó là:
3 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 22/2/2017.
Trang 5- Đặt ra các tiêu chí cho xã hội mới đó: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh So với Đại hội VII thì tiêu chí này làm sáng tỏ hơn đối với mục tiêu mà chúng ta hướng tới trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
- Đặt “nhân dân” làm chủ thay cho “nhân dân lao động” làm chủ Điều này càng làm sáng tỏ hơn, vì đối tượng phục vụ của chúng ta là nhân dân, của dân, do dân và vì dân Cho nên đối tượng không thể nào bị thu hẹp lại chỉ còn “nhân dân lao động”, thực tế, trong xã hội xã hội chủ nghĩa không chỉ có mỗi nhân dân lao động mà còn nhiều tầng lớp nhân dân khác nữa
- Bổ sung thêm đặc trưng: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân, vì dân Trước đây, quan niệm về Nhà nước chuyên chính vô sản, vốn chỉ xem Nhà nước là công cụ chính trị, để thực hiện quyền lực chính trị của một giai cấp nhằm cải biến xã hội, trong đó thực hiện sự trấn áp chính trị là một xu hướng tất yếu Thời kỳ đó đã lùi xa trong quá khứ, thời kỳ hiện nay đó là thời kỳ toàn cầu hóa, thời kỳ của sự hợp tác quốc tế, của sự đa dạng hóa kinh tế, do đó tính chất trấn áp chính trị đó nhất định phải thay đổi Sự pháp chế hóa là cơ sở tốt nhất
để từng bước loại bỏ tính chất đó, đồng thời giúp Nhà nước xã hội chủ nghĩa không ngừng củng cố, từng bước loại bỏ sự quan liêu, tham nhũng của một số phần tử biến chất trong Đảng và Nhà nước
Những thay đổi trên đã được Đảng ta hoàn chỉnh và bổ sung vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (chỉnh sửa bổ sung) năm 2011
2.3 Nhận thức về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Cương lĩnh 1991 đã nêu ra một số phương hướng cơ bản cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đó là4: Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của
Trang 6dân, do dân, vì dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân; Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm; Thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự
đa dạng về hình thức sở hữu; Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa
Đến Đại hội X, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn sau 20 năm Đổi mới
đã khái quát các phương hướng phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta5:
- Tiếp tục khẳng định phương hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
- Thay đổi từ “cách mạng xã hội chủ nghĩa trong văn hóa, tư tưởng” thành
“Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội”
- Thêm yếu tố xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc
Có thể thấy từ Đại hội VII đến Đại hội X, Đảng ta đã từng bước củng cố và hoàn thiện về phương hướng xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ quá độ
5 Nguyễn Đình Hòa, Về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 30/9/2015.
Trang 7Đến Đại hội XI, trên cơ sở những phương hướng đã nêu trong Cương lĩnh
1991 và quá trình bổ sung Thì Đại hội XI đã hoàn thiện phương hướng này Cụ thể
là xác định những nội dụng: đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn với “phát triển kinh tế tri thức”; thay “Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” bằng “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; làm rõ thêm nội dung “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; làm rõ
“Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân”
2.4 Nhận thức về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa và việc thiết lập từng bước các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta đã xác định một cách tổng quát mô hình phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ, đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước
Mô hình này không mới, nó đã có từ năm 1921, dựa theo chính sách Kinh tế mới của Lenin Nói một cách rõ ràng hơn, đó là nền kinh tế nhiều thành phần được vận hành bởi Nhà nước chuyên chính vô sản Nhưng khác với nước Nga Xô viết, khi
đã có những cơ sở công nghiệp nặng và trình độ khoa học kỹ thuật khá tương đối, cho nên bước đường kinh tế xã hội chủ nghĩa của họ được tiến hành với tốc độ cao hơn và ngắn hơn so với một nước còn đang lạc hậu về mặt kinh tế, thuần thúy nông nghiệp, chưa có nền đại công nghiệp kim khí như Việt Nam
Qua các kỳ Đại hội, chúng ta từng bước phát triển các quan điểm về nền kinh tế này Từ “Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” sang “Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Điều này không chỉ làm rõ hơn về mặt nội dung, mà
Trang 8xã hội chủ nghĩa hay chính xác đó là: củng cố nền kinh tế quốc doanh và tập thể dựa trên sự phát triển của các đa thành phần kinh tế Đại hội IX còn khẳng định mô hình kinh tế này là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong xuyên suốt thời kỳ quá độ
Điều này có một ý nghĩa quan trọng, trước mắt cần phải thừa nhận rằng nền kinh tế của nước ta hiện nay muốn phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải
là nền kinh tế đa thành phần vì căn bản trình độ sản xuất và quản lý của nước ta trong một số khâu còn kém phát triển mà nguồn lực Nhà nước lại có hạn nên chỉ có thể con đường thực hiện lối làm ăn tư bản, tư nhân, kinh tế hộ, kinh tế tiểu chủ, thì mới có thể phát triển được Song không phải thừa nhận và để cho các thành phần kinh tế đó phát triển thì phủ định chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, cho các thành phần kinh tế đó phát triển trong một không gian, giới hạn nào đó cụ thể để tạo những đà phát triển mà có thể đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế quốc doanh và tập thể trong tương lai
Cương lĩnh 1991 còn xác định quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, và từng bước xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Quan niệm trước đây về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nhấn mạnh rằng có thể phát triển ở một mức độ nhất định nào đó quan hệ sản xuất đi trước tạo tiều để để phát triển lực lượng sản xuất Điều đó trong một khoảng thời gian nhất định cũng có những tác dụng hữu ích, như là thời kỳ đẩy mạnh kháng chiến chống Mỹ từ 1960 – 1975, với việc cải tạo nhanh chóng quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội đã đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc để ủng hộ miền Nam đánh Mỹ Song, không phải lúc nào việc đẩy trước quan hệ sản xuất cũng sẽ dẫn đến lực lượng phát triển, mà có khi ngược lại, trong điều kiện thiếu hụt các nguyên vật liệu, cơ sở vật chất được viện trợ thì quan hệ sản xuất đó trở nên mâu
Trang 9thuẫn và đối lập với lực lượng sản xuất làm tình hình sản xuất và kinh tế lâm vào khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng hơn
Điểm mấu chốt của cả thời kỳ từ 1960 – 1985 chính là ở chỗ chúng ta dựa vào nền đại công nghiệp kim khí của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em mà công nghiệp hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa với tốc độ cao Do đó, trong một trình độ nhất định chúng ta đã đi vượt và thiết lập quan hệ sản xuất đi trước, điều đó là trái với lý luận thông thường Chính sự giảm bớt ngày càng nhiều của các nguồn viện trợ nước ngoài làm quá trình sản xuất thiếu hụt đi một khối lượng lớn nguồn, nguyên, nhiên, vật liệu trong sản xuất làm tình trạng sản xuất và kinh tế kế hoạch của chúng ta dần trở nên mất cân đối và thiếu khả năng tự đảm nhận công tác vận hành và tổ chức trong sản xuất gây nên tình trạng sản xuất khó khăn, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, sự thiếu hụt của hàng hóa Chính lúc này quan hệ sản xuất dần trở nên kìm hãm lực lượng sản xuất và xơ cứng hóa nó, thủ tiêu triệt
để các động lực của quá trình sản xuất
Chính sự nhận thức về thời kỳ quá độ ở nước ta là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là xác lập quan hệ kinh tế tự lực đã dẫn đến sự thay đổi trong tư duy về cách thức vận hành và thiết lập quan hệ sản xuất trong nền kinh tế ở nước
ta Từ chỗ trước coi quan hệ sản xuất có thể đi trước lực lượng sản xuất tiến bộ, thì ngày nay chúng ta phải khẳng định rõ ràng rằng quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất Từ chỗ coi nền kinh tế chỉ có một thành phần duy nhất là chủ nghĩa xã hội thì phải thay đổi rằng nền kinh tế sẽ có nhiều thành phần, và việc khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển nhằm hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất Đại hội VIII xác định cần phải khuyến khích sự phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh tế6 Đại hội IX đã xác định: Tiêu chí căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội
Trang 10chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội7
3 Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 bối cảnh
Chưa nhận thức được các giai đoạn khác nhau về sự phát triển của cách mạng xã hội – LX Đâu (2)
2 tính chất
CL91 đề cập đến quá độ gián tiếp, CL11 không nhắc tới (1)
Hình thành rõ ràng định hướng về một xã hội đang hướng tới, CL91 phác họa, CL11 hoàn thiện (1) Chưa làm rõ các chặng đường đó như thế nào, theo hướng nào (2)
3 Mục tiêu tổng quát
CL91 có nêu cụ thể, làm sáng tỏ tính nhiều giai đoạn và mục tiêu của giai đoạn đầu tiên (1)
4 Phương hướng cơ bản
7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991-2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.44.