BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIẢI PHẪU MẠCH MÁU VÙNG MẶT VÀ DÂY THẦN KINH MẶT I GIẢI PHẪU MẠCH MÁU VÙNG MẶT II GIẢI PHẪU DÂY THẦN KINH MẶT (DÂY THẦN KINH SỌ VII) Nguyên ủy thật nơi phát xuất dây thần kinh (vận động một nhân xám trung ương; cảm giác một hạch ngoại biên) Nguyên ủy hư nơi các dây đi vào hay ra khỏi ở trên bề mặt não bộ 1 Nguyên ủy và đường đi Dây thần kinh mặt (dây VII) được tạo nên bởi 2 rễ là rễ vận động lớn (thần kinh mặt) và một rễ cảm giác nhỏ gọi là thần kinh trung gian Nguyên ủy t.
Trang 1GIẢI PHẪU MẠCH MÁU VÙNG MẶT VÀ
DÂY THẦN KINH MẶT
SỌ VII):
Nguyên ủy thật: nơi phát xuất dây thần kinh (vận động: một nhân xám trung ương; cảm giác: một hạch ngoại biên)
Nguyên ủy hư: nơi các dây đi vào hay ra khỏi ở trên bề mặt não bộ
1 Nguyên ủy và đường đi:
Dây thần kinh mặt (dây VII) được tạo nên bởi 2 rễ là rễ vận động lớn (thần kinh mặt) và một rễ cảm giác nhỏ gọi là thần kinh trung gian
Nguyên ủy thật:
Của rễ vận động là các nhân nằm trong cầu não gồm:
o Nhân thần kinh mặt (nucleus nervi facialis) gồm có 2 nhóm, nhóm trên (nhân bụng) chi phối các cơ vòng mắt, cơ cau mày và cơ trán, nhóm dưới (nhân lưng) đến các cơ bám da còn lại của vùng mặt và cổ
o Nhân nước bọt trên (nucleus salivatorius superior) thuộc hệ thần kinh tự chủ
Của thần kinh trung gian (VII’) là các tế bào hạch gối (ganglion geniculi)
mà các sợi ngoại biên tạo thành thừng nhĩ (chorda tympani) và các sợi trung ương tận hết ở 1/3 trên của nhân bó đơn độc (nucleus tractus solitarii)
Nguyên ủy hư: Rãnh hành – cầu, ở đầu trên của rãnh bên trước hành não
Trang 1/11
Trang 2Hình : Nhân thần kinh V, VI, VII (Nguồn: Harold Ellis (2006), Clinically Anatomy, 11th Edition, “The facial nerve (VII)”, trang 375-377)
Đường đi: khá phức tạp, có thể chia làm 3 đoạn: một đoạn trong hộp sọ, một đoạn
ở trong xương đá và đoạn ngoài sọ
Đoạn trong sọ: Người ta chia dây thần kinh VII làm ba đoạn căn cứ từ
nhân thần kinh VII:
o Đoạn một: là đoạn trên nhân thần kinh VII đi từ vỏ não đến nhân thần kinh số VII ở vùng cầu não, tổn thương vùng này thường có những dấu hiệu thần kinh trung ương xuất hiện và bệnh nhân mất đi những vận động tự ý
o Đoạn hai: là đoạn ngay nhân thần kinh VII ở cầu não, rễ vận động thần kinh mặt (VII) sau khi xuất phát từ nhân vận động (nhân thần kinh mặt) chạy vòng quanh nhân vận nhãn ngoài (VI) tạo thành gối thần kinh mặt tương ứng vời lồi mặt ở nền não thất bốn, hợp với các sợi tự chủ từ nhân bọt trên và các sợi cảm giác đến từ nhân bó đơn độc đễ thoát ra ở rãnh hành cầu Do đó tổn thương vùng cầu não gây liệt VII ngoại biên luôn kèm theo tổn thương thần kinh VI
o Đoạn dưới nhân thần kinh VII: Từ rãnh hành cầu, thần kinh mặt đi cùng với thần kinh tiền đình ốc tai (dây VIII) đi qua hố sọ sau đến lỗ
Nhân dây VI
Nhân dây VII
Trang 3ống tai trong Như vậy tổn thương vùng rãnh hành cầu thường có liệt VII ngoại biên kèm theo tổn thương tiền đình và ốc tai
Đoạn trong xương đá: Thần kinh mặt chạy thành đường zíc – zắc trong
ống thần kinh mặt trong xương đá gồm 3 đoạn là:
o Đoạn mê đạo: rễ vận động thần kinh mặt và thần kinh trung gian
nối với nhau và cùng chui vào ống tai trong (Đoạn này thường bị tổn thương do vỡ ống tai trong do phẫu thuật và do u dây thần kinh VIII, vì dây VII’ cũng bị tổn thương nên thường thấy bệnh nhân bị khô nước mắt, giảm vị giác, mất sự bài tiết nước bọt), sau đó chạy thẳng góc với trục phần đá xương thái dương, giữa ốc tai xương và tiền đình xương của tai trong Đoạn này nằm ngay bên dưới hố não giữa, là đoạn hẹp nhất và ngắn nhất của dây thần kinh VII, mạch máu nuôi là một mạch máu duy nhất không có nhánh nối do đó đây
là đoạn dễ tổn thương nhất khi có viêm nhiễm trong ống dây thần kinh VII
Hình: Dây thần kinh mặt đoạn trong xương đá (Nguồn: Atlas of Clinical anatomy)
o Đoạn nhĩ: chạy gần như song song với trục của phần đá, nằm ở
thành trong của hòm nhĩ và tạo với đoạn trước một chỗ gập góc gọi
Trang 3/11
Hạch gối
Đoạn mê đạo Đoạn nhĩ
Trang 4là gối thần kinh mặt (geniculum nervi facialis), nơi này có hạch gối Đoạn này có 2 đầu, 1 đầu gần là tại hạch gối, đầu xa là đoạn chạy ngang ụ tháp mấu cơ xương bàn đạp đoạn này vỏ xương rất mỏng
dễ bị tổn thương do phẫu thuật, tại ụ tháp dây VII lại uốn cong, đoạn này rất dễ bị bộc lộ do phẫu thuật
o Đoạn chũm: thần kinh lại bẻ quặt chạy thẳng xuống chui qua lỗ
trâm chũm để thoát ra khỏi sọ
Đoạn ngoài sọ: Thần kinh mặt thoát ra khỏi hộp sọ ở lỗ trâm chũm, chạy
ngoài mỏm trâm, ở trẻ sơ sinh cho đến 2 tuổi dây VII nằm ngay ở tổ chức dưới da, sau 2 tuổi khi mỏm chũm và khung nhĩ hình thành dây VII mới chui sâu xuống dưới da khoảng 2cm Sau đó dây VII đổi hướng ra trước chia thành 2 nhánh VII trên và VII dưới là hai nhánh chạy ngang qua tĩnh mạch cảnh trong, sau đó chui vào tuyến mang tai chạy trên lớp cân cơ nhai
và tỏa ra vác nhánh tận tạo thành đám rối mang tai (plexus parotideus)
Sự phân nhánh:
Thần kinh mặt (VII) bắt đầu phân nhánh ở đoạn trong xương đá với các nhánh sau:
o Thần kinh đá lớn tách từ hạch gối, chạy theo lỗ và rãnh thần kinh đá lớn ở mặt trước xương đá để vào lại sọ, kết hợp với thần kinh đá sâu (từ đám rối động mạch cảnh của dây IX) thành thần kinh ống chân bướm (Vidien), chi phối bài tiết nước mắt
o Nhánh nối với đám rối nhĩ (ramus communicans cum plexus tympanico) (đoạn mê đạo), cùng với dây thần kinh IX chi phối sự bài tiết của tuyến mang tai
o Thần kinh cơ bàn đạp (nervi stapedius) (đoạn nhĩ) có tác dụng làm chùng màng nhĩ và giảm áp lực tai trong
o Thừng nhĩ (đoạn chũm) chạy lên trên và ra trước xương đe, sau xương búa, đi qua phần trên mặt trong màng nhĩ, rồi lách qua khe
đá trai để xuống nối với thần kinh lưỡi (từ thần kinh sinh ba) để đến chi phối cảm giác vị giác 2/3 trước lưỡi, cảm giác thành sau ống tai, chi phối sự bài tiết của tuyến dưới lưỡi và dưới hàm
Trang 5Hình : Phân nhánh của thần kinh mặt trong xương thái dương (Nguồn: Harold
Ellis (2006), Clinically Anatomy, 11th Edition, “The facial nerve (VII)”, trang
375-377)
Các nhánh bên của đoạn ngoài sọ:
o Thần kinh tai sau (nervi auricularis posterior) đến các cơ tai, cho ra nhánh chẩm (ramus occipitalis) đến bụng chẩm cuả cơ trên sọ
o Nhánh cơ hai thân (ramus digastricus) đến bụng sau cơ hai thân và tách ra nhánh cơ trâm móng (ramus stylohyoideus) và nhánh nối với thần kinh thiệt hầu (ramus communicans cum nervi glossopharyngeo)
o Nhánh lưỡi (ramus lingualis) có thể có hoặc không, đến gốc lưỡi nhận cảm giác niêm mạc
Các nhận tận: trong nhu mô tuyến mang tai, thần kinh mặt thường phân thành 2 nhánh là nhánh thái dương mặt và nhánh cổ mặt, rồi lại phân thành nhiều nhánh tận thoát ra ở bờ trước tuyến mang tai và đến vận động cho cơ bám da mặt và bám da tạo thành đám rối thần kinh mang tai: các nhánh thái dương, các nhánh gò má, nhánh má, nhánh bờ hàm dưới, nhánh cổ
Trang 5/11
Hạch và gối
thần kinh mặt
Thừng nhĩ
Mỏm trâm
Trang 6Hình: Đám rối thần kinh mang tai
Hình: Các dạng phân nhánh khác nhau của đám rối thần kinh mang tai (Nguồn:
Davis RA, Anson BJ, Puddinger JM, Kurth RE (1956), Surgical anatomy of the facial nerve and parotid gland based upon a study of 350 cervical facial halves, Surg
Gynecol Obstet, trang 385 Được lấy về từ:
http://www.oculist.net/downaton502/prof/ebook/duanes/pages/v2/v2c008.html)
Temporal branch: nhánh thái dương Zygomatic branch: nhánh gò má Buccal branch: nhánh má
Parotid gland: tuyến mang tai Mandibular branch: nhánh hàm dưới Marginal branch: nhánh bờ
Cervical branch: nhánh cổ
T: nhánh thái dương Z: nhánh gò má B: nhánh má M: nhánh bờ hàm dưới
Trang 7Hình: Các dạng phân nhánh khác nhau của đám rối thần kinh mang tai và vị trí
của nó với tĩnh mạch (Nguồn: Azizzadeh, B., Facial nerve (CN VII) anatomy & function Được lấy về từ:
http://www.facialparalysisinstitute.com/2/facial_nerve_anatomy_function.ht
ml)
2 Ứng dụng lâm sàng:
Thần kinh mặt là một dây hỗn hợp có nhiều chức năng, trong đó gồm có các sợi:
Vận động: xuất phát từ 2 nhóm nhân thần kinh mặt đi đến vận động các cơ bám da mặt và cổ biểu hiện tình cảm trên nét mặt Ngoài ra thần kinh còn chi phối một số cơ khác
Các sợi đối giao cảm: đến bài tiết tuyến lệ, các tuyến nhày của niêm mạc mũi, miệng, hầu và các tuyến nước bọt dưới hàm, dưới lưỡi
Các sợi cảm giác vị giác ở 2/3 trước lưỡi
Một bệnh nhân bị liệt dây thần kinh VII sẽ có những triệu chứng sau:
Rối loạn vận động: khối cơ mặt bên liệt không vận động được do đó mắt bên liệt nhắm không kín Mép môi má không di động được, nên bệnh nhân không chu miệng, phồng má, thổi sáo được
Trang 7/11
Temporal (Temp.): nhánh thái dương Zygomatic (Zyg.): nhánh gò má Buccal (Buc.): nhánh má Mandibular (Mand.): nhánh hàm dưới Cervical (Cerv.): nhánh cổ
Vị trí thay đổi của các nhánh thần kinh với tĩnh mạch
Trang 8 Rối loạn cảm giác: tăng cảm giác vùng Ramsayhunt (vành tai).
Rối loạn vị giác: mất vị giác 2/3 trước lưỡi
Rối loạn phó giao cảm và bài tiết: giảm bài tiết tuyến dưới hàm dưới lưỡi, tuyến nước mắt
Rối loạn phản xạ: mất phản xạ chớp mắt, phản xạ mũi mi, phản xạ giác mạc, phản xạ xương bàn đạp
Trên lâm sàng chúng ta cần chú ý phân biệt giữa liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên Vì nhân thần kinh mặt có 2 phần, nhân bụng ở trên, nhân lưng
ở dưới Nhân bụng nhận được sợi trục của vỏ não cả 2 bên, trong khi đó nhân lưng chỉ nhận được sợi trục từ vỏ não đối bên (hay nói cách khác là vỏ não đối bên cho sợi trục đến cả 2 phần của nhân mặt, trong khi đó vỏ não cùng bên chỉ cho sợi trục đến nhân bụng thôi), nhân bụng chi phối cho nửa mặt trên, nhân lưng chi phối cho nửa mặt dưới Ta có 3 trường hợp:
1 Nếu vỏ não cùng bên tổn thương -> Sẽ có sự bù trừ từ bên đối diện -> Mặt không liệt (giống các dây sọ khác)
2 Nếu vỏ não đối bên tổn thương -> Chỉ có sự bù trừ cho nhân bụng từ vỏ não cùng bên, nhân lưng không được bù trừ -> Biểu hiện của liệt mặt trung ương: Liệt 1/2 dưới mặt ĐỐI bên tổn thương
3 Nếu tổn thương neuron số 2 (từ sau nhân mặt): Biểu hiện liệt mặt ngoại biên: Liệt hoàn toàn nửa mặt CÙNG bên tổn thương
Để chẩn đoán định khu tổn thương dây VII, ta dựa vào sự rối loạn các chức năng của dây VII:
Tổn thương bên trên hạch gối: nếu bệnh nhân không có bài tiết nước mắt (test Schirmer)
Tổn thương đoạn trên thừng nhĩ: bệnh nhân sẽ không có bài tiết nước bọt (test Blatt)
Tổn thương từ dây thừng nhĩ trở lên: bệnh nhân sẽ mất vị giác 2/3 trước lưỡi
Tổn thương từ thân nền đến đoạn nhĩ sẽ mất phản xạ cơ xương bàn đạp
Đoạn ngoài sọ thần kinh mặt liên quan với tuyến nước bọt mang tai nằm nông ngoài da (nhất là ở trẻ dưới 2 tuổi) nên dễ bị liệt do lạnh
Trang 9Hình : Liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên (Nguồn: Jeffrey D Tiemstra
và Nandini Khatkhate (2007), Bell's Palsy: Diagnosis and Management Được lấy về
từ: http://www.aafp.org/afp/2007/1001/p997.html)
Trang 9/11
Liệt mặt ngoại biên Liệt mặt trung ương
Tổn thương
vỏ não
Tổn
thương dây
VII
Nhân dây
VII
Thần kinh VII
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Tiếng Việt:
(1) TS BS Phạm Đăng Diệu (2007), Atlas giải phẫu người Netter, phiên bản
tiếng Việt, “Thần kinh mặt – sơ đồ”, trang 131
(2) TS BS Phạm Đăng Diệu (2006), Giải phẫu đầu – mặt – cổ, “12 đôi dây thần
kinh sọ: thần kinh mặt”, trang 400-407
(3) GS BS Nguyễn Quang Quyền (2006), Bài giảng Giải phẫu học, tập 1, “Các
dây thần kinh sọ”, trang 466-470
(4) PGS TS BS Nhan Trừng Sơn (2011), Tai mũi họng, quyển 1, “Liệt dây thần
kinh VII do tai, trang 470-473
Tiếng Anh:
(5) Azizzadeh, B., Facial nerve (CN VII) anatomy & function Được lấy về từ:
http://www.facialparalysisinstitute.com/2/facial_nerve_anatomy_function.html
(6) Davis RA, Anson BJ, Puddinger JM, Kurth RE (1956), Surgical anatomy of
the facial nerve and parotid gland based upon a study of 350 cervical facial halves, Surg Gynecol Obstet, trang 385.
(7) Diamond, C và I Frew (1979), The facial nerve, Oxford University Press,
Oxford
(8) Jeffrey D Tiemstra và Nandini Khatkhate (2007), Bell's Palsy: Diagnosis and
Management Được lấy về từ: http://www.aafp.org/afp/2007/1001/p997.html
(9) Harold Ellis (2006), Clinically Anatomy, 11th Edition, “The facial nerve
(VII)”, trang 375-377