1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCHTW khóa x về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HDH đất nước

22 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 35,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài giữa kỳ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HDH đất nước ngày (682008) đánh giá một số hạn chế của đội ngũ trí thức hiện nay như sau “Một bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và.

Trang 1

Đề tài giữa kỳ: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khóa X về xây dựng

đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HDH đất nước ngày (6/8/2008) đánh

giá một số hạn chế của đội ngũ trí thức hiện nay như sau: “Một bộ phận trí thức, kể

cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác”.

Hãy bình luận về nhận định trên đây, bằng những sự kiện lịch sử liên quan đếntrí thức trong thời kỳ Đổi mới

Bài làm Tóm tắt

Bài viết trình bày những quan điểm, suy tư, đánh giá cá nhân của nhóm vềvấn đề trí thức và sự nhận định đối với trí thức của Đảng Cộng sản Việt Nam quavăn kiện Nghị quyết Hội nghị lần 7 BCHTW khóa X về xây dựng trí thức trongthời kỳ đẩy mạnh CNH - HDH đất nước ngày (6/8/2008) Đồng thời cũng trình bàynhững suy nghĩ và đề ra những cách thức đối xử đối với trí thức hiện nay

Trang 2

1 Trí thức và đặc trưng trí thức thời hiện đại ở nước ta.

1.1 Trí thức

Đề cập đến thuật ngữ trí thức bắt nguồn từ cách gọi “tầng lớp trí thức” mộtthuật ngữ xuất hiện đầu tiên ở nước Nga thế kỷ 19, sau đó đến Công xã Pari (1871)thì thuật ngữ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp Các thuật ngữ nàyđều đề cập đến những con người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn cao,đồng thời là những người có mối quan tâm, có chính kiến của mình trước các vấn

đề chính trị - xã hội

Các Mác quan niệm rằng trí thức phải là những người phải có mối quan tâm

và chính kiến đối với các vấn đề xã hội “Trí thức là người nói sự thật, phê bình

không nhân nhượng về những gì hiện hữu Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”1 Cái “những gì đang hiện hữu” là toàn bộ những thực tế trong xã

hội, chứ không phải cái gì hợp lý thì khen, không hợp lý thì im lặng bỏ qua Ngườitrí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bìnhtrước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn

Như vậy, có thể hiểu nôm na rằng, tầng lớp trí thức theo góc độ nghiên cứucủa các học giả phương Tây có thể hiểu là những người: Tiếp thu và truyền bá trithức dưới dạng văn hóa và khoa học; Sáng tạo ra tri thức mới từ nguồn văn hóa vàkhoa học ngày càng được tích lũy; Quan tâm và có chính kiến của mình đối với cácbiến động của xã hội và đề xuất các biện pháp giải quyết dựa trên tinh thần tráchnhiệm cá nhân; Dự báo và định hướng cho dư luận xã hội

Các quan điểm này khá phổ biến ở các nước phương Tây, nhưng đối với nềnvăn minh phương Đông nói chung, của đất nước ta nói riêng thì còn nhiều mới mẻ

Trí thức ở nước ta từ xưa đến nay có thể được hiểu nôm na là “người có học”, tuy

1 GS Tương Lai, Trao đổi thêm về việc nên có Ngày trí thức Việt Nam, báo Tuổi trẻ, 7/2009.

Trang 3

nhiên cách hiểu này không gắn với “có chính kiến của mình trước các vấn đề

chính trị-xã hội” Sau khi giành độc lập vào năm 939, qua các triều đại phong kiến

ngày càng gắn với Nho giáo, nó đã trở thành một hệ tư tưởng xã hội của chế độ

phong kiến “Người có học” lúc này được gọi là nho sĩ, những người tinh thông tri

thức trong hệ thống giáo dục về Nho giáo, các nho sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi sẽđược làm quan trong triều đình phong kiến, kẻ rớt về quê ôn tập chờ ngày thi lạihoặc chuyển sang dạy học làm kế sinh nhai

Hệ thống quan lại thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam đã tạo nên sự lệthuộc của tầng lớp trí thức nho học vào hệ thống quyền lực nhà nước lúc bấy giờ

Dù giỏi cỡ nào, thì tầng lớp trí thức nho học này chỉ mang một nhiệm vụ duy nhất

đó là phò tá vua – giúp vua các việc triều chính Tầng lớp trí thức này không mangbản chất đúng nghĩa của trí thức

Đến giữa thế kỷ 19, cuộc xâm lược của thực dân Pháp mang theo sự ảnhhưởng của nền văn minh phương Tây ồ ạt vào nước ta Tầng lớp nho sĩ đã bắt đầu

có sự phân hóa sâu sắc và xuất hiện các nhóm sĩ phu tiến bộ - có chính kiến riêngcủa bản thân mình trước thời cuộc và vận mệnh của dân tộc Đây là tiền thân củanhững nhóm trí thức đúng nghĩa của dân tộc ta vào đầu thế kỷ 20, những nhân vậtchịu sự phân hóa này có thể kể đến là: Vũ Tông Phan, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn

Lộ Trạch, Nguyễn Tư Giản, Phạm Phú Thứ,… Đây là những sĩ phu có đầu óc canhtân đất nước, là nguồn gốc chủ yếu cho các phong trào đấu tranh dân tộc theo xuhướng bạo lực như Cần Vương, Đông Du; hay tiến hành cải cách văn hóa như DuyTân, Đông Kinh nghĩa thục

Trang 4

Bước vào đầu thế kỷ 20, cùng với chính sách khai thác thuộc địa cũng nhưnhững biến cố lịch sử trên phạm vi thế giới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản

đã xâm nhập vào xã hội Việt Nam theo nhiều con đường khác nhau Trong bốicảnh đấy, phong trào Duy Tân và Đông kinh nghĩa thục đã tập hợp cho mình mộtđội ngũ đông đảo các trí thức – đúng nghĩa, là tầng lớp tinh hoa của dân tộc trongbối cảnh phức tạp ấy: Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Đào Nguyên Phổ,Trương Vĩnh Ký, Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố,…Đấy là đội ngũ trí thức – đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc ta

Khác với tầng lớp “người có học” trong lịch sử chế độ phong kiến, tầng lớp trí

thức nước ta lúc bấy giờ trong chịu cảnh nô lệ đã có – thái độ chính kiến rất rõ ràngtrước thời cuộc và vận mệnh lịch sử của dân tộc ta Cái nghề làm quan không cònđược coi trọng nữa, giờ đây họ có thể làm bất cứ thứ nghề gì để có thể kiếm ăn,sống cuộc sống tự do tự tại, họ có thể là: bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn,nghệ sĩ,…Những phần tử ưu tú đó là tầng lớp trí thức mới – đúng nghĩa, phần đa

họ là những người con người có uy tín, nhiều người đóng vai trò nòng cốt trongcác tổ chức công khai, bán công khai trong cuộc vận động đấu tranh giành độc lập

tự do, quyền dân sinh, dân chủ cho dân tộc

Khi Cách mạng tháng Tám thành công 1945, chính phủ của Hồ Chủ tịch đãquy tụ bên mình một đội ngũ trí thức có trình độ học vấn cao, đầy uy tín, và cóchính kiến riêng của mình Những tấm gương như Huỳnh Thúc Kháng, NguyễnVăn Tố, Phạm Khắc Hòe, Vũ Đình Hòe, Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, TônThất Tùng, Trần Đại Nghĩa, … luôn là các tấm gương sáng ngời về người trí thức

1.2 Đặc trưng đội ngũ trí thức thời hiện đại

Gắn liền với hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũngnhư các biến động của thời cuộc, của các nhân tố ảnh hưởng từ bên ngoài vào nước

ta, trí thức Việt Nam trong thời kỳ hiện đại đã có những phát triển tương đối đặc

Trang 5

biệt, nhất là giai đoạn kể từ năm 1950-1965 khi ý thức đấu tranh giai cấp được tiêmnhiễm phương pháp cách mạng của Maoist vào Việt Nam qua các phong trào chỉnhhuấn, cải cách ruộng đất, chống chủ nghĩa xét lại, …

Người trí thức lúc này không còn đúng nghĩa là trí thức theo lời K Marx nữa,tầng lớp trí thức bị đè nặng bởi tư tưởng đấu tranh giai cấp bị tiêm nhiễm phươngpháp có phần bạo lực của chủ nghĩa Mao, có khi người trí thức (cương vị lãnh đạo)rơi vào trạng thái cực đoan hoặc chính họ (người trí thức không làm lãnh đạo) lànạn nhân Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số người trí thức XHCN – đúng nghĩanhư Trần Văn Giàu, mặc dù là trí thức XHCN, nhưng rõ ràng nội lực của một tríthức sâu thẩm trong con người ông mạnh mẽ hơn bao giờ hết, điều đó làm chochúng ta thấy một cách xử trí rất tuyệt vời của một người trí thức – một người cộngsản có chính kiến rõ rệt và có thái độ quyết đoán với chính kiến của mình trên tìnhthần đấu tranh hết mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng chế

độ xã hội chủ nghĩa

Nếu như trước 1945, hầu hết trí thức được định nghĩa là những người có trình

độ học vấn từ cấp trung học, tiểu học trở lên thì càng ngày càng về sau “trí thức

XHCN” được coi là trí thức khi họ có các bằng cấp từ cao đẳng, đại học trở lên.

Lực lượng này được đào tạo một cách đông đảo và phần lớn nằm trong diện nhànước quản lý, trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, rồi đến các lực lượng vũtrang, các bệnh viện, trường học, các tổ chức xã hội, …

Nét đặc trưng của tầng lớp “trí thức XHCN” bên cạnh những tính tích cực

như: Trung thành với tổ quốc, với Đảng, với chế độ XHCN, với nhân dân; cần cù,thông minh, sáng tạo; không ngại khó khăn gian khổ;… Tuy nhiên trí thức tronggiai đoạn đất nước lâm vào khủng hoảng không phát huy được đúng các chức năngvốn có của nó, những đặc trưng có tính tiêu cực có thể kể đến như2:

2 GS Chu Hảo, Sỹ phu, trí thức và tầng lớp “có học” xưa và nay, Nxb Tri Thức và Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh

Trang 6

- Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.

- Tính cơ hội, vụ lợi, thực dụng trong cách hành xử.

- Ham danh lợi, chức vụ, dễ thõa hiệp.

- Thiết tinh thần hợp tác và đặt nặng hơn thua, thiếu bao dung.

Nguyên nhân của việc phát sinh những đặc trưng có tính tiêu cực như thế là

do sự mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng ở trong Đảng, trong hệ thống quyền lựccủa nước ta, rồi sau đó đến mất dân chủ trong xã hội Sự du nhập của tư tưởng vàphương pháp cách mạng của chủ nghĩa Mao những năm 50 của thế kỷ trước đã có

một tác động không nhỏ đến đông đảo “trí thức XHCN” của chúng ta lúc bấy giờ,

mãi đến 1986 thì phần nào công cuộc Đổi mới đã cởi trói cho tầng lớp trí thức, tuynhiên những diễn biến bất lợi của tình hình thế giới khi Liên Xô và các nướcXHCN lâm vào thoái trào đã làm chủ trương này rơi vào chủ đề nhạy cảm và mãiđến Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nghị quyết 27-NQ/TW

ngày 6 tháng 8 năm 2008 “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới nhắc lại Tuy nhiên, việc đề cập đến

lần này cũng chưa phần nào thõa mãn cho sự “cởi trói” cho trí thức nước nhà

Trang 7

2 Nhận định về đoạn trích […] trong Nghị quyết 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

2.1 Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức của Đảng hiện nay.

Xác định tầm quan trọng của khoa học và công nghệ là động lực của sựnghiệp Đổi mới, trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội theo định hướngXHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã có những nhận thức mới về vị trí, vaitrò của những người trí thức Trong Nghị quyết Đại hội VI (1986) đến nay, đặc biệt

là Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (1991), các Nghị quyết Đại hội VII (1991), Đạihội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) và Nghị quyết Hội nghịBCHTW lần thứ hai (khóa VIII), lần thứ bảy (khóa X) đã thể hiện tinh thần đổimới trong cách nhìn nhận, đánh giá đối với trí thức và những vấn đề liên quan đếnkhoa học, kỹ thuật và công nghệ

Quan điểm hiện nay của Đảng đối với trí thức là coi đây là vốn trí tuệ của dântộc, là động lực trong công cuộc phát triển đất nước, trong sự nghiệp CNH-HDH.Nhiều văn kiện Đảng đã khẳng định: trí thức là lực lượng tiêu biểu cho trình độ trítuệ của Đảng, của Nhà nước và của dân tộc

Quan điểm đổi mới của Đảng về trí thức được biểu hiện rõ trong Cương lĩnhxây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thông quatại Đại hội VII (6-1991):

“Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên

minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng

Trang 8

do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”3 Quan điểm này được thể chế hóa thànhđiều 2 Hiến pháp 1992.

Vấn đề liên minh giai cấp công nhân, nông dân với trí thức vốn đã được đềcập trong nhiều văn kiện trước đây Tuy nhiên, đặt trí thức là một chủ thể nganghàng với công – nông, là yếu tố cấu thành nền tảng của chế độ XHCN thì đây làlần đầu tiên Đội ngũ trí thức ngày càng có vị trí và vai trò to lớn là do những đòihỏi của công cuộc Đổi mới, do sự gắn kết giữa trí thức với các tầng lớp lao độngkhác, do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnhmẽ

Đồng thời Đảng cũng coi trọng việc trí thức hóa công – nông, văn kiện Đại

hội VII cũng nhấn mạnh: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vai trò của

trí thức đã quan trọng, trong xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, vai trò của giới trí thức ngày càng quan trọng Giai công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân công – nông không nâng cao kiến thức, không dần được trí thức hóa thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội được”4

Quan điểm này có ảnh hưởng lớn trong việc tạo lập các chính sách của Đảng

Vì thế trong hai Hội nghị lần thứ sáu và thứ bảy BCHTW khóa X, Đảng đã liên

tiếp ban hành ba nghị quyết: Nghị quyết 20-NQ/TW 28/1/2008 “về tiếp tục xây

dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết 26-NQ/TW “về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” và Nghị

quyết 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.11

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.70

Trang 9

Nghị quyết số 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” là nghị quyết đầu tiên nhấn mạnhđến tầm quan trọng của trí thức và vai trò ngang hàng của trí thức như công nhân,nông dân trong thực tiễn xã hội Nghị quyết đã xác định ba quan điểm chỉ đạo vềđội ngũ trí thức như sau:

- Về vị trí, vai trò của trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức

Đảng nhấn mạnh rằng trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quantrọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpquốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh, đồng thời góp phầnnâng cao trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạocủa Đảng và hoạt động của hệ thống chính trị

- Về trách nhiệm xây dựng đội ngũ trí thức

Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của xã hội,trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định Trí thức cũng

có trách nhiệm trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu, nâng cao phẩmchất và năng lực chính trị, đạo đức,

- Về phương hướng và xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức

Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt độngnghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ văn minh Tạo môi trường và điều kiện hoạt động nghề nghiệp chotrí thức Trọng dụng trí thức và có chính sách đúng đắn

2.2 Nhận định đoạn trích […] trong Nghị quyết 27-NQ/TW.

Trong phần đánh giá về những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của trí thứctrong Nghị quyết 27-NQ/TW, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có một nhận xét:

Trang 10

“Một bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e

ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng,

có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu chí khí và hoài bão Nhiều trí thức trẻ có tâm trạng thiếu phấn khởi, chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn.”5

Có thể thấy, đoạn trích của Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh đến một số vấn

đề về trí thức như: trách nhiệm của trí thức, phẩm chất của trí thức, môi trườnghoạt động của trí thức và đạo đức của trí thức

- Về trách nhiệm của trí thức

Trí thức nước ta hiện nay chưa làm tròn bổn phận của bản thân mình, trong đó

họ chưa nhận thức được đúng đắn về vai trò phản biện xã hội của tầng lớp trí thức– một chức năng quan trọng của trí thức Biểu hiện e ngại, né tránh những vấn đềliên quan đến chính trị, những vấn đề có sự nhạy cảm, những vấn đề không có lợi

là những biểu hiện của việc thiếu trách nhiệm của người trí thức

Đặt trong hoàn cảnh đất nước găp một vài sự kiện, vấn đề nghiêm trọng có thểảnh hưởng đến an ninh quốc gia, hoặc là các sự kiện gây xôn xao dư luận thì một

bộ phận trí thức không tham gia vào công tác phản biện, hoặc bao biện bảo vệnhững lý lẽ sai đó Ví dụ đơn cử, vụ boxit Tây Nguyên – Ngay từ khi đề án này

được Chính phủ ký quyết định 167 “về phê dyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò,

khai thác, chế biến và sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xem xét đến năm 2025” ngày 1/11/2007 thì dư luận xã hội, một số trí thức đã lên tiếng phản

đối dự án này vì có thể gây nên nhiều hiểm họa khôn lường cho đất nước và dân

5 Nghị quyết Hội nghị lần 7 BCHTW số 27-NQ/TW ngày 6/8/2008 “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Trang 11

tộc: trước hết là hiểm họa ô nhiễm môi trường (sự kiện vỡ đê hồ thải quặng dự ánTân Rai làm đổ 5.000m3 nước và bùn đỏ 8/10/2014; việc vỡ đường ống dẫn cóchứa nước súc độc hại của nhà máy alumin Tân Rai chảy ra ngoài 13/2/2016), ảnhhưởng an ninh quốc gia (hàng ngàn công nhân Trung Quốc đến sống và làm việctại địa bàn), hiệu quả kinh tế kém và gây lỗ (mức thiệt hại hiện nay là 40 triệu $/năm), ảnh hưởng sức khỏe và công ăn việc làm của nhân dân vùng (bụi bô xít pháttán, bùn đỏ chảy vào sông, dân nhường đất trồng cà phê làm dự án), tác động đếnnguồn điện năng (Nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 chỉ cung cấp điện cho mỗi dự án

bô xít)

Ngày 5/10/2010, sự kiện vỡ hồ chứa bùn đỏ Hungary đã gây nên những thảmhọa khôn lường đối với quốc gia này Khi bị chất vấn về khả năng thảm họa nếu hồchứa quặng ở Tây Nguyên cũng bị vỡ như ở Hungary, đại diện cho Tập đoàn Than-

khoáng sản Việt Nam, những người lãnh đạo đã bao biện “Ta theo mô hình của

Brazil và Úc chứ không theo mô hình Hungary”, trong khi trên thực tế công nghệ

xử lý của Việt Nam hoàn toàn giống công nghệ đang triển khai ở Hungary Nhữngngười trí thức đại diện cho cơ quan công quyền như lãnh đạo Tập đoàn Than –khoáng sản Việt Nam là điển hình cho việc yếu kém phản biện xã hội, đồng thờikhông làm tròn bổn phận của người trí thức, bao che và bao biện cho những nguy

cơ đang hiện hữu của dự án, thiếu trách nhiệm trong công việc và tinh thần tráchcủa bản thân đối với sức khỏe của nhân dân, an ninh quốc gia và ngành nghề củabản thân Thực tế là các sự kiện vỡ đê hồ thải quặng dự án Tân Rai làm đổ5.000m3 nước và bùn đỏ 8/10/2014; việc vỡ đường ống dẫn có chứa nước súc độchại của nhà máy alumin Tân Rai chảy ra ngoài 13/2/2016 đã minh chứng cho việctất trách và thiếu trách nhiệm của một bộ phận trí thức, hiện, đã, đang là nhữngngười tham gia quản lý các dự án này

Ngày đăng: 21/04/2022, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w