1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH xây DỰNG ĐƯỜNG lối CHUNG của THỜI kỳ QUÁ độ và CƯƠNG LĨNH THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM từ đại hội II đến đại hội VII của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 28,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI CHUNG CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ VÀ CƯƠNG LĨNH THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI II ĐẾN ĐẠI HỘI VII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Nội dung bài viết trình bày lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiến trình định hình phương hướng, xây dựng đường lối chung và cương lĩnh của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Qua đó có thể thấy những hình thức của thời kỳ quá độ, tính hiệu quả của từng loại hình thức và quan điểm đúng đắn của Hồ Chí.

Trang 1

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI CHUNG CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ VÀ CƯƠNG LĨNH THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI II ĐẾN ĐẠI HỘI VII

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nội dung bài viết trình bày lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiến trình định hình phương hướng, xây dựng đường lối chung và cương lĩnh của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Qua đó có thể thấy những hình thức của thời kỳ quá độ, tính hiệu quả của từng loại hình thức và quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về hình thức quá độ khi Người áp dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

1 Đặt vấn đề

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội gồm có 3 hình thức: hình thức trực tiếp, hình thức nửa trực tiếp và hình thức gián tiếp

Hình thức trực tiếp: là hình thức quá độ cao nhất, trên thực tế chưa có nước nào thực hiện ngay lập tức hình thức này, vì lúc bấy giờ các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở thế kỷ XIX xem rằng chỉ có các nước tư bản tiền tiến như nước Anh mới có đủ khả năng để tiến tới xã hội hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, trực tiếp đi xây dựng chủ nghĩa xã hội Mà từ khi cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười đến nay, chưa có nước nào thực hành việc quá độ một cách trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội

Hình thức nửa trực tiếp: hình thức này tồn tại ở các nước có bước phát triển rất thấp, chưa trãi qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, được sự giúp đỡ trực tiếp từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà xây dựng cơ sở vật chất kinh tế - xã hội, không ngừng phát triển để xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu để tiến lên con đường quá độ trực

Trang 2

tiếp đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Cơ sở vật chất tiền đề phụ thuộc chủ yếu vào các nước bên ngoài hỗ trợ

Hình thức gián tiếp: là hình thức quá độ bỏ qua chế độ Nhà nước tư bản chủ nghĩa (chứ không phải giai đoạn tư bản chủ nghĩa), là hình thức sử dụng Nhà nước

và công cụ chuyên chính vô sản trong một quốc gia mà không cần sự hỗ trợ bên ngoài, để điều tiết nền kinh tế nhiều thành phần nhằm xây dựng những cơ sở vật chất kinh tế - xã hội, để bước vào thời kỳ quá độ trực tiếp Trong đó kinh tế tư bản chủ nghĩa được xem là động lực để phát triển lực lượng sản xuất, quá trình phát triển đó được đặt dưới sự kiểm soát và đảm bảo của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Liên Xô là nước đầu tiên bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Lê-nin, hình thức quá độ gián tiếp (1917-1928) đã được thực hiện nhằm xây dựng những cơ sở vật chất của nước Nga để đạt đến trình độ cao, có thể chuyển sang thời kỳ quá độ trực tiếp (1928 – 1936) để đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đối với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, … sau này phần lớn chủ yếu là hình thức quá độ nửa trực tiếp có sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa khác

Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có một chút đặc biệt, ngay lúc ban đầu, đường lối quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là đường lối quá độ gián tiếp, đặc biệt, còn có thời kỳ chuẩn bị tiền đề cơ sở vật chất để bước vào thời kỳ quá độ Những sáng tạo đó in những dấu ấn đặc biệt của Hồ Chí Minh Tuy nhiên, việc ứng dụng hình thức đó không lâu dài, gặp cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào thoái trào

và sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước xác lập lại tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ để đi lên xây dựng chủ nghĩa

2 Nhận thức thời kỳ quá độ ở Việt Nam

Trang 3

2.1 Thời kỳ xác định và xây dựng hình thức quá độ gián tiếp

Tại Hội nghị lần thứ nhất BCH TW tháng 10 năm 1930, lần đầu tiên đề cập đến lý luận thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng bí thư Trần Phú viết trong

Luận cương chính trị tháng 10 có viết: “xứ Đông Dương sẽ nhờ vô sản giai cấp

chuyên chánh các nước giúp sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”1

Như vậy, Tổng bí thư Trần Phú đã đặt tiền đề của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hình thức quá độ nửa trực tiếp, tức là đặt cách mạng Việt Nam trong khuôn khổ có được sự giúp đỡ và hỗ trợ của Liên Xô để xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) thì lý luận thời kỳ quá độ đã không được Đảng ta đề cập đến trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, trong đó không nêu rằng sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Việt Nam sẽ được các nước xã hội chủ nghĩa giúp sức mà quá độ nửa trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội

Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam có viết: “Cách mạng dân tộc

dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Do giai cấp công nhân lãnh đạo, liên minh chặt chẽ với nông dân và lao động trí

óc, lại được Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân, nhất là Trung Quốc, cách mạng Việt Nam không thể đi con đường nào khác ngoài con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội”2

Chính cương chỉ xác định chặng đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Nhưng lại không đề cập đến thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có được

1 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.2, 2002, tr.98.

2 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018

Trang 4

chuyên chính vô sản của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ nhân dân giúp đỡ

Qua văn kiện, Đảng ta cũng chưa xác định hình thức quá độ ở nước ta có

phải là hình thức nửa trực tiếp hay gián tiếp mà “phải tùy theo điều kiện cụ thể của

tình hình trong và ngoài nước khi đó mà quyết định”3

Tuy nhiên, việc xác định rõ ràng 3 giai đoạn của con đường cách mạng Việt Nam, đã thể hiện rằng Đảng ta xác lập đường lối quá độ gián tiếp (không phụ

thuộc trực tiếp vào quốc tế): “giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành

giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ các di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”4

Trong đấy, Đảng ta xác định tồn tại giai đoạn chuyển tiếp giữa thời kỳ cách

mạng dân tộc giải phóng và thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội là thời kỳ xây dựng

chế độ dân chủ nhân dân Đây không được xem là một bộ phận của thời kỳ quá độ,

mà được xem là một giai đoạn chuyển tiếp, chuẩn bị những điều kiện cơ sở vật chất để nước ta bước vào thời kỳ quá độ

Có thể thấy, trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam còn xác định những nhân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ, toàn thể nông dân (bao gồm cả phú nông và trung nông) là động lực của cách mạng Xem nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn thứ hai là giải quyết triệt để người cày có ruộng nhưng không đề cập đến việc thủ tiêu giai cấp địa chủ, còn công tác cải cách ruộng đất trước hết nhắm đến các

3 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018

4 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018

Trang 5

hình thức giảm tô giảm tức nhằm khuyến khích cải thiện đời sống nhân dân và gia tăng sản xuất và tịch thu ruộng đất của thực dân và tay sai bán nước mà thôi

Mặc dù chưa hoàn chỉnh trong việc xây dựng đường lối chung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Song, tư duy chính trị của Đảng ta trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam – Cương lĩnh thấm đâm tư duy của Hồ Chí Minh –

là một cương lĩnh sáng tạo, phù hợp và đầy tính cách mạng

Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Nghị quyết của Bộ Chính trị họp

từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954 đã xác định lại một cách rõ rệt tính chất của giai đoạn thứ hai – giai đoạn xây dựng chế độ dân chủ nhân dân – đã được nêu trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Nghị quyết của Bộ Chính trị có

viết: “Chế độ xã hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng ta thuộc hàng

các nước dân chủ nhân dân Chính quyền của nước ta là chính quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, có Mặt trận dân tộc thống nhất bao gồm cả giai cấp tư sản và nhân sĩ dân chủ, thân sĩ (địa chủ-TG) yêu nước Nhưng vì Nam Bắc tạm thời chia làm hai vùng, vì phải chiếu cố tới miền Nam, vì cần tranh thủ rộng rãi các tầng lớp nhân dân, vì quy định của Hiệp định đình chiến, vì trình độ phát triển của công nghiệp, vì quan hệ cụ thể của các lực lượng giai cấp trong nước, nên về thành phần giai cấp, trình độ hòa hoãn của chính sách, tốc độ phát triển của chính sách, chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam không những khác với chính quyền các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu,

mà còn khác với chính quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Nói chung chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa so với chính sách của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới hồi kiến quốc năm 1949 thì ôn hòa hơn một chút, thành phần tham gia chính quyền rộng rãi hơn một chút, tốc độ phát triển của chính sách tiến chậm hơn một chút Chế độ chính trị của nước ta, về nội dung

Trang 6

là dân chủ nhân dân, nhưng về hình thức thì về mặt nào đó còn cần áp dụng chủ nghĩa dân chủ cũ”5

Có thể thấy, chính quyền dân chủ nhân dân mà Đảng Lao động Việt Nam hướng tới có khác biệt với các chính quyền dân chủ nhân dân có khuynh hướng chuyên chính vô sản như ở Đông Âu, hay chuyên chính liên hiệp bốn giai cấp như chủ nghĩa dân chủ mới ở Trung Quốc Vì Đảng ta xác định chúng ta đang ở giai đoạn thấp, tình hình sau Hiệp định Geneva tương đối phức tạp, ngay lúc này việc cần kíp là củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở miền Bắc và tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Trong quá trình đó, cách mạng miền Bắc cần phải tiến những bước đi chậm, tránh việc các lực lượng, giai cấp bóc lột cũ chạy từ miền Bắc vào Nam hỗ trợ cho chính quyền tay sai của Mỹ

Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa II, họp từ ngày 13 đến ngày 20 tháng 8 năm 1955, nội dung của việc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân được Đảng ta tiếp tục phát triển thông qua báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh, trong đó chủ yếu là nội dung thi hành chế độ dân chủ nhân dân ở miền Nam sau khi Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà được thực hiện Báo cáo của đồng chí

Tổng bí thư Trường Chinh có viết: “Theo cương lĩnh chung của Mặt trận dân tộc

thống nhất tóm tắt trên đây, nước Việt Nam sau khi tổng tuyển cử mới thống nhất bước đầu hoặc thống nhất một phần, chưa hoàn toàn thống nhất Miền Bắc giữ nguyên chế độ dân chủ mới (song nội dung dân chủ mới mà hình thức thì về một mặt nào đó còn áp dụng chủ nghĩa dân chủ cũ) Còn ở miền Nam thì không những hình thức mà nội dung của chế độ chính trị trong thời kỳ còn nhiều tính chất dân chủ cũ; thành phần dân chủ mới sẽ phát triển dần dần Và sau đó một thời gian nhất định hai miền mới có thể hoàn toàn thống nhất về mọi mặt”6

5 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.15, 2002, tr288-289.

6 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.16, 2002, tr.489.

Trang 7

Cũng tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa II, lần đầu tiên

ta xác định rõ vai trò “sự giúp đỡ của bạn” cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Báo cáo có viết: “Tự lực cánh sinh là chính, sự giúp đỡ của các nước bạn là phụ.

Các nước bạn giúp ta như thêm vốn cho ta, giúp ta có thêm điều kiện để tự lực tự cường Ta tuyệt đối không nên ỷ lại”7 Điểm này có phần khác so với Luận cương chính trị của Đảng ta khi xác nhận tính phụ thuộc vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, để tiến tới quá độ nửa trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời, Báo cáo cũng xác định Đảng ta chuẩn bị những điều kiện để tiến hành quá độ gián tiếp, đó là việc xác lập năm 1957 là mốc đi vào xây dựng nền kinh tế có kế hoạch hóa (tự lực) thay vì được hỗ trợ toàn bộ như quá độ nửa trực tiếp

2.2 Thời kỳ xây dựng và thực hiện hình thức quá độ nửa trực tiếp

Đến Hội nghị lần thứ 11 mở rộng của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam khóa 2 (12/1956), Nghị quyết số 02/NQ/TW lần đầu tiên đã đề cập Đảng cần thiết xác định đường lối chung cho thời kỳ quá độ ở miền Bắc Quá trình miền Bắc tiến vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được xác nhận tại Hội nghị lần thứ 12 của BCH TW khóa II (3/1957) và báo cáo về Kế hoạch Nhà nước năm 1957 Đảng

ta xác nhận, từ cuối năm 1956 đã tiến hành chuẩn bị cho kế hoạch hóa nền kinh tế cho năm 1957 và tại Hội nghị lần thứ 12 của BCH TW khóa II Đảng Lao động Việt Nam đã chính thức thông qua kế hoạch hóa phát triển kinh tế quốc dân Trong nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 1957, một mặt Đảng ta ra sức hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế quốc dân để đạt mức trước chiến tranh thế giới 1939, một mặt Đảng ta tiến hành chủ trương cải tạo kinh tế, đặc biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa trong công nghiệp khi quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản Pháp thành các xí nghiệp quốc doanh xã hội chủ nghĩa Đồng thời bên cạnh hoàn thành cải cách ruộng đất vào năm 1956, đã đánh đổ phần lớn giai cấp địa chủ, thực hiện người cày có ruộng,

7 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.16, 2002, tr.503

Trang 8

Đảng ta tiến hành đường xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, khuyến khích nông dân thực hiện lối làm ăn tập thể

Căn cứ trên báo cáo của Hội nghị lần thứ 14 BCH TW khóa II về “Tình hình

thế giới và nhiệm vụ của chúng ta” và Báo cáo “Về nhiệm vụ kế hoạch ba năm (1958-1960) phát triển và cải tạo kinh tế quốc dân” căn bản đã xác định rõ tính

chất cách mạng ở miền Bắc là đã bước vào thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nội dung căn bản phù hợp với hình thức quá độ gián tiếp, trong đó tập trung nói đến việc Đảng và Chính phủ cần phải quan tâm đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhằm xây dựng những cơ sở vật chất – xã hội cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Tại Hội nghị lần thứ 15 BCH TW khóa II năm 1959 và tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III vào năm 1960, Đảng ta đã từng bước kiện toàn con đường đi quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Về mặt phương hướng, Đảng ta xác định phương hướng căn bản là hình thức quá độ nửa

trực tiếp, có thể “vượt qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ

nghĩa xã hội”8 Lần đầu tiên kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng ta tái xác định phương hướng của thời kỳ quá độ được nêu trong Luận cương chính trị là đúng đắn Trước mắt, Đảng ta đặt ra nhiệm vụ cải tạo xã hội bằng hình thức quá độ trực tiếp đối với những cơ sở vật chất kỹ thuật đang sẵn có, sử chính quyền dân chủ nhân dân đã được kiện toàn như là công cụ của nền chuyên chính vô sản nhằm cải tạo xã hội chủ nghĩa Nhưng đồng thời tận dụng sự giúp đỡ về vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa mà rút ngắn lại thời gian xây dựng cơ sở vật chất – xã hội cho thời kỳ quá độ ở nước ta

Cũng tại Đại hội, lần đầu tiên Đảng ta đã đề ra đường lối chung của thời thời

kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Một mặt, Đảng ta chủ trương thực

8 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018

Trang 9

hiện đường lối quá độ trực tiếp : “Muốn đạt mục tiêu ấy, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, vǎn hóa và

kỹ thuật; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, vǎn hóa và khoa học tiên tiến”9

Một mặt, Đảng ta từng tranh thủ đường lối quá độ nửa trực tiếp bằng tận dụng sự những thuận lợi khi có sự giúp đỡ ngày càng to lớn của các nước xã hội

chủ nghĩa: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền

thống phấn đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tǎng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam á và thế giới”10

Đây cũng là một trong những đặc điểm tương đối đặc biệt của việc xác lập ở đường lối chung của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta

Đặc điểm này xuất phát từ việc: thứ nhất, Đảng ta có phần vội vã trong việc đưa

miền Bắc bước vào con đường quá độ trực tiếp (thu hẹp phạm vi và thời gian quá

độ gián tiếp) khi thời kỳ quá độ gián tiếp chỉ thực hiện được mỗi Kế hoạch phát triển kinh tế 3 năm (1958-1960) Lẽ ra, thời kỳ quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã

9 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018

10 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018

Trang 10

hội phải được xem là lâu dài, từng bước, còn cần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần để phát triển lực lượng sản xuất, đặc biệt đối với nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam, nền kinh tế còn lạc hậu, chưa trãi qua sự phát triển của chủ

nghĩa tư bản; thứ hai, chính nhờ mối quan hệ ngày càng gắn chặt hơn giữa các

nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ nhân dân đối với Việt Nam, cho nên Đảng ta cũng từng bước nhận thức những thuận lợi của con đường quá độ nửa trực tiếp, có thể thông qua sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa mà thu hẹp được thời gian xây dựng những cơ sở vật chất – xã hội, có thể đẩy nhanh quá trình miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội, thậm chí có thể cho rằng sẽ khắc phục được những thiếu sót, khó khăn của tình hình kinh tế xã hội nước ta Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức quá độ nửa trực tiếp này là xu hướng tả tăng nhanh trong Đảng, hình thức tổ chức và quản lý của Nhà nước nhanh chóng được cải tiến theo hình thức tăng dần quan hệ sản xuất – vượt trước cả lực lượng sản xuất, phụ thuộc rất lớn vào khối xã hội chủ nghĩa Nếu như khối xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế hoặc không đủ điều kiện hỗ trợ Việt Nam quá độ nửa trực tiếp, thì vô hình chung sẽ phá nát toàn bộ cơ cấu kinh tế xã hội của nước ta

Cũng tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, việc

xác lập về mặt thời gian của thời kỳ quá độ đã được tiến hành: “Từ khi hòa bình

lập lại, miền Bắc nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”11 Điều này cũng dẫn đến việc phủ định tính 3 giai đoạn mà Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng ta đề ra từ 1951, xem thời kỳ xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn thuộc thời kỳ quá độ, cụ thể là quá độ gián tiếp Điều này cũng tạo tiền lệ cho việc sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng miền Nam khỏi ách xâm lược của

đế quốc Mỹ, mô hình chế độ dân chủ nhân dân sẽ không được thực hiện mà miền

11 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018

Ngày đăng: 21/04/2022, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018 Khác
2. Văn kiện Đại hội Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 22/2/2017 Khác
3. Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018 Khác
4. Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 24-9-2015 Khác
5. Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 24-2-2017 Khác
6. Văn kiện Hội nghị BCHTW Đảng, Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 BCHTW Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 16/6/2018 Khác
7. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.2, 2002 8. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.15, 2002 9. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.16, 2002 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w