1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG HƯỚNG DẪN ÔN THI TUYỂN SINH CAO HỌC MÔN THI: NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ KINH TẾ

54 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Hướng Dẫn Ôn Thi Tuyển Sinh Cao Học Môn Thi: Nguyên Lý Quản Lý Kinh Tế
Tác giả Đoàn Phúc Thanh
Người hướng dẫn PGS, TS. Hà Văn Sự
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại tài liệu ôn tập
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐỀ CƯƠNG HƯỚNG DẪN ÔN THI TUYỂN SINH CAO HỌC MÔN THI NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ KINH TẾ 1 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1 1 Mục đích Hệ thống hóa các nội dung của môn học Nguyên lý quản lý kinh tế trình độ đại học làm cơ sở để thí sinh ôn tập và thi tuyển sinh cao học đối với môn học này Là cơ sở để đánh giá kết quả thi tuyển sinh cao học chuyên ngành Quản lý kinh.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐỀ CƯƠNG HƯỚNG DẪN ÔN THI TUYỂN SINH CAO HỌC

MÔN THI: NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ KINH TẾ

1 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

- Nắm vững kiến thức cơ bản của môn học Nguyên lý quản lý kinh tế

- Trên cơ sở những kiến thức của môn học, người học biết liên hệ vào thực tiễn (một số lĩnh vực, khâu, cấp) quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay

2 NHỮNG NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN TẬP TRUNG ÔN TẬP

2.1 Bản chất và vai trò của quản lý kinh tế

- Bản chất của quản lý kinh tế (Khái niệm quản lý kinh tế; Mục tiêu và động lực trong quản lý kinh tế; Đặc điểm của quản lý kinh tế)

- Vai trò của quản lý kinh tế (Vai trò định hướng và điều tiết các hoạt động kinh tế; Vai trò đảm bảo tăng trưởng và phát triển của hệ thống kinh tế và Vai trò tạo lập môi trường kinh tế)

2.2 Chức năng cơ bản của quản lý kinh tế

- Khái niệm và phân loại chức năng của quản lý kinh tế

- Bản chất và nội dung các chức năng của quản lý kinh tế (Chức năng hoạch định; Chức năng tổ chức; Chức năng lãnh đạo và Chức năng kiểm soát)

2.3 Nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế

- Bản chất và cơ sở hình thành nguyên tắc quản lý kinh tế

- Nội dung của các nguyên tắc quản lý kinh tế (Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị

và kinh tế; Nguyên tắc tập trung và dân chủ; Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế; Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả…)

- Yêu cầu vận dụng các nguyên tắc quản lý kinh tế

2.4 Phương pháp quản lý kinh tế

- Bản chất và nội dung của các phương pháp quản lý kinh tế (Phương pháp hành chính; Phương pháp kinh tế; Phương pháp giáo dục)

Trang 2

- Vai trò và yêu cầu trong vận dụng các phương pháp quản lý kinh tế

2.5 Công cụ quản lý kinh tế

- Bản chất và phân loại các công cụ quản lý kinh tế

- Khái niệm, đặc điểm và vai trò của một số công cụ quản lý kinh tế chủ yếu (Công cụ

kế hoạch hóa; công cụ luật pháp; các chính sách kinh tế)

2.6 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế và cán bộ quản lý kinh tế

- Khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng và những yêu cầu đối với việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế

- Các loại hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế (Cơ cấu tổ chức trực tuyến; Cơ cấu chức năng; Cơ cấu kết hợp trực tuyến - chức năng)

- Đặc điểm của lao động quản lý kinh tế; Vai trò và yêu cầu đối với cán bộ quản lý kinh

tế

2.7 Thông tin và quyết định quản lý kinh tế

- Bản chất, vai trò và những yêu cầu đối với thông tin quản lý kinh tế

- Vai trò và yêu cầu đối với quyết định quản lý kinh tế

2.8 Phần liên hệ thực tiễn: Phân tích ý nghĩa và liên hệ thực tiễn các nội dung trên

trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay

3 TÀI LIỆU ÔN TẬP

3.1 Tài liệu ôn tập chính:

- Đoàn Phúc Thanh (2000), Nguyên lý quản lý kinh tế, Phân viện Báo chí và Tuyên

truyền (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Bộ môn Quản lý kinh tế - Trường Đại học Thương mại (2017), Tập bài giảng học phần Nguyên lý quản lý kinh tế

3.2 Tài liệu tham khảo thêm:

- Lương Xuân Quỳ (2006), Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội

- Thân Danh Phúc (2015), Quản lý nhà nước về thương mại, NXB Thống kê, Hà Nội

Hà Nội, ngày 02 tháng 03 năm 2020

TRƯỞNG MÔN THI

PGS, TS Hà Văn Sự

Trang 3

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

NHỮNG KIẾN THỨC CHI TIẾT THEO ĐỀ CƯƠNG

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ

1.1 Bản chất của quản lý kinh tế

a) Khái niệm của quản lý kinh tế

Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật, quản lý chính là sự kết hợp mọi nỗ lực của con người trong hệ thống và việc sử dụng tốt của cải vật chất thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống để đạt được mục tiêu của hệ thống và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và hiệu quả nhất

Xét về mặt kinh tế xã hội, quản lý là các hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, đảm bảo cho hệ thống tồn tại, phát triển lâu dài, trang trải vốn và lao động, đảm bảo tính độc lập và cho phép thỏa mãn những đòi hỏi của chủ thể quản lý và của mọi cá nhân khác trong hệ thống

Như vậy, có thể hiểu quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống theo quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản

lý đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

Quản lý kinh tế là một lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý nói chung, song nó cũng

có những nét đặc thù riêng, xuất phát từ bản chất của quản lý kinh tế đã nêu ở trên Cụ thể:

- Quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Chủ thể quản

lý là những tổ chức và cá nhân những nhà quản lý cấp trên Đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là các tổ chức và cá nhân những nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể

và cá nhân người lao động Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, điều khiển, phối hợp, động viên, kiểm tra…

- Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cấu thành hệ thống quản lý Nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như các đơn vị kinh tế cơ sở nói riêng được xem như một hệ thống quản lý gồm 2 phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi phân hệ cũng có thể là một hệ thống phức tạp

- Quản lý kinh tế là quá trình lựa chọn và thiết lập hệ thống chức năng (tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát…), nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế

- Mục tiêu của quản lý kinh tế là trạng thái về kinh tế - xã hội do chủ thể quản lý xác định nhằm hướng đối tượng quản lý phải đạt tới sau một thời gian nhất định

Trang 4

b) Mục tiêu của quản lý kinh tế

- Mục tiêu kinh tế - kỹ thuật: Đây là mục tiêu trực tiếp và cơ bản nhất của quản lý kinh

tế Các quyết định quản lý phải nhằm vào việc khai thác tiềm năng nguồn lực như vốn, nhân lực, công nghệ, tài nguyên… để tạo ra khối lượng hàng hóa, dịch vụ cho xã hội với chất lượng, giá cả và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng Các phương pháp quản lý được vận dụng tổng hợp và linh hoạt nhằm phát huy năng lực sáng tạo của cá nhân và tập thể người lao động, tăng năng suất lao động và đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, đồng thời kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế

- Mục tiêu chính trị - xã hội: Mục tiêu của quản lý kinh tế là tạo tiền đề vật chất cho sự

ổn định và củng cố hệ thống chính trị mà trước hết là củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hơn nữa lại là một nền kinh tế đang trong quá trình mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế, vấn đề giữ vững an ninh chính trị và toàn vẹn lãnh thổ được đặt ra như một nhu cầu bức thiết Cơ chế, chính sách nói riêng và các quyết định quản lý kinh tế nói chung phải góp phần tích cực vào việc thỏa mãn nhu cầu đó

Về mặt xã hội, mục tiêu của quản lý kinh tế là phát triển con người một cách toàn diện

về trí tuệ và thể lực thông qua chính sách tạo việc làm, bảo đảm công bằng xã hội, phát triển giáo dục, y tế, cải thiện điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, giải trí cho người lao động Ngoài ra, mục tiêu quản lý kinh tế còn bao gồm sự hình thành văn hóa kinh tế cho người lao động và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái

Các mục tiêu kinh tế - kỹ thuật, chính trị - xã hội là một thể thống nhất, cùng với hệ thống các quy luật và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, chúng hình thành nên các nguyên tắc chi phối mọi hoạt động quản lý kinh tế của đất nước

c) Động lực của quản lý kinh tế

Động lực của quản lý kinh tế là những kích thích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm làm cho đối tượng quản lý nhanh chóng đạt tới mục tiêu

- Động lực kinh tế: Lợi ích vật chất là động lực trực tiếp của quản lý kinh tế bởi nó kích

thích các tập thể và người lao động hăng hái sản xuất kinh doanh với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Vì vậy, cần quan tâm đến lợi ích người lao động, kết hợp hài hòa các lợi ích và coi đó như một trong các nguyên tắc quan trọng của quản lý kinh tế Thông qua các chính sách lương, thưởng, thuế, lãi suất và đảm bảo các điều kiện sinh hoạt như nhà ở, học hành, đi lại…

sẽ thu hút nguồn lực về vốn và lao động trong các bộ phận dân cư để đầu tư cho sản xuất kinh doanh Ngoài ra, lợi ích kinh tế còn được thực hiện thông qua các chính sách tạo điều kiện cho công nhân được mua cổ phiếu để hưởng cổ tức trong công ty cổ phần, nông dân được giao quyền sử dụng đất, người dân được thụ hưởng các phúc lợi tập thể và phúc lợi xã hội

Trang 5

- Động lực tinh thần: Các quyết định quản lý kinh tế ngoài việc khuyến khích bằng lợi

ích vật chất còn khơi dậy lòng nhiệt tình, sự hăng hái và tự giác tham gia các hoạt động kinh tế, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và giá trị truyền thống văn hóa của đất nước cũng như của doanh

nghiệp mà người lao động sống và làm việc

Cấu thành động lực tinh thần còn bao gồm sự ghi nhận của tập thể, của xã hội cũng như nhà quản lý với công lao và thành tích người lao động đã đạt được Bên cạnh đó, việc thực hiện một cách công bằng và bình đẳng trong phân phối các thành quả do xã hội tạo ra, sự gương mẫu, liêm khiết và công minh của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, tính đồng bộ và nghiêm minh của pháp luật cũng như việc duy trì chế độ lao động chặt chẽ và nền nếp trong nội bộ doanh nghiệp… cũng là những động lực tinh thần mạnh mẽ trong quản lý kinh tế

Giữa mục tiêu và động lực quản lý kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời

Có mục tiêu đúng, tự nó sẽ biến thành động lực, ngược lại, mục tiêu sai hoặc không phù hợp sẽ triệt tiêu động lực Nếu tạo ra được động lực mạnh mẽ sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu Vì vậy, trong hoạt động quản lý kinh tế, chủ thể quản lý có thể kiểm định các quyết định quản lý của mình thông qua việc xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu và động lực quản lý

d) Đặc điểm của quản lý kinh tế

- Quản lý kinh tế vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật

Tính khoa học của quản lý kinh tế thể hiện ở chỗ có thể rút ra những khái niệm, phạm

trù, tính quy luật về sự hình thành và phát triển của các quan hệ quản lý kinh tế Từ các khái niệm, phạm trù, tính quy luật và quy luật đó, nhà quản lý vận dụng vào điều kiện cụ thể của đất nước, từng địa phương, ngành kinh tế và các đơn vị kinh tế cơ sở để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tế Mặt khác, hệ thống các mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp… về quản lý kinh tế được hình thành trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, đường lối kinh tế của Đảng và pháp luật của nhà nước, các trào lưu phát triển kinh tế của thời đại và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ hệ thống mục tiêu, nguyên tắc cấu thành khoa học quản lý kinh tế nói trên sẽ giúp cho các nhà quản lý kinh tế các cấp đề ra những giải pháp để tăng trưởng kinh tế và kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Quản lý kinh tế là một hoạt động mang tính chất thực hành Vì vậy, trong nhiều trường hợp, nhà quản lý phải xử lý những công việc, tình huống mà kiến thức, sách vở không chỉ ra, nghĩa là phải có nghệ thuật quản lý Như vậy, tính nghệ thuật của quản lý kinh tế được quyết định bởi những đặc thù của nó so với các hoạt động khác

Tính nghệ thuật trong quản lý kinh tế thể hiện ở cách thức giải quyết mối quan hệ giữa

các cơ quan quản lý các cấp cũng như phương pháp “đối nhân xử thế” trong phạm vi doanh nghiệp Ngoài ra, nền kinh tế thị trường đòi hỏi nhà quản lý phải xử lý thường xuyên những thông tin về thị trường để kịp thời đưa ra các quyết định quản lý có cơ sở khoa học Điều đó

Trang 6

cần đến một tác phong năng động, linh hoạt và quyết đoán của nhà quản lý Cũng trong nền kinh tế ấy, quy luật cạnh tranh đòi hỏi các chủ thể kinh doanh dám chấp nhận rủi ro, dám mạo hiểm để khai phá những lĩnh vực mới thu lợi nhuận cao Những tác phong và đức tính nói trên thuộc về năng khiếu, sở trường và tài nghệ của từng nhà quản lý

- Quản lý kinh tế là hoạt động dựa vào quyền uy của chủ thể quản lý

Để có thể thực hiện được các chức năng quản lý, các tổ chức và cá nhân người quản lý phải có quyền lực nhất định Quyền lực của chủ thể quản lý bao gồm: Quyền lực về tổ chức hành chính, quyền lực về kinh tế, quyền lực về trí tuệ, quyền lực về đạo đức Một cơ quan quản

lý mạnh, một nhà quản lý giỏi phải hội đủ cả bốn yếu tố quyền lực này

- Quản lý kinh tế là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý

Các quyết định quản lý kinh tế bao giờ cũng được xây dựng và ban hành bởi những tập thể và cá nhân những người quản lý cụ thể Trong khi đó, khả năng của con người có hạn ở mức độ nhất định, vì vậy hiệu quả của các quyết định quản lý tùy thuộc vào năng lực nhận thức

và vận dụng các quy luật khách quan vào điều kiện kinh tế - xã hội của chủ thể quản lý Từ đó đặt ra yêu cầu phải lựa chọn những người có đủ phẩm chất và năng lực tham gia quản lý kinh

tế ở cả phạm vi vĩ mô và vi mô

- Quản lý kinh tế là một môn khoa học ứng dụng và mang tính liên ngành

Khoa học kinh tế nói chung có nhiệm vụ phát hiện các quy luật khách quan và vận dụng chúng để phát triển kinh tế Tuy nhiên, khoa học quản lý kinh tế không chỉ dừng lại ở việc nhận thức và vận dụng hệ thống các quy luật mà quan trọng hơn là tìm ra các cách thức quản lý sao cho có thể phát triển kinh tế nhanh và hiệu quả nhất Trong quản lý kinh tế, phương pháp tác động của chủ thể quản lý phải phù hợp với đối tượng quản lý Yêu cầu về sự phù hợp đó thể hiện tính ứng dụng của khoa học quản lý kinh tế Ngoài việc hình thành các nguyên lý tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý, khoa học quản lý kinh tế còn chỉ rõ cách thức vận dụng các nguyên lý đó vào từng đối tượng và thời gian cụ thể Nói cách khác, các chức năng, nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ quản lý kinh tế sẽ được vận dụng với nội dung

và hình thức khác nhau với đối tượng quản lý trong phạm vi doanh nghiệp, ngành, vùng kinh

tế, nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ nhất định Các nguyên lý tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hoạt động kinh tế còn được bổ sung bởi những kinh nghiệm và nghệ thuật quản lý tiên tiến của lịch sử nhân loại Hơn nữa, chính khía cạnh nghệ thuật của quản lý kinh tế cũng thể hiện tính ứng dụng của môn khoa học này

Khoa học quản lý kinh tế mang tính liên ngành bởi khi nghiên cứu các quan hệ về quản

lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế, phải sử dụng kiến thức của các môn khoa học về kinh tế - xã hội và về tổ chức, điều khiển con người Trong trường hợp kinh tế học chính trị chẳng hạn, môn khoa học này giúp chủ thể quản lý nhận thức và vận dụng các quy

Trang 7

luật kinh tế để hình thành cơ chế, chính sách… phát triển kinh tế Bên cạnh đó, triết học có vai trò quan trọng trong phát hiện và giải quyết mâu thuẫn của các quan hệ quản lý Một ví dụ khác

là khoa học về tổ chức - gồm điều khiển học, lý thuyết hệ thống, lý thuyết thông tin… sẽ cung cấp kiến thức về tổ chức, điều khiển, hạch toán, kiểm tra quá trình kinh tế

1.2 Vai trò của quản lý kinh tế

a) Định hướng và điều tiết các hoạt động kinh tế

Kinh tế là một tổng thể các yếu tố sản xuất và quan hệ vật chất của con người phát sinh trong quá trình sản xuất trực tiếp, phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất ở những giai đoạn nhất định của xã hội loài người Trong nền kinh tế, hoạt động kinh tế có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, từ Nhà nước đến các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp trong những lĩnh vực khác nhau và các chủ thể này khác nhau về sở hữu và lợi ích kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, sự khác biệt về lợi ích kinh tế có thể gây nên sự mất cân đối và

ổn định của hệ thống kinh tế và hệ thống kinh tế không thể đạt được mục tiêu đã đề ra

Thông qua việc xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, thiết lập các nguyên tắc quản lý kinh tế, công cụ quản lý kinh tế, thông tin kinh tế… chủ thể quản lý tác động và chi phối hoạt động quản lý và quá trình lao động sản xuất kinh doanh, nhằm định hướng đối tượng quản lý hành động theo nguyên tắc và đạt được mục tiêu đã xác định, đảm bảo sự phát triển mang tính cân đối và ổn định của hệ thống kinh tế Chẳng hạn như Nhà nước thực hiện việc xác định định hướng hoạt động của nền kinh tế trong từng thời kỳ, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành, lĩnh vực, cũng như trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể Đối với phạm vi vi mô, chủ thể quản lý trong các doanh nghiệp cũng phải điều tiết, kiểm soát hành vi của các bộ phận, các đơn vị khác nhau trong doanh nghiệp mình hướng tới việc thực hiện mục tiêu chung mà doanh nghiệp đã đề ra

b) Đảm bảo tăng trưởng và phát triển của hệ thống kinh tế

Quản lý kinh tế có thể coi như là một nguồn lực quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống kinh tế Có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau để phân loại nguồn lực trong quản lý kinh tế như: theo hình thái biểu hiện có nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình, theo nguồn hình thành có nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế, theo khả năng tái tạo có nguồn lực có khả năng tái tạo được và nguồn lực khó hoặc không có khả năng tái tạo… Theo nghĩa hẹp, nguồn lực kinh tế có thể được hiểu là tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, yếu tố con người Theo nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu là toàn bộ các yếu tố vật chất và tinh thần tạo nên sức mạnh cho sự phát triển của hệ thống kinh tế

Dù phân loại nguồn lực theo tiêu chí nào, hiểu nguồn lực theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì nguồn lực không tự nó tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế, mà sự đóng góp của những nguồn lực này trong việc tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế phụ thuộc rất lớn vào chủ thể

Trang 8

quản lý khai thai thác và sử dụng các nguồn lực này ra sao Thực tế nhiều quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên, được ví như “rừng vàng biển bạc”, lực lượng lao động dồi dào, tiềm năng về vốn lớn, sở hữu khoa học hiện đại… nhưng vẫn là những quốc gia lạc hậu, chậm phát triển Ngược lại, không ít quốc gia hạn chế về tài nguyên thiên nhiên, thậm chí bị sự đe dọa từ thiên nhiên đối với hoạt động kinh tế, lực lượng lao động hạn chế… nhưng vươn lên trở thành những cường quốc về kinh tế trên thế giới Sự thành công đó chỉ có thể lý giải là nhờ vào những nỗ lực phi thường và nghệ thuật trong quản lý kinh tế Nếu như ở thế kỷ XIX, người ta

so sánh sự giàu có, văn minh giữa các quốc gia bằng các chỉ tiêu về số lượng dầu mỏ, vàng, than đá, lao động… thì ngày nay được thay thế bằng hàm lượng giá trị, hàm lượng trí tuệ của sản phẩm và các chỉ tiêu nhân văn Điều đó là minh chứng rõ nhất khẳng định, quản lý kinh tế đối với nguồn lực kinh tế góp phần tạo ra tăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế quốc dân

Tương tự như vậy, dưới góc độ doanh nghiệp, bài học thành công của nhiều doanh nghiệp trên thương trường là biết cách khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nhất các yếu tốt nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình phát triển, đầu tư thỏa đáng cho nhân tố con người, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ của đội ngũ những người làm công tác quản lý và người lao động

c) Tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng cho tất cả các thành viên của hệ thống kinh tế

Quản lý kinh tế được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra Để đạt được hiệu quả kinh tế cao, hoạt động quản lý không phải chỉ dừng lại ở việc phân công, chỉ huy, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm… mà còn phải thể hiện vai trò tạo một môi trường thuận lợi, bình đẳng để tất cả các thành viên trong hệ thống kinh tế phát huy đến mức tối đa tính chủ động, sáng tạo trong quá trình hoạt động

Trên góc độ vĩ mô, trong quá trình thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước một mặt phải quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhưng mặt khác cũng phải có cơ chế, khuôn khổ pháp luật, sân chơi để tăng tính chủ động, tích cực của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Có như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh mới có hiệu quả và đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế

Trên góc độ vi mô, bằng những hình thức, phương pháp, công cụ quản lý…doanh nghiệp sẽ khơi dậy, phát huy lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm của người lao động Các hình thức, phương thức, công cụ quản lý càng phù hợp sẽ càng tạo ra nhiều lợi ích (cả vật chất lẫn tinh thần) thì tính tích cực sự sáng tạo của người lao động càng được phát huy

Như vậy, quản lý kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của hệ thống kinh tế Sự phân tích về những thất bại trong hoat động kinh doanh của doanh nghiệp, sự yếu

Trang 9

kém, trì trệ của nền kinh tế cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý kinh tế kém hiệu quả Các doanh nghiệp thành công trên thương trường và các nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững nếu công tác quản lý được tiến hành một cách khoa học và luôn được cải tiến phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế khu vực và thế giới

2 CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ

2.1 Khái niệm và phân loại chức năng của quản lý kinh tế

a) Khái niệm chức năng của quản lý kinh tế

Do sự phân công chuyên môn hóa các hoạt động quản lý nên mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi bộ phận quản lý sẽ đảm nhận các chức năng khác nhau Đó là tập hợp những nhiệm vụ quản lý mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động quản lý Đối với ngành kinh tế, mục đích của quản lý là nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế -

xã hội nhất định đã đề ra Để đạt được những mục tiêu đó, các chủ thể quản lý phải thực hiện hàng loạt hoạt động, tiến hành hàng loạt công việc khác nhau Toàn bộ khối lượng và trình tự các hoạt động hay công việc đó sẽ phản ánh chức năng của quản lý kinh tế

Như vậy, có thể hiểu chức năng quản lý kinh tế là tập hợp các hoạt động quản lý mang tính tất yếu của chủ thể quản lý, nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hóa các hoạt động quản

lý kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu Các chức năng này chính là căn cứ để chủ thể quản lý kinh tế

tổ chức bộ máy, xác định nội dung, công cụ và phương pháp quản lý phù hợp, trên cơ sở đó

điều hành hệ thống quản lý một cách hiệu quả

b) Phân loại chức năng của quản lý kinh tế

Chức năng của quản lý kinh tế có nhiều cách phân loại căn cứ vào các tiêu thức khác nhau tùy theo mục tiêu nghiên cứu Có thể phân loại các chức năng này theo cấp độ, lĩnh vực hay các giai đoạn quản lý

* Phân loại theo cấp độ quản lý: Căn cứ vào cấp độ quản lý, chức năng quản lý kinh tế

được phân thành chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh

- Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý ở tầm vĩ mô, là hình thức biểu hiện phương pháp, nội dung và giai đoạn tác động có chủ đích của nhà nước lên đối tượng hay khách thể quản lý Nội dung cụ thể của chức năng quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm: Định hướng sự phát triển của nền kinh tế, tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế, kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh tế

- Chức năng quản lý sản xuất kinh doanh là chức năng của các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế Nội dung cụ thể của chức năng quản lý sản xất kinh doanh bao

gồm: Hoạch định các chiến lược, kế hoạch hoạt động, thực hiện một cách hiệu quả các chiến

lược, kế hoạch đã hoạch định và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị

Trang 10

* Phân loại theo lĩnh vực quản lý: Nền kinh tế được chia thành nhiều lĩnh vực khác

nhau, các đơn vị cơ sở cũng phải tiến hành nhiều loại hoạt động khác nhau nên để bao quát được các cấp quản lý trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, chức năng quản lý kinh tế được phân thành các lĩnh vực sau:

- Chức năng quản lý tài chính

- Chức năng quản lý khoa học và công nghệ

- Chức năng tổ chức bộ máy và công tác nhân sự

- Chức năng điều hành sản xuất, kinh doanh

- Chức năng marketing

* Phân loại theo các giai đoạn của quá trình quản lý: Theo giai đoạn hay trình tự của

quá trình quản lý, quản lý kinh tế bao gồm các chức năng sau:

- Chức năng hoạch định

- Chức năng tổ chức

- Chức năng lãnh đạo

- Chức năng kiểm soát

Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến khi xem xét nội dung, vai trò của từng chức năng của quản lý kinh tế và là cách tiếp cận xuyên suốt nội dung học phần này

2.2 Bản chất và nội dung các chức năng của quản lý kinh tế

a) Chức năng hoạch định

Chức năng hoạch định của quản lý kinh tế là quá trình xác định nhiệm vụ, mục tiêu, phương pháp và phương tiện nhằm đạt mục tiêu nhất định của toàn bộ nền kinh tế hoặc của các

cơ sở sản xuất kinh doanh

Đây là chức năng đầu tiên, cơ bản nhất trong chức năng quản lý theo giai đoạn, nó là tiền đề, là điều kiện của mọi quá trình quản lý, là cơ sở của các chức năng còn lại

Để làm tốt chức năng hoạch định, chủ thể quản lý phải có kỹ năng và trình độ để phân tích một cách logic, chính xác sự vật, hiện tượng kinh tế liên quan để tạo ra các chỉ định hướng phát triển của hệ thống quản lý trong tương lai; Tìm hiểu kỹ lưỡng môi trường diễn ra hoạt động kinh tế để xác định mục tiêu chương trình hành động trong tương lai đồng thời lựa chọn đúng đắn phương tiện, bước đi cơ bản của tổ chức kinh tế trong thời gian cụ thể

Nội dung của chức năng hoạch định

Nội dung chính của chức năng hoạch định bao gồm việc ấn định các mục đích, mục tiêu, chiến lược, chính sách, chương trình, dự án và ngân sách mà tổ chức phải thực hiện Theo trình tự, quá trình hoạch định sẽ bao gồm việc dự báo phát triển kinh tế và việc lập kế hoạch để đạt được mục tiêu, chiến lược… đã ấn định đó Cụ thể:

Trang 11

- Chức năng dự báo: Đây là chức năng vô cùng quan trọng ở cả ba cấp độ: nền kinh tế,

ngành kinh tế và các đơn vị kinh tế cơ sở Hoạt động kinh tế luôn diễn ra trong môi trường thay đổi không ngừng nên cần dự báo xu hướng tác động của môi trường và hướng vận động của nền kinh tế nhằm phát hiện và tận dụng những cơ hội, phát huy tác động tích cực đồng thời nhận diện để vượt qua những thách thức và khắc phục tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài

Thực hiện chức năng dự báo chính là nhận định, đoán trước các quy trình, hiện tượng kinh tế có thể xảy ra trong tương lai, bao gồm dự báo về các yếu tố cần thiết như: thị trường, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, dân số, sự biến động của nền kinh tế khu vực và thế giới,…

Muốn đảm nhận tốt chức năng hoạch định, những thông tin dự báo trên phải khoa học, kịp thời, phản ánh đủ cả về lượng và chất, cả trước mắt và lâu dài,… sao cho chủ thể quản lý kinh tế có thể căn cứ vào đó hoạch định chiến lược, kế hoạch và giải pháp phát triển kinh tế cho giai đoạn tới Quá trình này đòi hỏi nhà quản lý phải có chuyên môn, kinh nghiệm và đầy

đủ phương tiện phục vụ cho công tác dự báo Những yêu cầu trên luôn tỷ lệ thuận với mức độ thay đổi của môi trường và sự biến động của nền kinh tế Điều đó đòi hỏi nhà quản lý luôn cập nhật sự thay đổi và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cũng như trang bị đầy đủ những yếu tố cần thiết đối với công tác dự báo

- Chức năng kế hoạch: Sau khi đã nhận diện, tiên đoán được xu hướng phát triển kinh tế

cũng như các hiện tượng, diễn biến kinh tế có thể xảy ra trong tương lai nhờ chức năng dự báo, chủ thể quản lý sẽ căn cứ vào đó để lập kế hoạch hoạt động Đó là các quyết định của chủ thể quản lý về mục tiêu, biện pháp và các đảm bảo vật chất cần thiết để thực hiện mục tiêu trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trong kế hoạch chỉ rõ phải làm gì và làm như thế nào để phát triển kinh tế của một đơn vị kinh tế hoặc một ngành, một địa phương hoặc của quốc gia

Thực hiện chức năng kế hoạch chính là tiến hành phân tích thời cơ và thách thức, tác động tích cực và tiêu cực, thậm chí phân tích cả những thành công và thất bại của nền kinh tế trước đó để xác định mục tiêu đồng thời xây dựng chương trình hành động với phương án, phương tiện và lộ trình tương ứng nhằm thực hiện mục tiêu đó

Việc xây dựng kế hoạch cần được thực hiện trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu như: lấy kết quả dự báo làm luận cứ khoa học, căn cứ và hướng vào thị trường, kế hoạch phải có khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường và đóng góp vai trò trong việc tạo dựng cũng như duy trì giá trị tinh thần và truyền thống của doanh nghiệp hoặc ngành kinh tế, đảm bảo tính

ổn định tương đối, phân định rõ ràng chức năng kế hoạch vĩ mô và vi mô, hệ thống mục tiêu phải khoa học, chuẩn xác và gắn với mục tiêu xã hội

Trang 12

b) Chức năng tổ chức

Chức năng tổ chức của quản lý kinh tế là việc thiết lập bộ máy quản lý trong đó gồm nhiều bộ phận được chuyên môn hóa, có liên hệ với nhau nhằm thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh tế vì mục tiêu chung

Thực chất, tổ chức là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa chúng Đây là một chức năng quan trọng, không thể thiếu trong quản lý kinh tế

Các nhà quản lý phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của hoạt động kinh tế, năng lực của cán bộ đồng thời tiếp thu kinh nghiệm của thế giới để không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý

từ các cơ sở kinh tế đến tổng thể nền kinh tế quốc dân

Nội dung của chức năng tổ chức

Chức năng tổ chức bao gồm hai nội dung chính là xây dựng cơ cấu tổ chức trong các doanh nghiệp hoặc ở các cấp, các ngành trong nền kinh tế và thiết lập mối quan hệ giữa các cấp các ngành đó trong quá trình thực hiện mục tiêu chung của quản lý kinh tế

- Chức năng xây dựng cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế được hiểu là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn kinh tế nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau, nhằm thực hiện các chức năng

quản lý và phục vụ mục đích chung của hệ thống kinh tế Cơ cấu đó được xây dựng trên cơ sở

kế hoạch phát triển của các bộ phận trong doanh nghiệp hoặc của các cấp các ngành

Chỉ khi đảm nhận tốt chức năng xây dựng cơ cấu tổ chức mới có thể tạo ra lực lượng cần thiết để tiến hành chức năng hoạch định trước đó cũng như chức năng lãnh đạo và kiểm

soát trong các giai đoạn, trình tự quản lý tiếp theo

Bên cạnh phải đảm bảo yêu cầu chuyên môn đối với người quản lý, việc xây dựng cơ cấu tổ chức phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản như: Phải căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế mà kế hoạch đã đề ra, phải đảm bảo tính kinh tế, phải phối hợp cả hai yếu tố ổn định và biến đổi, phải có tính linh hoạt để có thể thích ứng với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong hệ thống và ngoài môi trường

- Chức năng thiết lập mối quan hệ trong cơ cấu tổ chức:

Thiết lập mối quan hệ trong cơ cấu tổ chức là việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế đảm bảo kết hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, các cấp, các khâu quản lý thông qua việc kết hợp hữu hiệu hành động theo cả chiều dọc và chiều ngang với số lượng khâu, cấp quản lý

là ít nhất có thể

Chức năng này bao gồm việc xác định những công việc quản lý cần được thực hiện để hoàn thành những nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch như: thiết kế quá trình quản lý, phân chia công việc, quy định quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi người, xác định tính chất của các mối quan

Trang 13

hệ qua lại giữa các bộ phận và trong nội bộ từng bộ phận nhằm mục đích đảm bảo một sự hợp tác có hiệu quả

Việc thực hiện chức năng thiết lập mối quan hệ trong cơ cấu tổ chức phải đảm bảo tốt sự phối hợp các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong hệ thống trên cơ sở bảo đảm tính chính xác của tất cả các thông tin được sử dụng trong hệ thống Bên cạnh đó cần đáp ứng được các yêu cầu như: Đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận và với hệ thống bên ngoài; Mỗi cán bộ một cấp hoặc một khâu quản lý nào đó có thể độc lập giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng của mình Bên cạnh việc phân phối và cụ thể hóa các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với số lượng nhân sự của từng bộ phận, cần xây dựng điều lệ, thủ tục, quy tắc, lề lối làm việc nhằm đảm bảo các bộ phận dễ dàng phối hợp để đạt hiệu quả cao

Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ giúp cơ cấu quản lý có tính năng động cao, luôn luôn đi sát

và phục vụ lợi ích của hệ thống kinh tế

c) Chức năng lãnh đạo

Lãnh đạo trong quản lý kinh tế là cách thức, nghệ thuật tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý (tập thể và người lao động) Nó bao gồm các hoạt động chỉ huy, phối hợp, liên kết các bộ phận và chủ thể sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế cũng như nội bộ một doanh nghiệp để thực hiện kế hoạch đã xây dựng

Chức năng lãnh đạo bao gồm quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý kinh tế Đó là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý tác động lên hành vi của các đối tượng quản lý một cách có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu đã đề ra của hệ thống Chức năng này có vai trò phối hợp, liên kết các chức năng khác của quản lý

Trong quản lý kinh tế, nếu đã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức tốt bộ máy quản lý nhưng không có sự lãnh đạo thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững gắn bảo đảm công bằng xã hội cũng sẽ không thể trở thành hiện thực

Nội dung của chức năng lãnh đạo

Trong quản lý kinh tế, để thực hiện chức năng lãnh đạo, chủ thể quản lý phải ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó

- Chức năng ra quyết định:

Tùy từng theo mức độ đơn giản hay phức tạp của vấn đề quyết định mà số lượng và trình tự các bước là khác nhau nhưng thông thường thì chức năng này được được thực hiện thông qua ba bước chính là phát hiện vấn đề, chuẩn bị quyết định và ra quyết định Bên cạnh đó, nội dung quyết định cũng có sự khác nhau giữa quản lý nhà nước và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở nhưng về cơ bản, nội dung của quyết định tập

Trang 14

trung vào việc trả lời những câu hỏi về: Các hoạt động kinh tế phải tiến hành; Chủ thể thực hiện hoạt động kinh tế và nhiệm vụ, quyền hạn của họ; Phương pháp, phương tiện, thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động kinh tế; Triển vọng và hậu quả có thể có của quyết định; Và phương án xử lý các trường hợp cản phá, chống đối quyết định

Ra quyết định là công việc thường xuyên, hàng ngày của nhà quản lý các cấp Chức năng này có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển của hệ thống kinh tế tương ứng bởi nếu quyết định đúng sẽ đem lại hiệu quả, niềm tin, sự ổn định và phát triển, ngược lại nếu quyết định sai sẽ gây tổn thất, giảm sút hoặc mất niềm tin, kìm hãm sự phát triển của hệ thống kinh tế đó

Việc ra quyết định luôn gắn liền với quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý và được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền Hiện nay, trường hợp ủy quyền đang trở nên ngày càng phổ biến bởi nó được coi là một công cụ sắc bén của quản lý và là phong cách lãnh đạo dân chủ

Để thực hiện tốt chức năng ra quyết định, nhà quản lý phải có quyền uy, phát huy được quyền lực quản lý của mình Tức là phải tận dụng được mức độ, phạm vi chi phối và khống chế cho phép của các cán bộ quản lý và lãnh đạo đối với con người và phạm vi nhất định trong hệ thống, tránh được tình trạng quyền lực quản lý giả tạo hoặc quyền lực không tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý cũng như tình trạng quyền lực không gắn với lợi ích tương ứng

- Chức năng tổ chức thực hiện quyết định:

Cũng như khi ra quyết định, tùy vào mức độ phức tạp của quyết định quản lý mà việc tổ chức thực hiện nó sẽ trải qua số lượng và trình tự tiến hành tương ứng nhưng nhìn chung chức năng này đều bắt đầu bằng việc truyền đạt quyết định; Tiếp đó là lập kế hoạch và bố trí nguồn lực thực hiện quyết định và cuối cùng là kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và tổng kết việc thực hiện quyết định quản lý kinh tế Các nội dung của chức năng bao gồm:

+ Phối hợp, liên kết các bộ phận cấu thành của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung nhằm tạo ra hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng giữa các bộ phận đó

+ Phân công công việc, bố trí con người vào các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đồng thời liên kết họ trong một chỉnh thể

+ Kết hợp các yếu tố tài chính, lao động, kỹ thuật, công nghệ, nguyên vât liệu…để tiến hành sản xuất, kinh doanh với hiệu quả cao nhất

+ Hướng dẫn các cơ quan quản lý và những người dưới quyền thực hiện các quyết định quản lý kinh tế, đồng thời dẫn dắt các chủ thể kinh tế khai thác, thâm nhập thị trường và các lĩnh vực kinh doanh mới

Trang 15

+ Tạo ra động lực để khuyến khích các cấp, các ngành và những người lao động phát huy khả năng sáng tạo để tăng năng suất lao động, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh tế

Để thực hiện tốt những nội dung trên, bên cạnh quyền uy của mình, nhà lãnh đạo phải mạnh dạn phân cấp cho người dưới quyền trên cơ sở phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn

và quyền lợi của mỗi người Bên cạnh đó, họ phải thông đạt được chính xác quyết định quản

lý, bao gồm nội dung, mục tiêu, yêu cầu và các định mức cần thiết; nhà quản lý phải có tác phong linh hoạt, nhạy bén trong việc phán đoán và xử lý tình huống để kịp thời đối phó với mọi tác động từ môi trường bên ngoài làm cản trở sự phát triển của đơn vị kinh tế cơ sở

d) Chức năng kiểm soát

Chức năng kiểm soát là việc căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu để theo dõi, xem xét và đánh giá công việc có được thực hiện đúng và tốt không đồng thời chỉ ra ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục

Trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị cơ sở nói riêng, các chủ thể quản lý kinh tế cần phải theo dõi, xem xét hướng, tiến độ và kết quả thực hiện kế hoạch nhằm tránh những sai sót, nhầm lẫn để kịp thời ngăn chặn những sai phạm cũng như tìm ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục tình trạng đó đồng thời điều chỉnh những yếu tố bất hợp lý

Kiểm soát là yêu cầu khách quan và là một chức năng không thể thiếu của quản lý kinh

tế Nếu làm tốt chức năng này, toàn bộ đội ngũ mới có thể cùng tiến bộ và mục tiêu của hệ thống mới được thực hiện Hay nói cách khác, nhờ chức năng này mà các quá trình kinh tế được duy trì ổn định và có cơ hội để phát triển

Không chỉ đề cập đến sự kiểm soát của nhà lãnh đạo mà trong hệ thống phải luôn có sự kiểm soát lẫn nhau, giữa cấp trên với cấp dưới, thậm chí cả việc tự kiểm soát Kết quả của quá trình kiểm soát cho phép các chủ thể quản lý tự đánh giá lại mình sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh, từ đó có phương án hoàn thiện chất lượng trong quản lý để đạt chất lượng cao hơn

Nội dung của chức năng kiểm soát:

Chức năng kiểm soát là cần thiết và mục đích hướng tới là đề phòng, ngăn chặn hậu quả

do nhầm lẫn, sai sót, sai lầm của hệ thống nhằm giảm thiểu những thiệt hại do bị chệch hướng nênnội dung của chức năng bao gồm cả việc kiểm tra và điều chỉnh

- Chức năng kiểm tra:

Mục đích của việc kiểm tra là quan sát hệ thống nhằm phát hiện sự sai lệch của thực tế

so với kế hoạch, từ đó có giải pháp điều chỉnh sao cho có thể có quyết định và bước đi đúng đắn nhất….Đặc biệt là trong quản lý kinh tế vĩ mô, việc sẽ giúp nhà nước thực hiện được mục đích thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng

Trang 16

vi phạm pháp luật hoặc các chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng xã hội Nội dung kiểm tra bao

gồm:

+ Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới trong doanh nghiệp hoặc việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm hướng các hoạt động kinh tế theo đúng quỹ đạo, đồng thời đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở

+ Kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy định do địa phương, đơn vị kinh tế đề ra, nhằm phát hiện lệch lạc, qua đó lập lại kỷ cương đối với hoạt động của các bộ phận, các tập thể và từng người lao động

+ Kiểm tra tiến độ thực hiện công việc trên cơ sở các định mức về thời gian và về kinh

và phụ thuộc nhiều vào chức năng kiểm tra với hai nội dung chính:

+ Điều chỉnh, điều tiết và uốn nắn những sai sót, sai lầm, sự mâu thuẫn, vi phạm hay rối loạn trong các quá trình hoạt động hoặc phát triển kinh tế để các quá trình đó trở lại bình thường và có hiệu quả

+ Ra các quyết định bổ sung đối với những vấn đề mới nảy sinh mà bản thân kế hoạch chưa lường hết được

Để thực hiện tốt chức năng điều chỉnh này, đòi hỏi nhà quản lý các cấp phải nhạy bén và không bảo thủ đồng thời thực hiện tốt các nguyên tắc như: Chỉ điều chỉnh nếu thực sự thấy cần thiết, để đảm bảo tính ổn định cho hệ thống phát triển, giữ gìn lòng tin của các cá nhân và tập thể; Điều chỉnh đúng mức độ, tránh vội vã, nôn nóng hoặc tùy tiện, thiếu tổ chức đồng thời phải xem xét kỹ đến hậu quả của điều chỉnh

Bốn chức năng của quản lý kinh tế nói trên, mỗi chức năng đều có nội dung và yêu cầu thực hiện riêng, song chúng đều cùng nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó từng

Trang 17

chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc vào các chức năng khác Nghĩa là không những không độc lập hoàn toàn mà ngược lại, cho dù phân loại theo tiêu thức nào, các chức năng tương ứng của quản lý kinh tế đều có mối quan hệ chặt chẽ thông qua vai trò tạo tiền đề và tác động tương hỗ lẫn nhau Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ chức năng nào trong các chức năng trên đều ảnh hưởng tiêu cực (thậm chí ở mức nghiêm trọng) tới thành công của công tác quản lý kinh tế Chính vì vậy trong thực tế quản lý nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, các chức năng đều được thực hiện một cách đồng thời, đan xen thông qua các cách thức phối kết hợp nhằm đem lại hiệu lực và hiệu quả cao nhất

3 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ

3.1 Bản chất và cơ sở hình thành nguyên tắc quản lý kinh tế

a) Bản chất của nguyên tắc quản lý kinh tế

Nguyên tắc là những điều cơ bản được tổ chức đặt ra dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo Nguyên tắc quản lý kinh tế là những chuẩn mực, những quy định mang tính bắt buộc do chủ thể quản lý đặt ra và thực hiện trong quá trình quản lý kinh tế Nó giúp các nhà quản lý trả lời câu hỏi: "phải làm gì", "không

được làm gì" trong quá trình thực hiện các hoạt động quản lý kinh tế Tóm lại, nguyên tắc quản

lý kinh tế là hệ thống các quy luật khách quan được các chủ thể quản lý nhận thức và vận dụng vào điều kiện kinh tế cụ thể của đất nước nhằm thiết lập các chuẩn mực và quy định bắt buộc đối với quá trình quản lý kinh tế

Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Tính chủ quan thể hiện ở chỗ nó là sản phẩm của các tổ chức và cá nhân những người quản lý tạo ra Nhưng mặt khác do nó được hình thành trên cơ sở chủ thể quản lý nhận thức và vận dụng hệ thống các quy luật - mà trước hết là các quy luật kinh tế - nên nguyên tắc quản lý kinh tế lại mang tính khách quan và khoa học

b) Cơ sở hình thành các nguyên tắc quản lý kinh tế

- Các quy luật khách quan: Hệ thống các quy luật khách quan là cơ sở lý luận trực tiếp

hình thành các nguyên lý quản lý kinh tế Quy luật chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của hiện thực, vì vậy nguyên tắc quản lý phải đảm bảo phù hợp với quy luật Chỉ trên cơ sở tuân thủ yêu cầu của các quy luật thì nguyên tắc quản lý mới chứa đựng nội dung khoa học, đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc có hiệu quả Nói cách khác, nguyên tắc quản lý chính là phương tiện

giúp chủ thể quản lý nhận thức và vận dụng yêu cầu của các quy luật vào quá trình quản lý

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các quy luật sau đây là cơ sở trực tiếp hình thành hệ thống nguyên tắc quản lý kinh tế: Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản

Trang 18

xuất; Quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc hạ tầng; Quy luật phân phối theo lao động; Các quy luật của kinh tế hàng hóa như quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh

- Căn cứ thực tiễn: Những căn cứ thực tiễn gồm: các điều kiện kinh tế - xã hội, yếu tố

văn hóa kinh tế, các bài học kinh nghiệm

Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: tiềm lực về tài nguyên thiên nhiên, lao động, tiền vốn, khoa học – công nghệ; khả năng khai thác các nguồn lực để phát triển kinh tế; năng lực điều hành của đội ngũ các nhà quản lý Khi hoạch định chính sách quản lý nếu không chú trọng đến những yếu tố này có thể gây ra những sai lầm lệch lạc, dẫn đến các chính sách không đạt được tính khả thi

Yếu tố văn hóa kinh tế: Đó là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức, niềm tin và sự sáng tạo của tập thể và người lao động trong quá trình hoạt động kinh tế Văn hóa kinh tế biểu hiện tính đặc thù về truyền thống, đạo đức, phong tục, tập quán của một dân tộc, có tác dụng thúc đẩy sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có những đặc điểm văn hóa riêng biệt Do vậy các nhà quản lý trong quá trình hoạch định các chính sách cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với các yếu tố văn hóa kinh tế của từng quốc gia, từng địa phương

Kinh nghiệm của nhân loại: Đó là những bài học về khai thác các nguồn lực có hạn để tăng trưởng kinh tế, về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, về kết hợp các yếu tố truyền thống

và hiện đại, về mối quan hệ giữa quản lý tập trung thống nhất và bảo đảm quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở Đặc biệt là kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của các quốc gia tiên tiến, các doanh nghiệp thành đạt trên thế giới Tuy nhiên, do mỗi quốc gia đều có các đặc điểm đặc thù khác biệt nên các nhà quản lý kinh tế phải

có sự am hiểu tình hình cụ thể của quốc gia mình để có sự điều chỉnh cho phù hợp khi áp dụng các kinh nghiệm quản lý

- Mục tiêu quản lý:

Mục tiêu cơ bản nhất trong quản lý kinh tế là huy động tối đa mọi nguồn lực để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của tổ chức, phục vụ lợi ích của các thành viên trong tổ chức, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các tổ chức Quá trình quản lý kinh tế cần dựa trên mục tiêu trên để đề ra các quyết định quản lý

Mục tiêu còn tạo ra sự hỗ trợ và định hướng đối với tiến trình quản lý, là cơ sở để đo lường mức độ hoàn thành công việc Căn cứ vào mục tiêu để quản lý và quản lý vì mục tiêu, khi mục tiêu thay đổi thì nguyên tắc cũng phải thay đổi cho phù hợp Vì vậy, mặc dù nguyên tắc quản lý có tính chất tương đối ổn định nhưng không đồng nghĩa với việc "bất di, bất dịch", cứng nhắc, máy móc trong quá trình triển khai thực hiện

Trang 19

3.2 Nội dung của các nguyên tắc quản lý kinh tế

a) Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế

Thứ nhất, phát triển kinh tế là nhiệm vụ chính trị chủ yếu nhất của mọi tổ chức trong hệ

thống chính trị - xã hội Phát triển kinh tế là để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội; tạo cơ sở vật chất để phát triển các lĩnh vực văn hóa,

xã hội; củng cố an ninh quốc phòng; tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào chế độ, đưa đất nước tiến kịp các quốc gia tiên tiến trên thế giới

Thứ hai, sự thống nhất lãnh đạo của Đảng thể hiện cả về chính trị và kinh tế, không tách

rời hoặc đối lập nhau Biểu hiện cụ thể:

- Đảng hình thành quan điểm, vạch đường lối, chủ trương chiến lược phát triển kinh tế

- Đảng thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đường lối phát triển kinh tế đã được xây dựng

Thứ ba, phải phát huy vai trò điều hành, quản lý của Nhà nước trong quá trình phát triển

kinh tế bằng hệ thống chính sách, luật pháp và các công cụ kế hoạch hóa Vai trò của Nhà nước thể hiện cụ thể như sau:

- Nhà nước biến đường lối chủ trương của Đảng thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới

- Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh

- Nhà nước phải chăm lo, giải quyết vấn đề cán bộ, vấn đề lao động, vấn đề việc làm và đời sống dân cư

- Nhà nước triển khai việc thực hiện kế hoạch do Nhà nước vạch ra

- Nhà nước phải kiểm tra, tổng kết việc thực hiện kế hoạch, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội cân bằng và ổn định

b) Nguyên tắc tập trung dân chủ

Thứ nhất, Nhà nước thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể gắn liền với chế độ phân công cá nhân phụ trách

- Trong quá trình hoạch định các chính sách, vạch ra các chiến lược kinh tế của quốc gia, nếu chỉ giao cho một cá nhân chịu trách nhiệm toàn bộ thì khó có thể tìm được giải pháp

Trang 20

tối ưu, hiệu quả Do đó, cần có sự phối hợp, bổ sung và kết tinh trí tuệ, năng lực, kinh nghiệm, phong cách, bản lĩnh của mỗi cá nhân để tạo thành trí tuệ tập thể, ý chí và hành động tập thể cùng hướng tới giải quyết những vấn đề lớn, những mục tiêu chung

- Quyết định tập thể chỉ hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở đoàn kết, thống nhất cộng đồng trách nhiệm, thảo luận thực sự dân chủ, tôn trọng và phát huy năng lực của cá nhân

Vì thế, trong tập thể lãnh đạo ra quyết định cần có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa các thành viên, chọn ra người đứng đầu để thống nhất các ý kiến thảo luận và đưa ra quyết định cuối cùng

Thứ hai, vừa tôn trọng quyền lãnh đạo, quyết định của trung tâm, của cơ quan Trung ương, vừa chú trọng mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở thông qua những quy định về phân cấp quản lý

- Xuất phát từ yêu cầu duy trì và củng cố sức mạnh của tổ chức, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của mọi hoạt động quản lý, việc thực hiện một đường lối thống nhất, quyền lãnh đạo

từ một trung tâm và tính chất bắt buộc thực hiện các quyết định của cấp trên là một tất yếu

- Để phát huy năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, khuyến khích sự đối phó linh hoạt của mỗi địa phương trong những hoàn cảnh khác nhau, Nhà nước cần mở rộng tối đa sự phân cấp

và trao quyền trong quản lý Việc mở rộng phân cấp quản lý giúp các cơ sở có thể phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý kinh tế

Thứ ba, kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo vùng lãnh thổ

- Quản lý theo ngành là định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của cả nước, xây dựng cơ chế, chính sách thương mại phù hợp hệ thống pháp luật trong nước, quốc tế

và cam kết hội nhập nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại, bảo vệ sản xuất và thị trường nội địa hợp lý theo định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển

- Quản lý theo vùng lãnh thổ có nội dung quy hoạch, xây dựng và phát triển hạ tầng thương mại của địa phương hoặc vùng, cụ thể hóa chính sách kinh tế của quốc gia, huy động

và phát triển các nguồn lực để thực thi trách nhiệm quản lý kinh tế trên địa bàn lãnh thổ Địa phương có thể xây dựng những chính sách, quy định đặc thù của lãnh thổ nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh về kinh tế trên địa bàn

- Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ là biểu hiện của việc quản lý dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, giúp các chính sách được xây dựng có tính khả thi và hiệu quả hơn

Thứ tư, đảm bảo chế độ thông tin hai chiều trong quản lý

- Chế độ thông tin hai chiều trong quản lý là chế độ báo cáo thỉnh thị từ dưới lên cùng với chế độ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát từ trên xuống đảm bảo hiệu lực thực tế của các quyết định quản lý

Trang 21

- Kết hợp nắm bắt từ hai nguồn thông tin này giúp nhà quản lý có cái nhìn đa chiều, tránh phiến diện, lệch lạc dẫn đến những quyết định quản lý sai lầm Đây cũng được xem là biểu hiện của việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình quản lý kinh tế

c) Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế

Thứ nhất, phải tạo ra những "véctơ" lợi ích chung nhằm kết hợp các lợi ích kinh tế

- Trong quản lý, phải đảm bảo được sự hài hòa giữa các lợi ích: lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích bộ phận (tập thế) và lợi ích toàn xã hội Trong các lợi ích trên, lợi ích cá nhân người lao động là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất cho sự phát triển xã hội, đồng thời là cơ sở thực hiện lợi ích chung (lợi ích tập thể, lợi ích xã hội)

- Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến lợi ích người lao động mà sao nhãng lợi ích tập thể

và lợi ích xã hội thì chủ nghĩa cá nhân sẽ phát triển, thậm chí sẽ dẫn đến tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi ở một số người có chức có quyền

- Lợi ích riêng là cơ sở cho lợi ích chung, ngược lại lợi ích chung là định hướng cho việc thực hiện lợi ích riêng Lợi ích cá nhân được thỏa mãn chính đáng thì lợi ích chung mới được tôn trọng và đáp ứng Vì vậy, cần kích thích lợi ích cá nhân phải kết hợp hài hòa với lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội

Thứ hai, phải coi trọng lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần của tập thể và người lao động

- Trong khi lao động còn là một hoạt động bắt buộc đối với con người thì vấn đề khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động phải đặt lên vị trí ưu tiên thỏa đáng

- Tuy nhiên, không được coi nhẹ hoặc phủ nhận khuyến khích lợi ích tinh thần thông qua các phương pháp động viên, giáo dục chính trị tư tưởng, thưởng phạt, cất nhắc đề bạt vào các chức vụ quản lý Người quản lý phải chú ý mang lại cho người lao động quyền lợi về chính trị, về quyền tự chủ, quyền được học hành, quyền được hưởng thụ những giá trị văn hóa tinh thần của xã hội

Thứ ba, coi trọng cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

- Tùy từng trường hợp cụ thể mà nhà quản lý lựa chọn đưa ra phương án hành động nhằm đạt được mục tiêu trước mắt hay lâu dài

- Những mục tiêu cấp bách trước mắt cần ưu tiên giải quyết trước Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng cần phải quán triệt quan điểm phát triển bền vững, không chạy theo lợi ích trước mắt mà dẫn đến những hành động nóng vội, sử dụng thiếu hợp lý, không tiết kiệm các yếu tố nguồn lực trong quá trình quản lý

- Không nên vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài nhưng đồng thời cũng không

vì lợi ích lâu dài mà không giải quyết các lợi ích cấp bách trước mắt

Trang 22

Thứ tư, kết hợp hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh

- Muốn đạt được các mục tiêu như tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo sự phát triển

ổn định của các đơn vị kinh doanh, cần có sự kết hợp hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan đến hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh như: nhà nước - chủ đầu tư - người tiêu dùng, các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội như: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng

- Chỉ khi lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế được đảm bảo, họ mới có động lực để cống hiến hết mình cho sự phát triển của đơn vị và quốc gia

d) Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Thứ nhất, đầu tư có trọng điểm, tránh dàn trải

- Trong điều kiện các nguồn lực hạn chế, cần nghiên cứu lĩnh vực đầu tư mang tính ưu tiên, đầu tư kỹ thuật mới phải đi kèm với điều kiện cơ sở hạ tầng phù hợp và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tương ứng

- Tránh đầu tư chạy theo tình thế, đầu tư dàn trải, đầu tư thiếu căn bản, lâu dài mà cần coi trọng tính hệ thống và đồng bộ, nhất là đầu tư xây dựng cơ bản

Thứ hai, tiết kiệm đối với tài nguyên thiên nhiên

- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bằng các biện pháp bảo vệ và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên; có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lý, tránh lãng phí, xóa bỏ tư tưởng coi tài nguyên thiên nhiên là vô tận, đảm bảo cho phát triển trước mắt và lâu dài theo quan điểm phát triển bền vững

- Cần giữ mức khai thác tài nguyên trong phạm vi có thể tái sinh, tái tạo được đối với các nguồn tài nguyên phục hồi; xác định rõ mức khai thác sản lượng bền vững (mức khai thác vừa đủ để các nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh được) và không được phép khai thác quá sản lượng bền vững này Đồng thời, phải quản lý tốt các nguồn tài nguyên không phục hồi, sử dụng những kỹ thuật tiên tiến để giảm hao phí tài nguyên, có phương pháp tái sinh thích hợp để quay vòng sử dụng các nguồn tài nguyên không phục hồi một cách có hiệu quả nhất

Thứ ba, giảm chi phí một cách hợp lý

- Phân loại đúng các chi phí để cắt giảm cho hợp lý và hiệu quả Việc cắt giảm chi phí một cách hợp lý cần có một tầm nhìn tổng thể, tránh cắt giảm một cách tiêu cực; tăng chi phí tốt, giảm chi phí xấu; cắt giảm đúng trọng tâm và có tầm nhìn về tương lai

- Đối với các tổ chức sản xuất, cần giảm chi phí vật tư trên cơ sở áp dụng kỹ thuật mới

và quy trình sản xuất tiên tiến; cải tiến kết cấu sản phẩm, giảm trọng lượng; nâng cao chất lượng sản phẩm; sử dụng vật liệu thay thế, sử dụng vật tư nhiều lần, giảm tổn thất phế liệu…

Thứ tư, tổ chức lao động khoa học đối với lao động

Trang 23

- Tổ chức lao động khoa học đối với tất cả các loại lao động, kể cả lao động quản lý trên

cơ sở nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động, cái tiến bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ, linh hoạt…qua đó sử dụng thời gian làm việc tiết kiệm và hợp lý nhất, tối đa hóa hiệu suất công việc

- Các nhà quản lý cần sử dụng tổng thể các biện pháp tổ chức, kỹ thuật, kinh tế, an toàn, vệ sinh và tâm sinh lý dựa trên cơ sở những thành tựu khoa học và kỹ thuật, những kinh nghiệm tiên tiến nhằm sử dụng lao động hợp lý, có hiệu quả, kích thích được tính tự giác, chủ động sáng tạo của người lao động, nâng cao năng suất lao động, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn tài nguyên, tiết kiệm tối đa sức khỏe của người lao động

- Các phương hướng chủ yếu để hoàn thiện tổ chức lao động khoa học là: Cải thiện điều kiện lao động (tăng mức đầu tư thiết bị cho mỗi chỗ làm việc, bảo đảm an toàn, áp dụng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý); Phân công lao động hợp lý; Áp dụng phương thức và phương pháp lao động tiên tiến, nghiên cứu và phổ biến các kinh nghiệm tốt; nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất; Áp dụng các định mức kinh tế kỹ thuật khoa học, có chế độ lương bổng và khuyến khích khen thưởng hợp lý

3.3 Yêu cầu vận dụng các nguyên tắc quản lý kinh tế

a) Coi trọng việc hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc quản lý kinh tế

- Việc hoàn thiện hệ thống nguyên tắc quản lý kinh tế đòi hỏi phải tự giác tôn trọng và kiên trì tuân thủ các nguyên tắc

- Mặt khác, cần phát hiện những nguyên tắc không còn phù hợp, điều chỉnh bổ sung nguyên tắc quản lý kinh tế mới phù hợp với quy luật khách quan và đòi hỏi của thực tiễn vận hành nền kinh tế

b) Vận dụng tổng thể các nguyên tắc quản lý kinh tế

- Mỗi nguyên tắc đều có mục đích, nội dung và yêu cầu riêng đối với quá trình quản lý kinh tế: Nguyên tắc thống nhất sự lãnh đạo chính trị và kinh tế đảm bảo sự ổn định và an toàn cho các hoạt động quản lý cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế; Nguyên tắc tập trung dân chủ tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm khai thác tiềm năng của toàn xã hội để tăng trưởng và phát triển kinh tế; Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế tạo ra động lực và

là động lực trực tiếp của hoạt động quản lý kinh tế; đồng thời là phương tiện để thực hiện các nguyên tắc khác, nhất là nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả; Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả chỉ đạo các hoạt động quản lý kinh tế đạt tới mục tiêu

- Các chủ thể quản lý phải có sự am hiểu, nắm rõ các nguyên tắc trên để vận dụng tổng hợp các nguyên tắc quản lý kinh tế một cách linh hoạt trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, công cụ, phương pháp, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế nhằm phát huy ưu thế của từng

Trang 24

nguyên tắc, đồng thời bảo đảm các nhân tố cần thiết của quá trình quản lý kinh tế, đó là: mục tiêu, động lực, phương tiện, điều kiện, phương pháp quản lý kinh tế

c) Lựa chọn hình thức và phương pháp vận dụng nguyên tắc quản lý kinh tế phù hợp

Để lựa chọn hình thức và phương pháp vận dụng các nguyên tắc quản lý kinh tế phù hợp, nhà quản lý phải:

- Hiểu rõ nội dung và yêu cầu của các nguyên tắc quản lý kinh tế

- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực trạng kinh tế - xã hội quốc gia và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Tiếp cận kinh nghiệm và những thành tựu mới, tiến bộ của nhân loại về quản lý kinh tế để vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc trong việc đề ra các quyết định quản lý kinh tế

d) Cần có quan điểm toàn diện và hệ thống trong việc vận dụng các nguyên tắc quản

lý kinh tế

- Hệ thống nguyên tắc giữ vai trò định hướng cho việc hình thành các quyết định quản

lý, bao gồm: phương pháp, cơ chế, công cụ, tổ chức bộ máy quản lý kinh tế Chính vai trò định hướng đó đã quy định tính toàn diện và tính hệ thống của nguyên tắc quản lý kinh tế

- Điều này còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc lựa chọn các phương án đầu tư nước ngoài vào trong nước, các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, giao quyền sử dụng đất đai lâu dài cho hộ nông dân ở Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ KINH TẾ

4.1 Khái niệm và vai trò của phương pháp quản lý kinh tế

a) Khái niệm phương pháp quản lý kinh tế

Quản lý kinh tế về thực chất là quản lý con người trong lĩnh vực sản xuất và trao đổi vật chất Trong đó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, bao gồm quan hệ về kinh tế, quan hệ về tổ chức - hành chính, quan hệ về tư tưởng - tình cảm Do đó, để tổ chức, điều khiển, kiểm tra và điều chỉnh… các hoạt động sản xuất và trao đổi vật chất do con người tiến hành thì phải tác động vào những quan hệ cơ bản trên đây Cách thức tác động vào từng loại quan hệ do tính chất của từng quan hệ đó quy định

Quan hệ kinh tế trước hết là quan hệ về lợi ích vật chất, vì vậy phải tác động vào con người bằng lợi ích vật chất, tức dùng phương pháp kinh tế Quan hệ về tổ chức hành chính là quan hệ quyền uy và phục tùng, vì thế phải dùng thẩm quyền của tổ chức để tác động, tức sử dụng phương pháp hành chính Quan hệ về tư tưởng và tình cảm là những quan hệ thuộc về đời sống tinh thần của con người, nó được hình thành trên cơ sở tự nguyện, vì vậy phải tác động bằng tuyên truyền, vận động - tức là dùng phương pháp giáo dục

Trang 25

Như vậy, có thể hiểu phương pháp quản lý kinh tế là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu

b) Vai trò của phương pháp quản lý kinh tế

Trong quản lý kinh tế, vai trò của phương pháp quản lý kinh tế được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, trong đời sống xã hội, bất kỳ hoạt động nào cũng phải có phương pháp tiến

hành Với hoạt động nhận thức - tư tưởng đòi hỏi các phương pháp nhận thức như phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, toàn diện, phát triển,…; với hoạt động quản lý điều khiển thì cần đến các phương pháp tác động lên đối tượng như hành chính, kinh tế, giáo dục…

Thứ hai, phương pháp quản lý kinh tế là cách thức tác động vào con người, vì thế nếu có

phương pháp quản lý phù hợp sẽ khuyến khích các tập thể và người lao động tham gia một cách nhiệt tình và sáng tạo vào hoạt động kinh tế và sản xuất kinh doanh Sự nhiệt tình và sáng tạo đó là tiền đề để tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định và phát triển các lĩnh vực khác

Thứ ba, phương pháp là một yếu tố động cho nên có thể điều chỉnh hoặc thay đổi

phương pháp tác động cho phù hợp với sự biến đổi của đối tượng và diễn biến của tình hình để làm tăng hiệu quả quản lý, nhất là quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường Mặt khác, thông qua việc sử dụng các phương pháp quản lý sẽ giúp cho cán bộ quản lý kinh tế các cấp rèn luyện tác phong năng động, linh hoạt trong việc lựa chọn các phương pháp phù hợp, bởi vì để đạt mục tiêu quản lý có thể bằng các cách thức khác nhau Việc đánh giá cán bộ quản lý cũng lấy đó làm một trong những căn cứ quan trọng

Thứ tư, quản lý kinh tế vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Tính khoa học và tính nghệ

thuật - đặc biệt là tính nghệ thuật - được thể hiện rõ nét trong việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp quản lý Vì thế, hiệu quả của các hoạt động quản lý kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào các phương pháp tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý

Thứ năm, khoa học quản lý kinh tế là tổng thể các nguyên lý về mục tiêu, chức năng,

nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ quản lý kinh tế… Trong đó, phương pháp quản lý kinh tế có tác dụng làm cho các hoạt động quản lý kinh tế phù hợp với quy luật và nguyên tắc quản lý kinh tế Đồng thời, nó là cách thức thực hiện các chức năng quản lý kinh tế và quy định việc hình thành cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế…

4.2 Nội dung các phương pháp quản lý kinh tế

a) Phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế Đó là phương pháp mệnh lệnh đơn

phương, tức quyền uy và phục tùng, là phương pháp sử dụng các quan hệ hành chính để tác

Trang 26

động vào đối tượng quản lý, vì thế nó mang nặng tính quyền lực - quyền lực hợp pháp Phương pháp hành chính có ba đặc điểm cơ bản:

- Phương pháp hành chính chứa đựng quan hệ không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý nhưng vẫn bình đẳng trước pháp luật bởi vì quyền uy và phục tùng, mệnh lệnh đơn phương, chấp hành và điều hành trong phương pháp hành chính là theo thẩm quyền, do pháp luật quy định Như vậy, phương pháp hành chính sử dụng quyền lực nhưng là quyền lực hợp pháp

- Trong phương pháp hành chính, một bên nhân danh tổ chức, được dùng quyền lực của

tổ chức để ra các quyết định hoặc mệnh lệnh đơn phương mà không cần sự chấp thuận của bên kia

- Trong phương pháp hành chính, một bên có quyền đưa ra các yêu cầu, đề nghị; còn bên kia có quyền xem xét giải quyết hoặc bác bỏ yêu cầu, đề nghị đó

Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế gồm hai vấn đề:

Thứ nhất, tác động về mặt tổ chức bằng cách quy cách hóa, tiêu chuẩn hóa tổ chức, tiêu

chuẩn hóa các chỉ tiêu

Quy cách hóa về mặt tổ chức là thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng trên cơ sở quyền

và trách nhiệm, mục đích là để tạo ra quan hệ trên - dưới, quan hệ điều hành và chấp hành, quyền uy và phục tùng Tiêu chuẩn hóa về mặt tổ chức là tiêu chuẩn hóa và chức danh hóa hệ thống cán bộ để tạo ra chất lượng của các quan hệ trên - dưới, chấp hành và điều hành cũng như nâng cao hiệu lực của quyền uy và phục tùng Còn tiêu chuẩn hóa các chỉ tiêu là đưa ra các định mức kinh tế - kỹ thuật với tư cách là mệnh lệnh phải tuân theo

Thứ hai, tác động về mặt điều khiển bằng cách đưa ra các nghị quyết, chỉ thị, thông tư,

quyết định nhằm điều hòa, phối hợp các hoạt động kinh tế của các ngành, các cấp, các đơn vị kinh tế cơ sở

b) Phương pháp kinh tế trong quản lý kinh tế

Phương pháp kinh tế là phương pháp sử dụng các hình thức kinh tế khách quan để tác động đến lợi ích, dùng lợi ích và thông qua lợi ích để định hướng, hướng dẫn và thúc đẩy các hoạt động kinh tế hướng vào những mục tiêu của quản lý kinh tế Phương pháp kinh tế có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Phương pháp kinh tế được thực hiện thông qua việc sử dụng các hình thức kinh tế khách quan

- Phương pháp kinh tế gắn liền với việc sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tức là gắn liền với hoạch toán kinh doanh

Trang 27

- Phương pháp kinh tế đặt người lao động và tập thể lao động vào sự tự lựa chọn nội dung và phương thức hoạt động thông qua sự quan tâm của họ đến lợi ích vật chất, vì lợi ích vật chất thiết thân mà hoạt động có hiệu quả

Phương pháp kinh tế có hai cách tác động cơ bản:

Thứ nhất, tác động bằng cách tạo ra sự quan tâm về lợi ích thông qua các kế hoạch,

chiến lược và các chính sách phát triển kinh tế của chủ thể quản lý Chẳng hạn, để đạt mục tiêu công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn thì kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, đưa công nghiệp

về nông thôn, chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách thuế, chính sách giá cả… của Nhà nước phải đủ sức hấp dẫn Qua đó thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đưa vốn và kỹ thuật về nông thôn, hướng vào phục vụ nông nghiệp nông thôn

Thứ hai, tác động bằng cách quy cách hóa, tiêu chuẩn hóa các định mức như định mức

khoán, định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức tiền lương, định mức thuế, định mức về doanh thu và lợi nhuận… Các định mức này trực tiếp tác động đến lợi ích thiết thân của chủ đầu tư, người lao động hay của những người thuê, nhận khoán… tạo ra những kích thích lợi ích vật chất như là những động lực thúc đẩy hay kìm hãm các quá trình kinh tế thông qua các quyết định có tính lựa chọn về đầu tư và việc làm Chẳng hạn, với các mức thuế suất và lãi suất ưu đãi nào đó của Nhà nước sẽ đưa đến nhiều quyết định đầu tư vào các khu vực vùng sâu, vùng

xa của đất nước

c) Phương pháp tâm lý giáo dục trong quản lý kinh tế

Phương pháp tâm lý giáo dục trong quản lý kinh tế là phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm, đạo đức của người lao động để nâng cao tính tự giác, nhiệt tình của họ trong công việc

Nội dung của phương pháp tâm lý giáo dục bao gồm các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, trang bị tri thức, niềm tin cho người lao động về công việc và nghề nghiệp

cũng như về tương lai của công ty, của ngành, địa phương cũng như của đất nước Đây chính là

cơ sở để hình thành tình yêu nghề nghiệp và sự chủ động sáng tạo trong lao động, sự gắn bó với công việc được giao

Thứ hai, làm rõ vị trí, vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của từng người, từng bộ phận để

nâng cao ý thức của họ đối với công việc và tổ chức kinh tế

Thứ ba, cung cấp thông tin đầy đủ, thường xuyên về công việc và tổ chức Tôn trọng,

đánh giá công bằng là cơ sở đảm bảo cho sự ổn định và sức sống lâu dài của một trật tự kinh tế

Thứ tư, làm tăng ý nghĩa cuộc sống của người lao động bằng cách giải quyết tốt các

quan hệ chủ yếu của người lao động, khiến họ gắn bó với tập thể và sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm với đơn vị trong những lúc khó khăn Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải hiểu

rõ tâm sinh lý con người và vận dụng các quy luật tâm sinh lý con người trong giao tiếp, ứng

Ngày đăng: 21/04/2022, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm