SỰ THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM VỀ CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐẾN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI III VÀ IV Nội dung bài viết trình bày nội dung căn bản Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Đồng thời trình bày những chuyển biến, thay đổi tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Đảng Lao động Việt Nam qua Nghị quyết Đại hội III và Đại hội IV, làm sáng tỏ tư duy của các Nghị quyết này và đưa ra những nhận xét về con đường cách mạng Việt Nam 1 Đặt vấn đề Chính cương của Đ.
Trang 1SỰ THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM VỀ CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT
NAM ĐẾN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI III VÀ IV
Nội dung bài viết trình bày nội dung căn bản Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Đồng thời trình bày những chuyển biến, thay đổi tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Đảng Lao động Việt Nam qua Nghị quyết Đại hội III và Đại hội IV, làm sáng tỏ tư duy của các Nghị quyết này và đưa ra những nhận xét về con đường cách mạng Việt Nam
1 Đặt vấn đề
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam là văn kiện hoàn thiện nhất về lý luận con đường cách mạng Việt Nam, văn kiện này phản ánh sâu sắc tư duy và quan điểm của Hồ Chí Minh, đã phản ánh đúng lại những quan điểm mà Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt mà Người đã từng viết vào đầu năm 1930 Văn kiện này đã hoạch định đầy
đủ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải trãi qua ba giai đoạn chủ yếu
Tuy nhiên đến văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III và lần thứ IV, những luận điểm chính trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam không còn được phản ánh đúng, đầy đủ và cụ thể nữa Thay vào đó là lý luận về chuyên chính vô sản và các hình thức chuyên chính vô sản nhằm cải tạo đưa miền Bắc Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội (Đại hội III) và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội IV)
Để làm rõ vì sao lại có sự chuyển biến như vậy về con đường cách mạng Việt Nam, cho nên bài viết này sẽ tập trung làm rõ nguyên nhân của sự chuyển biến đó và nó phản ánh như thế nào đến con đường cách mạng Việt Nam
Trang 22 Nội dung cơ bản của Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được xem là bản Cương lĩnh hoàn chỉnh nhất về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng Lao động Việt Nam Giống như Cương lĩnh chính trị đầu tiên
và Luận cương chính trị, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam cũng đầy đủ các bộ phận cấu thành gồm có cương lĩnh lý luận và cương lĩnh thực tiễn của Đảng
- Cương lĩnh lý luận
Nói đến đến nền tảng lý luận: Trong bản Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, nền tảng lý luận không được đề cập đến Thay vào
đó, Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam và Điều lệ của Đảng lao động Việt Nam đã đề cập đến Và lần đầu tiên, trong Cương lĩnh chính trị của Đảng đề cập trực tiếp đến nền tảng lý luận của Đảng
Trong Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam có viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin” 1 Đồng thời, trong Điều lệ của Đảng có viết: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Ăng-ghen - Lê-nin - Xtalin
và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”2
Có thể nói, ngay khi cách mạng Việt Nam bắt nhịp vào cách mạng quốc
tế, bắt nhịp vào hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Xu hướng tả đã bắt đầu xâm nhập vào Đảng, và ngay khi thành lập Đảng Lao động Việt Nam, xu hướng đó bắt đầu hiện rõ ngay cả trong Cương lĩnh chính trị của Đảng, trước hết từ nền tảng tư tưởng của Đảng
Nói đến tính chất và nhiệm vụ: được Chính cương của Đảng Lao
động Việt Nam đề cập ở chương II: Xã hội Việt Nam và cách mạng Việt
1 Văn kiện Đại hội Đảng, Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 21-4-2018
2
Văn kiện Đại hội Đảng, Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 18-4-2018
Trang 3Nam Trong đó, mục “Xã hội Việt Nam” đề cập chủ yếu tới tính chất xã hội của Việt Nam Trong đó, xã hội Việt Nam thực chất là xã hội thuộc địa nửa phong kiến Song nhưng lại có đến 3 tính chất, bên cạnh tính nửa thuộc địa, nửa phong kiến và tính dân chủ nhân dân (vùng giải phóng) Trong đấy, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa tính dân chủ nhân dân với tính thuộc địa - tức là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược và tay sai; mục “Cách mạng Việt Nam” đề cập đến nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Trong đó Đảng Lao động Việt Nam đặt nhiệm vụ căn bản nhất của cách mạng là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc, tới đó là đánh phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân Trong đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chính trước mắt Các bộ phận nhiệm vụ có mối quan hệ khăng khít với nhau
Có thể nói đây cũng là tính mới, tính phát triển trong vấn đề lý luận cách mạng của Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đặt những nhiệm vụ cách mạng là riêng biệt, trong đó xem cách mạng giải phóng dân tộc để giành độc lập tự do cho dân tộc nằm riêng với cách mạng thổ địa, nhưng đó là Đảng ta vừa mới ra đời, lại trong điều kiện thân phận của người mất nước, đặt ngọn gỉai phóng dân tộc lên cao nhất và riêng biệt là để giành độc lập Nhưng ngược lại, trong Chính cương của Đảng Lao động, nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn được đặt lên hàng đầu, song lại xem cả ba nhiệm vụ cách đều
có mối liên hệ mật thiết với nhau chứ không riêng lẻ Lý giải điều đó có thể hiểu, trước hết vì Chính cương ra đời khi dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập sau Cách mạng tháng Tám, thân phận là Đảng lãnh đạo của một nước thực tế đã độc lập; chúng ta đã có Chính phủ đại diện cho nhân dân và tiến hành tổ chức kháng chiến; Đảng ta đã có một bề dày kinh
Trang 4nghiệm và có được sự hậu thuẫn từ các nước xã hội chủ nghĩa Cho nên,
sự thay đổi trong Chính cương Đảng Lao động Việt Nam so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là do sự xuất phát từ sự thay đổi tương quan giữa thế và lực của Đảng, sự phát triển cảu các điều kiện lịch sử, và đặc điểm lịch sử bấy giờ
- Cương lĩnh thực tiễn
Cương lĩnh thực tiễn tức là nói đến những chỉ đạo mang tính thực tiễn nhằm cụ thể hóa những vấn đề căn bản của cương lĩnh lý luận Trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng ta đã trình bày đầy đủ
và chi tiết về cương lĩnh thực tiễn của mình
Những nội dung căn bản của cương lĩnh thực tiễn thể hiện trong chương III: Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam Nội dung chủ yếu của chính sách được Đảng ta đề cập đến: kháng chiến; chính quyền nhân dân; Mặt trận dân tộc thống nhất; Quân đội; kinh tế tài chính; Cải cách ruộng đất; Văn hóa giáo dục; Tôn giáo; Chính sách dân tộc; Vùng tạm chiếm; đối với Lào và Campuchia; ngoại kiều; cho nền hòa bình và dân chủ thế giới; thi đua ái quốc
Đồng thời, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam cũng bảo đảm đầy đủ được cả 3 đặc điểm của cương lĩnh thực tiễn: phù hợp tính
giai đoạn, đáp ứng tính thời đại ; có tính hệ thống ; có tính khả thi.
Nói về phù hợp tính giai đoạn, đáp ứng tính thời đại Con đường
phát triển cách mạng đã được Đảng Lao động Việt Nam đề cập rất cụ thể
trong Chính cương của mình Đảng ta viết: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam hiện nay là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập
và thống nhất thực sự cho dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân
Trang 5dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”3 Có thể thấy, so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Lao động Việt Nam đã phát triển toàn diện về phương hướng chính trị cho cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ Trong đó, xem con đường đi tới chủ nghĩa xã hội là con đường nền tảng lâu dài, đó cũng là tính thời đại của Đảng ta Nhưng đồng thời chia con đường cách mạng Việt Nam thành nhiều giai đoạn: trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc nhằm làm cho nước nhà thực sự độc lập và thống nhất; thực hành cách mạng ruộng đất và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xem hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ; đặt vấn đề xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội (thay cho tiến tới chủ nghĩa xã hội như trước đây), đảm bảo cho sự nhận thức của Đảng về con đường từng bước
để đi lên chủ nghĩa xã hội Trong đó con đường cách mạng này phải trãi qua từng bước từng bước, không phải là con đường cách mạng liên tục không ngừng như Luận cương chính trị đề cập Điều trên đây cũng cho thấy các nhiệm vụ cách mạng mang tính phù hợp với giai đoạn phát triển cách mạng
Nói về tính hệ thống Có thể thấy toàn bộ Luận cương chính trị của
Đảng Cộng sản Đông Dương là một hệ thống lý luận thống nhất, đầy đủ, toàn diện Các văn kiện tuy độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết, sâu sắc lẫn nhau, văn kiện này phản ánh văn kiện kia, văn kiện này là sự cụ thể hóa của văn kiện kia
Nói về tính khả thi Có thể nói, Chính cương của Đảng Lao động
Việt Nam đã phát triển khá đầy đủ và căn bản lý luận về con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cho nhân dân Việt Nam Việc xác định tính chất xã hội và nhiệm vụ chính xác tạo nên những điều kiện thuận lợi
để Đảng ta phát triển Đảng và tổ chức quân đội nhân dân từng bước từng
3
Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018.
Trang 6bước lớn mạnh để đi đến sự thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch
sử, giành lấy thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp
3 Những điểm thay đổi của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ III
Năm 1954, sau Hiệp định Geneva thì Miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng Từ Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khóa 2 năm
1956, Đảng ta đã đặt vấn đề chuyển dần Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội Cũng kể từ lúc này Đảng ta đã dần xác định lại con đường cách mạng
ở Việt Nam thông quá quá trình khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân ở Miền Bắc Những chuyển biến tư tưởng của Đảng trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ III về con đường cách mạng của cách mạng Việt Nam là kết quả của sự ảnh hưởng xu hướng tả trong phong trào cách mạng quốc tế vào Việt Nam, cũng như là sự nhận thức chưa đúng đắn về khả năng phát triển thực tế của cách mạng Việt Nam
- Thay đổi nhận thức về đặc điểm xã hội
Sau Hiệp định Geneva tính chất xã hội Việt Nam có mặc dù chưa thoát khỏi tình trạng nửa phong kiến nửa thuộc địa nhưng đã có những thay đổi đáng kể lớn Đặc biệt nhất là việc phân chia làm 2 vùng tập kết được ngăn cách bởi vĩ tuyến 17 đồng thời đã làm xuất hiện tình trạng Việt Nam bị phân chia làm 2 miền Nam Bắc
Miền Bắc được giải phóng hoàn toàn có tính chất dân chủ nhân dân,
có tính chất nửa phong kiến, trong đấy mâu thuẫn chủ yếu là chế độ dân chủ nhân dân đối với tàn tích của chế độ phong kiến Từ năm 1956 cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Miền Bắc tiến hành đẩy nhanh việc phát triển chế độ dân chủ nhân dân, chuyển dần sang việc tạo những tiền đề cơ bản để tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhằm đưa miền Bắc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa Cho đến Đại hội toàn quốc lần thứ
Trang 7III của Đảng ta, tính chất xã hội miền Bắc đã khác hẳn, mặc dù vẫn còn lạc hậu và sót lại chút ít tàn dư phong kiến, song bộ mặt căn bản của miền Bắc đã được tổ chức tạo thành tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa như4: hoàn thành cải cách ruộng đất, xóa sổ giai cấp địa chủ, khôi phục và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong kinh tế, kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân để thực hiện nhiệm vụ chuyên chính vô sản
Còn Miền Nam vẫn đang chịu sự quản lý của Pháp để chờ Tổng
tuyển cử hiệp thương chính trị Song, ngay khi Pháp rút đi, thì đế quốc
Mỹ nhảy vào Miền Nam nhằm thay chân Pháp thiết lập chế độ thuộc địa kiểu mới ở Miền Nam Việt Nam bằng cách lập nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Tính chất xã hội Miền Nam vẫn là tính chất nửa thuộc địa, nửa phong kiến, trong đấy mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa nhân dân Miền Nam đối với đế quốc Mỹ và tay sai5
Những chuyển biến xã hội Việt Nam từ 1954-1960 đã làm cho những đặc điểm xã hội Việt Nam thay đổi nhanh chóng, phức tạp: Miền Bắc đã có những đặc điểm cơ bản để tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa; trong khi đấy Miền Nam tính thuộc địa, nửa phong kiến chưa chấm dứt
Đây cũng chính là điểm thay đổi đáng kể so với nhận định về đặc điểm
xã hội Việt Nam trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam.
- Thay đổi nhận thức về đặc điểm cách mạng
Cùng với sự thay đổi của đặc điểm xã hội Việt Nam, nhận thức về đặc điểm cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam cũng đã có sự thay đổi căn bản Về đặc điểm cách mạng, Đảng Lao động Việt Nam vẫn nhất quán phương hướng trước đây đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng vào năm 1951: giai đoạn thứ nhất, nhiệm
4 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018
5
Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018
Trang 8vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
Ở Miền Bắc, sau khi được giải phóng, cách mạng giải phóng dân
tộc đã hoàn toàn thắng lợi, nhiệm vụ giai đoạn thứ nhất đã hoàn thành thắng lợi Đáng lẽ, miền Bắc bước vào giai đoạn thứ hai, thời kỳ xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trong một khoảng thời gian dài để tạo những điều kiện tốt nhất để bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, Đảng ta tại Đại hội III lại có nhận định khác biệt so với Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, Nghị quyết Đai hội đại biểu toàn quốc lần III có viết: “Từ khi hòa bình được lập lại, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đại hội nhận định rằng: miền Bắc nước ta có đủ điều kiện vượt qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Luận điểm
ấy được đề ra trong bản Luận cương chính trị nǎm 1930, ngày nay đang được thực tiễn chứng minh là đúng”6
Sự nghiệp xây dựng chế độ dân chủ nhân dân được rút ngắn gọn lại trong phạm vi thời kỳ khôi phục và phát triển chế độ kinh tế dân chủ nhân dân trong giai đoạn 1955 - 1957 Kể từ 1958, khi Đảng ta bắt đầu triển khai thực hiện chiến lược kinh tế 3 năm 1958-1960, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng việc sử dụng các biện pháp chuyên chính vô sản của Nhà nước dân chủ nhân dân cải tạo toàn bộ nền kinh tế đất nước nhằm đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội
Việc xuất hiện sự “chệch” hướng nhận thức về đặc điểm cách mạng Việt Nam có thể xuất phát từ sự ảnh hưởng những tư tưởng tả theo con
6
Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018
Trang 9đường của “thời kỳ quá độ” ở Trung Quốc của Mao Trạch Đông Trung Quốc cũng từ bỏ lý thuyết phát triển chế độ dân chủ mới vào năm 1953
và đưa ra đường lối mới về thời kỳ quá độ, đưa Trung Quốc trong vòng
20 năm đưa Trung Quốc tiến lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nước nông nghiệp nông thôn nghèo nàn lạc hậu
Ở miền Bắc Việt Nam, luận điểm này cũng giống tương tự, việc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân cũng đã bị xóa bỏ, và xem rằng việc phục hồi và phát triển nền kinh tế quốc dân từ 1955 - 1960 là một bộ phận của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Xem thực chất của vấn đề phát triển kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là biến chế độ sở hữu kinh tế
xã hội chủ nghĩa trở thành nền tảng kinh tế duy nhất trong xã hội Nghị
quyết Đại hội lần thứ III viết: “Muốn đạt mục tiêu ấy, phải sử dụng chính
quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản
để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, vǎn hóa và kỹ thuật; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, vǎn hóa và khoa học tiên tiến”7.
Tại Đại Hội III, Đảng ta cũng đã làm rõ chặng đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội : “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình cải biến
cách mạng về mọi mặt, nhằm đưa miền Bắc nước ta từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ nền sản xuất
7
Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018
Trang 10nhỏ tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu tiến lên một nền kinh tế cân đối và hiện đại” 8
Như vậy, sự chuyển biến tư tưởng của Đảng ta tại Đại hội III có thể đúc kết như sau:
Thứ nhất, xem giai đoạn thứ hai, giai đoạn phát triển chế độ dân chủ
nhân dân không phải là một giai đoạn độc lập tất yếu; không xem giai đoạn phát triển chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn chuẩn bị cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà tiến lên quá độ trực tiếp
Thứ hai, trật tự kinh tế và xã hội không phải là cơ cấu ổn định để
phát triển từng bước, mà là một trận tự kinh tế và xã hội chuyển động liên tục, trong đó thu hẹp dần nhân tố tư bản chủ nghĩa, mở rộng nhân tố xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, công nghiệp hóa không còn được xem là điều kiện để bước
vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà xem là điều kiện để bước vào
xã hội xã hội chủ nghĩa Cho nên, công nghiệp hóa phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Sự thay đổi này có thể cho thấy trong quá trình giải quyết về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng Lao động Việt Nam đã giải quyết vấn đề dựa trên cơ trên cơ sở cải tiến không ngừng quan hệ sản xuất
Ở Miền Nam, khi đế quốc Mỹ nhảy vào tiếp tục duy trì ách xâm
lược thì tính chất xã hội vẫn không thay đổi nước ta vẫn là thuộc địa nửa phong kiến, chính vì thế đặc điểm cách mạng ở Miền Nam vẫn là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc
và lật đổ bọn tay sai Đảng ta xem vấn đề cách mạng Miền Nam giống
8
Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018